Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc

Bản án số: 214/2023/HSST

Ngày: 28/12/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Viết Hoàng Lâm

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Đặng Tấn Đức

2/ Bà Nguyễn Thị Mỹ Linh

Thư ký phiên tòa: Ông Lê Trung Tiến – Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Ông Phan Minh Vương – Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số 231/2023/HSST ngày 05 tháng 12 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 241/2023/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:

Phùng Lê Đ; sinh năm 1996; tại: Thành phố Hồ Chí Minh; trú tại: 6 Đ, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: phòng trọ số A, nhà số D đường B, khu A, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 08/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phùng Quốc H, sinh năm 1972 và bà Lê Thị L, sinh năm 1976; vợ, con: chưa có; Nhân thân: Ngày 04/4/2014 bị Công an P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt số tiền 375.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; ngày 05/11/2014 bị Công an quận T xử phạt số tiền 1.750.000 đồng về hành vi cất giữ tài sản của người khác mà biết rõ tài sản đó vi phạm pháp luật mà có; ngày 21/5/2015 bị Tòa án nhân dân quận Bình Tân xử phạt 04 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”; tiền sự: không; tiền án: Ngày 24/01/2022 bị Tòa án nhân dân quận Tân Bình xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong án phạt tù ngày 18/3/2023; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày: 03/9/2023 – Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 02/9/2023 Phùng Lê Đ lên mạng xã hội Facebook liên hệ với tài khoản Thanh Thức (không rõ lai lịch), hỏi mua 800.000 đồng ma túy về để sử dụng, thì tài khoản Thanh Thức cho Đ số điện thoại 0938.065.xxx để gặp một người đàn ông (không rõ lai lịch), hẹn ra khu vực Bờ Bao T, phường S, quận T để giao ma túy, sau khi mua ma túy xong Đ mang về phòng trọ số 18 nhà số D, đường B, khu A, phường P, quận T nhưng chưa sử dụng. Đến khoảng 22 giờ 45 phút ngày 03/9/2023, Công an phường P, quận T tiến hành kiểm tra hành chính phát hiện thu giữ 01 gói nylon chứa tinh thể không màu trong túi quần jeans của Phùng Lê Đ đang mặc nên đưa về Công an phường để làm việc. Đ khai đã mua ma túy của tài khoản Facebook Thanh Thức 02 lần, lần đầu vào ngày 30/8/2023, lần thứ hai mua chưa kịp sử dụng hết thì bị bắt.

Theo kết luận giám định số 9669/KL-KTHS ngày 11/9/2023 của Phòng K Công an Thành phố H kết luận: Tinh thể không màu được ký hiệu mẫu m cần giám định (đã nêu ở mục II.1) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,5476g, loại Methamphetamine.

Vật chứng:

  • 01 (một) gói nylon được niêm phong bên ngoài có số 1967/23 có các chữ ký ghi tên Phùng Lê Đ (đương sự), Lê Nam H1 (Điều tra viên), Thượng úy Trịnh Hải T (Giám định viên) và hình dấu Công an phường P, quận T.
  • 01 (một) điện thoại di động (không rõ chủng loại, đã bị bể màn hình không sử dụng được), là điện thoại cá nhân của Đ sử dụng để mua ma túy từ đối tượng T1.
  • 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy.

Tại bản cáo trạng số 231/CT-VKSQ.TP ngày 04 tháng 12 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú đã truy tố các bị cáo Phùng Lê Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

Đại diện viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú giữ nguyên quan điểm như nội dung bản cáo trạng đã truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Phùng Lê Đ từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù.

Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị xử lý vật chứng.

  • Bị cáo Phùng Lê Đ đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung vụ án được tóm tắt như trên, bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử, xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án. Điều tra viên, Kiểm sát viên, khi thực hiện hành vi cũng như ban hành các Quyết định tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong vụ án này đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Qua đó đã có đủ cơ sở để xác định:

Ngày 02/9/2023 Phùng Lê Đ lên mạng xã hội facebook liên hệ với tài khoản Thanh Thức (không rõ lai lịch), hỏi mua 800.000 đồng ma túy về để sử dụng, thì tài khoản Thanh Thức cho Đ số điện thoại 0938.065.xxx để gặp một người đàn ông (không rõ lai lịch), hẹn ra khu vực Bờ Bao T, phường S, quận T để giao ma túy, sau khi mua ma túy xong Đ mang về phòng trọ số 18 nhà số D, đường B, khu A, phường P, quận T nhưng chưa sử dụng. Đến khoảng 22 giờ 45 phút ngày 03/9/2023, Công an phường P, quận T tiến hành kiểm tra hành chính phát hiện thu giữ 01 gói nylon chứa tinh thể không màu trong túi quần jeans của Phùng Lê Đ đang mặc nên đưa về Công an phường để làm việc.

Vì vậy đã có đủ căn cứ kết luận bị cáo Phùng Lê Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, như bản cáo trạng đã truy tố. Căn cứ kết luận giám định của Phòng K Công an Thành phố H thì bị cáo đã có hành vi tàng trữ 0,5476 gam loại Methamphetamine nên Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú truy tố bị cáo Phùng Lê Đ theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có cơ sở, đúng pháp luật.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma túy, gây mất an ninh trật tự ở địa phương. Bản thân bị cáo nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý phạm tội.

[4] Về nhân thân và tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo là người có nhân thân xấu, vào ngày 04/4/2014 bị Công an P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt số tiền 375.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; ngày 05/11/2014 bị Công an quận T xử phạt số tiền 1.750.000 đồng về hành vi cất giữ tài sản của người khác mà biết rõ tài sản đó vi phạm pháp luật mà có; ngày 21/5/2015 bị Tòa án nhân dân quận Bình Tân xử phạt 04 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”; vào ngày 24/01/2022 bị Tòa án nhân dân quận Tân Bình xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong án phạt tù ngày 18/3/2023, bị cáo đã bị kết án chưa được xóa án tích mà lại phạm tội do cố ý là thuộc trường hợp tái phạm theo quy định tại khoản 1 Điều 53 Bộ luật Hình sự

năm 2015, do đó bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015.

[5] Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải có mức án nghiêm khắc, mới có tác dụng răn đe giáo dục đối với bị cáo và đảm bảo công tác phòng ngừa chung trong xã hội. Tuy nhiên cũng xem xét bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên áp dụng các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[6] Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự qui định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng....”. Xét tính chất mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải phạt bị cáo số tiền 5.000.000 đồng.

[7] Về xử lý vật chứng:

  • 01 (một) gói nylon được niêm phong bên ngoài có số 1967/23 có các chữ ký ghi tên Phùng Lê Đ (đương sự), Lê Nam H1 (Điều tra viên), Thượng úy Trịnh Hải T (Giám định viên) và 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đây là vật cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
  • 01 (một) điện thoại di động (không rõ chủng loại, đã bị bể màn hình không sử dụng được), đây là điện thoại bị cáo sử dụng để mua ma túy nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Đối với đối tượng bán ma túy cho bị cáo và tài khoản Facebook do không xác minh được nên chưa có cơ sở điều tra làm rõ xử lý, khi nào điều tra làm rõ xử lý sau.

Đối với số điện thoại 0938.065.xxx qua xác minh do chị Phạm Thị Thúy D trú tại 1 T, phường B, quận B đứng thuê bao nhưng qua xác minh chị D đã bỏ đi khỏi địa phương, đi đâu không rõ nên chưa làm việc được. Hiện Cơ quan điều tra đang tiến hành xác minh, khi nào làm việc được sẽ xử lý sau.

[8] Án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo qui định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

[1] Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tuyên bố bị cáo Phùng Lê Đ phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Xử phạt bị cáo Phùng Lê Đ 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù.

Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ 03 tháng 9 năm 2023.

[2] Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Phạt bị cáo Phùng Lê Đ số tiền 5.000.000 (năm triệu) đồng.

[3] Về xử lý vật chứng:

Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự

  • Tịch thu tiêu hủy 01 (một) gói niêm phong ghi số 1096/23 bên ngoài có chữ ký ghi tên Võ La Bảo Y (Giám định viên), Nguyễn Trọng H2 (Cán bộ điều tra) và 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy.
  • Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động (không rõ chủng loại, đã bị bể màn hình không sử dụng được).

(Vật chứng hiện đang nhập kho theo Phiếu nhập kho vật chứng số 175/PNK ngày 10/10/2023 của Công an quận T)

[5] Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Buộc bị cáo nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[6] Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án lên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành theo qui định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Viết Hoàng Lâm

Nơi nhận:

  • Bị cáo
  • Người tham gia tố tụng
  • TAND TP. Hồ Chí Minh
  • VKS Q.Tân Phú.
  • THA quận Tân Phú.
  • Công an Q.Tân Phú
  • Công an TP . Hồ Chí Minh
  • Sở Tư pháp TP . HCM
  • Lưu hồ sơ
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 214/2023/HSST ngày 28/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 214/2023/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger