TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 214/2023/HS-ST
Ngày: 30-10- 2023
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đặng Thuỳ Trang
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lâm Thị Nga
Ông Nguyễn Văn Quản
Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Thống – Thư ký Toà án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thế Hạo – Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 10 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai trực tiếp vụ án hình sự thụ lý số 291/2023/TLST-HS ngày 06 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1102/2023/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo:
Chu Xuân N – sinh năm: 1977 tại Hưng Yên; nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: A đường B, phường F, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Chu Xuân Ư(đã chết) và bà Trần Thị B, sinh năm: 1941; có vợ Trương Thị T (đã ly hôn) và có 02 con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Tại bản án số 169/HSST ngày 02/8/2012, Toà án nhân dân Quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 31/8/2013; ngày 17/5/2017 bị Công an phường B, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý; bị bắt tạm giam ngày 16/7/2023 đến nay, bị cáo có mặt tại phiên toà.
- Bị hại: Ông Nguyễn Văn H năm: 1987 và bà Vũ Thị N1 năm: 1987; cùng địa chỉ: E Lô A, chung cư A, tổ C, khu phố E, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; có đơn xin xét xử văng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 07 giờ 10 phút ngày 04/7/2023, Chu Xuân N2 xe ôm đến khu vực cầu vượt A giải quyết tiền nợ vay nhưng do chưa có tiền trả nợ nên N3 sinh ý định trộm cắp tài sản để bán lấy tiền trả nợ. Tại đây, N4 sát thấy chung cư A thuộc tổ C, khu phố E, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh nên thuê xe ôm chở đến trước chung cư rồi đi bộ vào trong, theo lối thang bộ lô A để đi lên từng tầng gõ cửa phòng, nếu phòng nào có người thì N5 vờ nói đi tìm người thân, nếu gõ cửa không có ai thì sẽ mở cửa để trộm cắp tài sản.
Đến khoảng 07 giờ 15 phút cùng ngày, khi đến căn hộ số 5.06 lôA, chung cư A ông Nguyễn Văn H1 và bà Vũ Thị N6 chủ, N7 hiện cửa trong mở, cửa sắt bên ngoài chỉ khép nên bỏ ba lô, nón kết trước cửa phòng rồi dùng tay mở cửa sắt đi vào trong nhà. Sau khi quan sát không thấy ai, N đi vào phòng đầu tiên thấy có một túi xách nên lục tìm tài sản nhưng không có. Sau đó, N8 tục đi vào phòng thứ hai thì thấy 01 máy tính xách tay (laptop), nhãn hiệu HP màu đen và 01 máy vi tính xách tay nhãn hiệu Apple Macbook, màu xám đang để trên bàn làm việc trong phòng nên đã lấy trộm đem ra bên ngoài cửa phòng, cất giấu vào ba lô. Sau đó, N tiếp tục vào nhà, quan sát thấy có 01 điện thoại di động Iphone 14 Pro và 01 điện thoại di động SM51 M515 đang để trên ghế trong phòng nên đã lấy trộm điện thoại di động Iphone 14 Pro và điện thoại di động SM51 M515 rồi đi ra ngoài cất giấu vào ba lô và tẩu thoát ra ngoài chung cư theo hướng thang bộ, đến khu vực cầu vượt A xe ôm về nhà tại Quận D
Về đến nhà, N9 điện thoại cho một người tên H(không rõ lai lịch, nhân thân) để bán máy tính xách tay, điện thoại, M hẹn đến khu vực đường P, Quận A. Đến khoảng 09 giờ 00 phút ngày 04/7/2023, N10 địa điểm hẹn gặp H tại trước địa chỉ không số, đường P, tổ D, khu phố C, phường T, Quận A, N11 cho H2 lô có chứa 01 điện thoại di động Iphone 14 Pro, 01 điện thoại Samsung Galaxy M51 M515, 01 máy tính xách tay (laptop) nhãn hiệu HP, 01 Macbook. Sau khi kiểm tra, H3 ý mua tất cả với giá 8.000.000đồng. Số tiền này N12 tiêu xài cá nhân hết.
Sau khi sự việc xảy ra, ông Nguyễn Văn H4 Công an phường TQuận Atrình báo sự việc.
Ngày 10/7/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Qđã mời Nvề trụ sở làm việc và N12 khai nhận toàn bộ nội dung vụ việc như trên.
* Vật chứng thu giữ của vụ án:
- 01 USB chứa hình ảnh bị cáo trộm cắp tài sản tại căn hộ E lôA, chung cư A, tổ C, khu phố E, phường T, Quận A ngày 04/7/2023 và chứa hình ảnh trước khi bị cáo lên chung cư thực hiện hành vi phạm tội.
- 01 đôi giày sandal bằng da màu đen của Chu Xuân Nsử d để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản.
* Tại bản kết luận định giá tài sản số 245/KL-HĐĐGTS ngày 31/8/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Quận A(BL 28, 29) đã kết luận:
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14, màu tím, số Imel 353664575308321, dung lượng 128GB (đã qua sử dụng), trị giá là 17.500.000đồng.
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy M51 M515, màu đen, số Imel 353544561451766 (đã qua sử dụng), trị giá là 3.250.000đồng.
- 01 máy vi tính xách tay nhãn hiệu Apple Macbook, màu xám, dung lượng 256GB, đời máy 2022 (đã qua sử dụng), trị giá là 18.250.000đồng.
- 01 máy tính xách tay nhãn hiệu HP (không rõ đời máy) nên không đủ cơ sở định giá qua tài liệu đối với tài sản.
Tổng giá trị tài sản bị cáo trộm cắp là 39.000.000đồng.
Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo Chu Xuân N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.
* Tại Cáo trạng số 219/CT-VKS-Q12 ngày 04/10/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân Quận 12 đã truy tố bị cáo Chu Xuân N về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
* Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 giữ nguyên quan điểm như cáo trạng truy tố đối với bị cáo Chu Xuân N13 đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
- Xử phạt bị cáo Chu Xuân N từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
- Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo bồi thường cho bị hại số tiền theo yêu cầu của bị hại.
- Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ 01 đôi giày sandal bằng da màu đen của bị cáo.
Khi nói lời nói sau cùng, bị cáo đã ăn năn, hối cải và xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được giảm nhẹ một phần hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra C, Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tổ tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về chứng cứ xác định có tội: Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; tang vật thu giữ; lời khai của bị hại, lời khai của người làm chứng, kết luận định giá và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ căn cứ kết luận:
Vào khoảng 07 giờ 15 phút ngày 04/7/2023, Chu Xuân N14 có hành vi trộm cắp tài sản gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Pro, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy M51 M515, 01 máy vi tính xách tay nhãn hiệu Apple Macbook, 01 máy tính xách tay nhãn hiệu HP có tổng trị giá là 39.000.000 đồng tại căn hộ số 5.06 lôA, chung cư A thuộc tổ C, khu phố E, phường T, Quận A, Thành phố H ông Nguyễn Văn H5 bà Vũ Thị N15.
Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội do lỗi cố ý trực tiếp nên hành vi của bị cáo Chu Xuân N14 phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:
Hành vi phạm tội của bị cáo đã gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, làm mất trật tự trị an tại địa phương và gây tâm lý lo ngại trong nhân dân. Vì vậy, cần thiết phải xử phạt bị cáo một mức án nghiêm nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và đấu tranh phòng chống tội phạm nói riêng.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự nhưng nhân thân bị cáo đã từng bị Toà án nhân dân Quận Gò Vấp xử phạt tù về tội “Trộm cắp tài sản” vào năm 2012; năm 2017 bị Công an phường B phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý (hiện tiền án, tiền sự nêu trên đã được xoá án).
Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nhưng nhân thân bị cáo xấu và trị giá tài sản bị cáo chiếm đoạt của bị hại là 39.000.000đồng, hiện chưa thu hồi, chưa bồi thường khắc phục hậu quả nên cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại có quan điểm yêu cầu bị cáo bồi thường tài sản đã bị chiếm đoạt là 39.000.000đồng nên buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại số tiền trên là phù hợp.
[6] Về vật chứng, xử lý vật chứng:
- Đối với 01 USB chứa hình ảnh bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp tài sản tại căn hộ 5.06 lôA, chung cư A, tổ C, khu phố E, phường T, Quận A hình ảnh trước khi bị cáo lên chung cư thực hiện hành vi phạm tội đã được lưu kèm trong hồ sơ vụ án.
- Đối với 01 đôi giày sandal bằng da màu đen là tài sản thuộc sở hữu của bị cáo, có giá trị không lớn và bị cáo không có yêu cầu được nhận lại nên tịch thu tiêu huỷ.
[7] Về vấn đề khác: Đối với người tên H6 người mua tài sản do bị cáo phạm tội mà có, hiện chưa xác định lai lịch nhân thân nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Qtiếp tục điều tra, làm rõ để xử lý sau là có căn cứ.
[8] Về án phí: Bị cáo Chu Xuân N phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Chu Xuân N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt: Bị cáo Chu Xuân N 21 (hai mươi mốt) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 16/7/2023.
- Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật Dân sự
Buộc bị cáo Chu Xuân N bồi thường cho ông Nguyễn Văn H5 bà Vũ Thị N16 tiền 39.000.000đồng (Ba mươi chín triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
Tịch thu tiêu huỷ: 01 đôi giày sandal bằng da màu đen.
(Theo quyết định chuyển vật chứng số 175/QĐ-VKS ngày 04/10/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh).
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2021; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Chu Xuân N phải nộp 200.000đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 1.950.000đồng (Một triệu chín trăm năm mươi ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, tổng cộng là 2.150.000đồng (Hai triệu một trăm năm mươi ngàn đồng).
Bị cáo có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm ngày) ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày (mười lăm ngày) kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Đặng Thuỳ Trang |
Bản án số 214/2023/HS-ST ngày 30/10/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 214/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/10/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
