Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN YÊN PHONG

TỈNH BẮC NINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 215/2023/HSST

Ngày 21/12/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Ngô Xuân Ninh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Đại và ông Kiều Văn Dậu.

Thư ký phiên toà: Bà Tạ Thị Bích Ngọc, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Phong.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) huyện Yên Phong tham gia phiên tòa: Ông Hạ Gia Thuận, Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 203/2023/HSST ngày 28/11/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 195/2023/QĐXXST-HS ngày 06/12/2023, đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Văn C, sinh ngày 23/01/2005.

    Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Lớp 6/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1982 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1984; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Vợ, con: Chưa có;

    Tiền án, tiền sự: Không;

    Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/7/2023 đến ngày 07/9/2023 được thay thế biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh. Hiện bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

  2. Nguyễn Đức N, sinh ngày 20/11/2005.

    Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Lớp 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Nguyễn Đức B, sinh năm 1983 và bà Nguyễn Thị T1 (đã chết); Gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ hai; Vợ, con: Chưa có;

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/7/2023 đến ngày 07/9/2023 được thay thế biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh. Hiện bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

  3. Ngô Việt A, sinh ngày 28/10/2006.

    Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Lớp 9/12; Nghề nghiệp: Chưa; Con ông Ngô Văn C1, sinh năm 1978 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1980; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai; Vợ, con: Chưa có;

    Tiền án, tiền sự: Không;

    Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/7/2023 đến ngày 07/9/2023 được thay thế biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh. Hiện bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

  4. Tô Đức A1, sinh ngày 09/6/2007.

    Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Nơi ĐKHKTT: Số nhà B, M, phường N, Thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; Hiện trú tại: Khu phố K, phường K, Thành phố B, tỉnh Bắc Ninh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Lớp 10/12; Nghề nghiệp: Học sinh; Con ông Tô Văn T2, sinh năm 1980 và bà Bùi Thị H1, sinh năm 1983; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ hai; Vợ, con: Chưa có;

    Tiền án, tiền sự: Không;

    Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/7/2023 đến ngày 07/9/2023 được thay thế biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh. Hiện bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

Người đại diện hợp pháp của bị cáo Việt A2: Bà Ngô Thị L1, sinh năm 1980. Có mặt.

Trú tại: Thôn Đ, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh.

Người đại diện hợp pháp của bị cáo N: Ông Nguyễn Đức B, sinh năm 1983. Có mặt.

Trú tại: Thôn Đ, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh.

Người đại diện hợp pháp của bị cáo Đức A3: Bà Bùi Thị H1, sinh năm 1983. Có mặt.

Nơi ĐKHKTT: Số nhà B, M, phường L, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.

Hiện trú tại: Khu phố K, phường K, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh.

Người bào chữa cho bị cáo Việt A2, bị cáo N: Bà Phan Thị Thu H2-Trợ giúp viên pháp lý-Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh B. Có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo Đức A3: Bà Đặng Thị H3-Trợ giúp viên pháp lý-Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh B. Có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Như K, sinh năm 1974. Vắng mặt.

Trú tại: Thôn T, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 15/7/2023, nhận được tin báo của quần chúng nhân dân cung cấp về việc: Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 15/7/2023 có một số đối tượng đi xe mô tô đuổi đánh nhau và ném vỏ chai bia bằng thủy tinh vào một số người dân tại khu vực ngã tư thuộc thôn T, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh trật tự tại địa phương. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, xác minh vụ việc.

Ngày 18/7/2023, Ngô Việt A, sinh ngày 28/10/2006 và Nguyễn Đức N, sinh ngày 20/11/2005; cùng trú tại thôn Đ, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh đến Công an huyện Y đầu thú, khai nhận hành vi phạm tội của bản thân. Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã tiến hành bắt khẩn cấp Nguyễn Văn C, sinh ngày 23/01/2005; trú tại thôn Đ, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh và Tô Đức A1, sinh ngày 09/6/2007, đăng ký hộ khẩu thường trú tại: Số nhà B M, phường L, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; chỗ ở hiện tại: khu phố K, phường K, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh.

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y triệu tập: Vương Văn H4, sinh ngày 16/5/2008; ở thôn P, xã D, huyện Y; Nguyễn Văn N1, sinh ngày 25/09/2009; Nguyễn Đức T3, sinh ngày 01/08/2008; Ngô Nhật A4, sinh ngày 23/08/2007; Trần Văn Đ, sinh ngày 03/07/2008 và Nguyễn Tiến M, sinh ngày 05/11/2008 đều ở thôn Đ; N, sinh ngày 27/10/2009 ở thôn P, xã D, huyện Y, Ngô Trung A5, sinh ngày 07/11/2009 ở khu phố K, phường K, thành phố B và Trần Khắc H5, sinh ngày 16/09/2007 ở khu phố T, phường K, thành phố B để làm rõ nội dung vụ việc.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y, các đối tượng khai nhận như sau:

Khoảng 18 giờ ngày 15/07/2023, Vương Văn H4 cùng Nguyễn Đức T3 và Nguyễn Văn N1, sinh ngày 25/09/2009; đều ở thôn Đ, xã T, huyện Y rủ nhau đi sang thôn Đ, xã T, huyện Y sửa xe đạp điện của T3 nhưng do quán đông khách nên H4, T3, N1 không sửa được xe và đi về. Khi cả ba đến khu đất mới thuộc thôn T, xã T, huyện Y thì gặp một nhóm ba người thanh niên gồm Bùi Nguyễn Tiến Đ1, sinh ngày 22/09/2009; Nguyễn Việt D, sinh ngày 25/06/2009 và Nguyễn Văn T4, sinh năm 2009 đều ở thôn T đang ngồi ở vỉa hè. H4 cho rằng D nhìn đểu nên H4 và T3 xuống xe đi đến chỗ D và Đ1. H4 dùng tay tát và dép đánh 01 cái vào mặt D. T3 dùng tay đấm vào người Đ1 01 cái và dùng chai nước lọc đang cầm hất vào mặt T4 và Đ1. Sau đó, H4 và T3 lên xe đạp điện để N1 chở đi về thôn Đ. Sau khi bị nhóm của H4 đánh, Đ1, D và T4 đi về sân bóng thôn T thì gặp Nguyễn Tiến Đ2, sinh năm 2003; Nguyễn Việt Y, sinh năm 2004 (anh ruột của D) và Nguyễn Tuấn T5, sinh năm 2005 đều ở thôn T kể lại sự việc bị nhóm H4 đánh. Nghe xong, Đ2, Y, T5, Đ1, D và T4 (sau đây gọi chung là nhóm “Thiểm Xuyên”) sử dụng 03 xe mô tô đuổi theo H4, T3 và N1. Nhóm H4, T3 và N1 chạy đến quán bia của anh Nguyễn Văn N2, sinh năm 1984 ở thôn Đ, xã T thì bỏ xe đạp điện của T3 ở ngoài đường rồi chạy vào trong quán bia nhà anh N2. Nhóm “Thiểm Xuyên” đi vào trong quán, T5 cầm 01 chiếc điếu cày, Y nhặt 01 viên gạch và Đại nhặt 01cây gậy bằng tre để dọa đánh nhóm của H4 thì được anh N2 ra can ngăn nên nhóm “Thiểm Xuyên” bỏ đi về. Trước khi về, T5 thấy chiếc xe đạp điện của T3 để lại nên bảo Đ1 lấy xe đi về sân bóng thôn T và nói: “Khi nào bọn này sang xin lỗi thì trả”. Nghe thấy T5 nói vậy thì Đ1 đi xe đạp điện của T3 về thôn T. Một lúc sau Đ1 đi xe đạp điện của T3 đến nhà anh N2 bảo anh N2 trả lại cho T3. Sau khi nhóm “Thiểm Xuyên” bỏ đi, N1 đi về nhà còn Văn H4 và Khắc T6 đi bộ về thôn Đ và gặp Nguyễn Văn C ở một quán cắt tóc. Tại đây, H4 và T6 kể cho C nghe về việc vừa bị nhóm “Thiểm Xuyên” đuổi đánh và rủ C cùng đi tìm nhóm “Thiểm Xuyên” để đánh lại. C đồng ý và bảo Hoàng, T6 đi về nhà của C. Sau đó, C mượn điện thoại của em trai tên là Nguyễn Trung H6 sinh ngày 19/11/2008 để gọi điện qua ứng dụng messenger cho Ngô Nhật A4; Trần Văn Đ và Trần Khắc H5 bảo đến nhà Chung chơi. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày 15/07/2023, Đ, Việt A2, N, Nhật A4, M, B1 đến nhà Chung chơi. Ngoài ra, Khắc H5 rủ thêm Trung A5 và Đức A3 đến (sau đây gọi chung là nhóm “Đại Lâm”). Tại đây, Văn H4 và Đức T3 kể chuyện cả hai bị đánh nên những người có mặt cùng rủ nhau đi tìm để đánh nhóm “T”. Sau đó, M và T3 ở lại nhà Chung đợi Đ đến đón, còn lại 09 người đi trên 04 xe mô tô đi trước. Khi đi Đức A3 điều khiển 01 xe mô tô Honda Wave biển kiểm soát (BKS) 99S2-0755, màu bạc-đen chở Văn H4; N điều khiển 01 xe mô tô Honda Wave màu bạc chở C; B1 điều khiển 01 xe mô tô Honda Wave màu tím than chở Việt A2 và Nhật A4; Khắc H5 điều khiển 01 xe mô tô Honda Wave màu xanh chở Trung A5. Khi nhóm “Đại Lâm” đi đến gần bãi rác xã Đ thì Văn H4 bảo mọi người cùng xuống xe nhặt các vỏ chai bia bằng thủy tinh để làm hung khí đánh nhóm “Thiểm Xuyên”. Việt Anh, C, Văn H4, T3 xuống xe nhặt khoảng 15 vỏ chai bia rồi chia cho mọi người. Lúc này, Đ điều khiển xe mô tô BKS 99D1-211.54 màu trắng - đen - bạc chở T3 và M đến. Sau khi gặp nhau, cả nhóm tiếp tục đi về thôn T, xã T. Khi này Đức T3 cầm vỏ chai bia chuyển sang ngồi sau xe mô tô BKS 99S2-0755 do Đức A3 điều khiển còn Văn H4 đổi sang điều khiển xe mô tô BKS 99D1-211.54 chở Đ và M. Khi cả nhóm đi đến ngã tư thôn T thì Văn H4 nhìn thấy anh Nguyễn Hải B2 sinh ngày 26/06/2009 trú tại thôn T đang ngồi ở ghế đá. Do có mâu thuẫn từ trước nên Văn H4 xuống xe đuổi đánh anh B2 nhưng được Nhật A4 can ngăn. Anh B2 bỏ chạy về hướng đình thôn T thì Văn H4 lấy một vỏ chai bia ném vỏ chai bia về phía Bắc nhưng không trúng. Lúc này, anh Nguyễn Như K sinh năm 1974 trú tại thôn T và nhiều người dân sống xung quanh khu vực đã đi ra để can ngăn. Thấy vậy, Văn H4 lấy một vỏ chai bia từ tay của C ném về phía những người này và trúng vào cổ tay phải của anh K. Sau khi thấy Văn H4 ném thì T3, Việt A2, Nhật A4, C, T3, Đ, M, Trần Khắc H5 cũng hò hét, chửi bới, cầm các vỏ chai bia ném về phía những người dân ra can ngăn rồi cả nhóm lên xe mô tô bỏ chạy.

Về thu giữ và xử lý vật chứng:

  • 01 (một) vỏ chai bia màu nâu, trên thân chai dòng chữ “BIA HÀ NỘI”; 01 vỏ chai bia màu nâu, không rõ nhãn hiệu; 01 vỏ chai bia màu nâu, trên thân chai có dòng chữ “Hạ Long” (đều đã qua sử dụng) và một số mảnh vỡ của vỏ chai bia màu xanh và màu nâu thu giữ tại hiện trường xảy ra vụ việc.
  • Ngày 15/9/2023, chị Trần Thị H7 sinh năm 1996, trú tại thôn Đ, xã T, huyện Y, là chị gái của Trần Văn Đ tự nguyện giao nộp 01 xe mô tô BKS 99D1-211.54 màu trắng đen - bạc. Do chị H7 không biết việc Đ mượn xe để đi đánh nhau nên ngày 26/9/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã trả lại chiếc xe trên cho chị H7.
  • Đối với 01 xe mô tô Honda Wave đeo biển kiểm soát (BKS) 99S2-0755, màu bạc-đen do Tô Đức A1 tự nguyện giao nộp. Chiếc xe này là của C mua của một người không quen biết, không lập giấy tờ mua bán. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành tra cứu, kết quả chiếc xe trên không có trong cơ sở dữ liệu vật chứng.
  • Đối với 03 chiếc xe mô tô của B1, N và Khắc H5. Những chiếc xe này là do B1, N và Khắc H5 tự ý lấy của gia đình và mượn của bạn bè. Khi mượn các chủ xe không biết mục đích các đối tượng sử dụng để đi đánh nhau, gây rối trật tự công cộng. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y không thu giữ.

Bản Cáo trạng số 202/CT-VKSYP ngày 23/11/2023 của VKSND huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh đã truy tố Nguyễn Văn C, Nguyễn Đức N, Ngô Việt A và Tô Đức A1 về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà các bị cáo nhận tội và khai nhận về hành vi của các bị cáo đúng như Bản cáo trạng đã truy tố các bị cáo.

Người đại diện hợp pháp của các bị cáo đều trình bày: Các bị cáo nhỏ tuổi, thiếu hiểu biết, suy nghĩ bồng bột nên đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Như K vắng mặt tại phiên tòa nhưng qua lời khai có tại hồ sơ thể hiện: Sau khi sự việc xảy ra anh tự nguyện từ chối giám định thương tích, anh không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường về mặt dân sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong thực hành quyền công tố tại phiên tòa phát biểu luận tội vẫn giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Sau khi phân tích tính chất của vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; Điều 17: Điều 58; Điều 65 BLHS xử phạt: Nguyễn Văn C từ 26 đến 28 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 52 đến 56 tháng.
  • - Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 90, Điều 91, Điều 101; Điều 65 BLHS xử phạt: Nguyễn Đức N, Ngô Việt A và Tô Đức A1 mỗi bị cáo từ 16 đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 32 đến 36 tháng.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Như K không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS: Tịch thu tiêu huỷ 01 (một) vỏ chai bia màu nâu, trên thân chai dòng chữ “BIA HÀ NỘI”; 01 vỏ chai bia màu nâu, không rõ nhãn hiệu; 01 vỏ chai bia màu nâu, trên thân chai có dòng chữ “Hạ Long” (đều đã qua sử dụng) và một số mảnh vỡ của vỏ chai bia màu xanh và màu nâu; Trả lại cho bị cáo C 01 xe mô tô Honda Wave đeo biển kiểm soát (BKS) 99S2-0755, màu bạc-đen.

Người bào chữa cho bị cáo N, V, Đức A3 trình bày bản luận cứ: Các bị cáo phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi, sau khi phạm tội bị cáo N và bị cáo Việt A2 đã tự nguyện đầu thú, bị cáo Việt A2 thuộc hộ nghèo, cả 3 bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên đề nghị HĐXX cho các bị cáo được hưởng mức án thấp nhất và cải tạo giáo dục tại địa phương.

Các bị cáo, người đại diện hợp pháp của các bị cáo không bổ sung ý kiến gì, không tham gia tranh luận, đối đáp với Viện kiểm sát, chỉ xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác tại phiên toà.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ NHẬN ĐỊNH:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên Công an huyện Y, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong, đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo không có khiếu nại. Do vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng trên đều hợp pháp.
  2. [2] Tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn nhận tội, lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, phù hợp với kết quả tranh luận tại phiên tòa, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 20 giờ ngày 15/7/2023, nhóm “Đại Lâm” gồm 12 người đi trên 05 xe mô tô tìm đánh nhóm “Thiểm Xuyên”. Khi cả nhóm đi đến một bãi rác thuộc xã Đ thì dừng lại nhặt được khoảng 15 vỏ chai bia để làm hung khí. Sau đó, Tô Đức A1 chở Nguyễn Đức T3; Nguyễn Đức N chở Nguyễn Văn C; Ngô Quốc B3 chở Ngô Việt A và Ngô Nhật A4; Trần Khắc H5 chở Ngô Trung A5; Vương Văn H4 chở Trần Văn Đ và Nguyễn Tiến M tiếp tục đi thôn T, xã T để tìm đánh nhau với nhóm “Thiểm Xuyên”. Khi cả nhóm đi đến ngã tư thôn T thì Vương Văn H4 nhìn thấy anh Nguyễn Hải B2 đang ngồi ở ghế đá. Do có mâu thuẫn từ trước với anh B2 nên Văn H4 xuống xe đuổi đánh anh B2 nhưng được Nhật A4 can ngăn. Anh B2 bỏ chạy thì Văn H4 lấy một vỏ chai bia ném vỏ chai bia về phía anh B2 nhưng không trúng. Thấy có đánh nhau, anh Nguyễn Như K và nhiều người dân sống xung quanh khu vực đã đi ra để can ngăn thì bị nhóm “Đại Lâm” hò hét, chửi bới và cầm các vỏ chai bia ném rồi cả nhóm lên xe mô tô bỏ chạy.
  3. [3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm trực tiếp đến tình trạng ổn định, có tổ chức, có kỷ luật ở khu dân cư, nơi đông người, vi phạm quy tắc, nếp sống văn minh, cản trở hoạt động lành mạnh và bình thường của những người ở nơi công cộng, còn gây mất trật tự trị an tại toàn xã hội ở địa phương, nên cần được xử lý nghiêm để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

    Tuy vậy, các bị cáo xuất thân từ nhân dân lao động và tuổi còn nhỏ, có nhân thân tốt, sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Nguyễn Đức N, Tô Đức A1 và Ngô Việt A ra đầu thú, Nguyễn Văn C tự nguyện ủng hộ quỹ vì người nghèo tại địa phương, bị cáo Ngô Việt A thuộc hộ nghèo nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo Nguyễn Đức N, Ngô Việt A, Tô Đức A1 phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi nên cần nên cần áp dụng Điều 90, Điều 91, Điều 101 Bộ luật Hình sự cho bị cáo khi quyết định hình phạt.

    Các bị cáo lần đầu phạm tội, có nhân thân tốt và có nhiều tình tiết giảm nhẹ và Nguyễn Đức N, Tô Đức A1 và Ngô Việt A phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi, vì vậy Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra ngoài xã hội mà cho các bị cáo cải tạo tại địa phương cũng đủ để cải tạo và giáo dục các bị cáo về ý thức tuân thủ pháp luật.

  4. [4] Về vật chứng: Xét thấy cần tịch thu tiêu huỷ 01 (một) vỏ chai bia màu nâu, trên thân chai dòng chữ “BIA HÀ NỘI”; 01 vỏ chai bia màu nâu, không rõ nhãn hiệu; 01 vỏ chai bia màu nâu, trên thân chai có dòng chữ “Hạ Long” (đều đã qua sử dụng) và một số mảnh vỡ của vỏ chai bia màu xanh và màu nâu; Đối với xe mô tô của C không liên quan trực tiếp đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn C 01 xe mô tô Honda Wave đeo biển kiểm soát (BKS) 99S2-0755, màu bạc-đen.
  5. [5] Về án phí: Các bị cáo Chung, Nam, Đức A3 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo qui định của pháp luật. Bị cáo V anh thuộc hộ nghèo nên được miễn án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: Nguyễn Văn C, Nguyễn Đức N, Ngô Việt A, Tô Đức A1 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
  • - Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51và khoản 2 Điều 51; Điều 17: Điều 58; Điều 65 BLHS xử phạt: Nguyễn Văn C 26 (hai mươi sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 52 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • - Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 90, Điều 91, Điều 101; Điều 65 BLHS xử phạt: Nguyễn Đức N, Ngô Việt A và Tô Đức A1 mỗi bị cáo 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao cho UBND xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh giám sát, giáo dục bị cáo Nguyễn Văn C, Nguyễn Đức N, Ngô Việt A trong thời gian thử thách.

Giao cho UBND phường K, Thành phố B, tỉnh Bắc Ninh giám sát, giáo dục bị cáo Tô Đức A1 trong thời gian thử thách

Nếu các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo qui định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự; nếu các bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 2 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án này.

  1. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS: Tịch thu tiêu huỷ 01 (một) vỏ chai bia màu nâu, trên thân chai dòng chữ “BIA HÀ NỘI”; 01 vỏ chai bia màu nâu, không rõ nhãn hiệu; 01 vỏ chai bia màu nâu, trên thân chai có dòng chữ “Hạ Long” (đều đã qua sử dụng) và một số mảnh vỡ của vỏ chai bia màu xanh và màu nâu; Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn C 01 xe mô tô Honda Wave đeo biển kiểm soát (BKS) 99S2-0755, màu bạc-đen.
  2. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

    Các bị cáo Nguyễn Văn C, Nguyễn Đức N, Tô Đức A1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Ngô Việt A.

  3. Áp dụng Điều 331, Điều 332, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

    Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo, người bào chữa cho bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND, VKSND tỉnh;
  • - VKS, CA, THADS huyện YP;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh BN;
  • - Những người tham gia TT;
  • - Lưu HS, VP;

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà

Ngô Xuân Ninh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 215/2023/HSST ngày 21/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH về hình sự về tội gây rối trật tự công cộng

  • Số bản án: 215/2023/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Gây rối trật tự công cộng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn C cùng đồng bọn "Gây rối trật tự công cộng"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger