Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 214/2023/DS-PT

Ngày: 26 - 12 - 2023

V/v: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Văn Tâm

Các Thẩm phán:

Ông Cao Minh Vỹ

Ông Trịnh Hoàng Anh

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Lê Thanh Hà – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu: Ông Vũ Duyên Trường - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 26 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 199/2023/TLPT-DS ngày 04 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 57/2023/DS-ST ngày 13 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 202/2023/QĐ-PT ngày 26/10/2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 213/2023/QĐ-PT ngày 13/11/2023, quyết định hoãn phiên tòa số 236/2023/QĐ-PT ngày 27/11/2023, quyết định thay đổi người tiến hành tố tụng, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1966; Địa chỉ: Tổ B, khu phố P, TT P, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (Có mặt).
  2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1982; Địa chỉ: Tổ B, ấp E, xã H, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (Vắng mặt).
  3. Người đại diện theo ủy quyền của bà N: Ông Vũ Xuân Đ, sinh năm 1963; Địa chỉ: 2, khu phố C, phường T, quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt).

  4. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1964; Địa chỉ: Tổ A, khu phố P, TT P, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (Vắng mặt ).
  5. Người kháng cáo: Bà Nguyễn Thị N là bị đơn trong vụ án.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện và quá trình tố tụng giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị T trình bày: Ngày 24/4/2021, bà Nguyễn Thị T có thỏa thuận nhận chuyển nhượng của bà Nguyễn Thị N thửa đất số 22, tờ bản đồ số 186, xã H, huyện X với giá chuyển nhượng là 1.100.000.000 đồng. Để đảm bảo cho việc chuyển nhượng này, bà T đặt cọc cho bà N 100.000.000 đồng vào ngày thỏa thuận chuyển nhượng theo Hợp đồng đặt cọc, đến ngày 28/5/2021 bà T đặt cọc thêm cho bà N 100.000.000 đồng nữa và ghi vào phía sau Hợp đồng đặt cọc, hẹn ngày công chứng Hợp đồng chuyển nhượng thì trả đủ số tiền còn lại và nhận Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Sau đó, do bà N không có đất để giao cho bà T nên hai bên thỏa thuận hủy việc chuyển nhượng. Bà N trả lại 200.000.000 đồng tiền đặt cọc cho bà T. Tuy nhiên, sau đó bà N chỉ trả cho bà T 150.000.000 đồng, còn 50.000.000 đồng bà N không trả.

Tại phiên tòa sơ thẩm, bà T trình bày: Số tiền bà T đã nhận của bà N là 120.000.000 đồng, bà N nói chi tiền hoa hồng hết 30.000.000 đồng, bà T đồng ý số tiền hoa hồng này.

Bà T yêu cầu hủy Hợp đồng đặt cọc ngày 24/4/2021 giữa bà T và bà N, yêu cầu bà N trả cho bà T 50.000.000 đồng tiền đặt cọc còn thiếu.

- Quá trình tố tụng giải quyết vụ án, bị đơn bà Nguyễn Thị N và người đại diện theo ủy quyền của bà N trình bày: Ngày 24/4/2021 bà N đồng ý chuyển nhượng cho bà T một phần thửa đất số 22, tờ bản đồ số 86, xã H, huyện X, diện tích 600m², với giá chuyển nhượng 1.100.000.000 đồng. Sau khi thỏa thuận việc chuyển nhượng xong bà N có nhận của bà T số tiền cọc 100.000.000 đồng, hẹn đến ngày 24/6/2021 hai bên ra công chứng sẽ giao hết số tiền còn lại. Đến ngày 28/5/2021 bà T đặt cọc thêm cho bà N 100.000.000 đồng. Tổng cộng bà T giao cho bà N 200.000.000 đồng. Số tiền này là do 04 người gồm bà T1, bà T, bà T2, bà H góp mỗi người 50.000.000 đồng nhưng để bà T đại diện đứng tên đặt cọc cho bà N. Do chính sách của nhà nước có sự thay đổi, ngưng không tách sổ nên bà N không tách được sổ đối với diện tích đất này nên hai bên thống nhất hủy hợp dồng đặt cọc và trả lại tiền cọc cho bà T. Do bà T không có số tài khoản và là chỗ quen biết nên hai bên thống nhất bà N sẽ chuyển trả tiền cọc cho bà T thông qua tài khoản của bà T1. Bà N đã chuyển vào tài khoản của bà T1 02 lần để bà T1 trả cho bà T. Cụ thể: Lần 1 ngày 29/05/2021 chuyển 122.000.000 đồng trong đó có 2.000.000 đồng tiền quà cho bà T1; Lần 2 ngày 26/4/2022 chuyển 80.000.000 đồng.

Như vậy bà N đã trả đủ số tiền cọc của bà T, bà N đồng ý hủy Hợp đồng đặt cọc, không đồng ý trả 50.000.000 đồng cho bà T.

* Tại bản án dân sự sơ thẩm số 57/2023/DS-ST ngày 13/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đã quyết định:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T đối với bà Nguyễn Thị N.

Buộc bà Nguyễn Thị N trả cho bà Nguyễn Thị T 50.000.000 đồng tiền cọc.

Hủy Hợp đồng đặt cọc tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất được ký giữa bà Nguyễn Thị N và bà Nguyễn Thị T.

Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về án phí, nghĩa vụ do chậm thi hành án và quyền kháng cáo theo luật định.

* Ngày 21/7/2023 bà N kháng cáo bản án sơ thẩm. Yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết: Hủy bản án sơ thẩm để giải quyết sơ thẩm lại hoặc sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu bà N phải trả cho bà Nguyễn Thị T 50.000.000 đồng vì bà N đã trả hết số tiền này.

* Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn bà Nguyễn Thị T và bị đơn bà Nguyễn Thị N (người đại diện hợp pháp là ông Vũ Xuân Đ) đã thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án như sau:

  • - Hủy hợp đồng đặt cọc giữa bà Nguyễn Thị T và bà Nguyễn Thị N.
  • - Bà Nguyễn Thị N có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị T số tiền 50.000.000 đồng.
  • - Bà Nguyễn Thị N phải chịu án phí.

- Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn bà Nguyễn Thị T và bị đơn bà Nguyễn Thị N (người đại diện hợp pháp là ông Vũ Xuân Đ) đã thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, công nhận sự thỏa thuận của đương sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:

  1. Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn bà Nguyễn Thị T và bị đơn bà Nguyễn Thị N (người đại diện hợp pháp là ông Vũ Xuân Đ) đã thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án, cụ thể như sau:
    1. Hủy hợp đồng đặt cọc giữa bà Nguyễn Thị T và bà Nguyễn Thị N.
    2. Bà Nguyễn Thị N có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị T số tiền 50.000.000 đồng.
    3. Bà Nguyễn Thị N phải chịu án phí.
  2. Xét thấy sự thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội nên công nhận.
  3. Từ nhận định trên, sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm số 57/2023/DS-ST ngày 13/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.
  4. Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị N phải chịu.
  5. Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị N phải chịu.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 300 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 57/2023/DS-ST ngày 13/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự như sau:

  1. Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự:
    1. Hủy hợp đồng đặt cọc giữa bà Nguyễn Thị T và bà Nguyễn Thị N.
    2. Bà Nguyễn Thị N có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị T số tiền 50.000.000 (năm mươi triệu) đồng.
  2. Kể từ ngày bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải trả cho bên được thi hành án khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
  3. Án phí dân sự sơ thẩm:
    1. Bà Nguyễn Thị N phải chịu 2.500.000 đồng.
    2. Bà Nguyễn Thị T không phải chịu. Hoàn trả cho bà Nguyễn Thị T 1.250.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0011652 ngày 14/02/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
  4. Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị N phải chịu 300.000 đồng, trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0005318 ngày 25/7/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Đã nộp đủ.
  5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
  6. Bản án có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKS nhân dân tỉnh BR-VT;
  • - Chi cục THADS H.Xuyên Mộc;
  • - TAND H.Xuyên Mộc;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trương Văn Tâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 214/2023/DS-PT ngày 26/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU về tranh chấp hợp đồng đặt cọc

  • Số bản án: 214/2023/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 26/12/2023
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà T yêu cầu hủy Hợp đồng đặt cọc ngày 24/4/2021 giữa bà T và bà N, yêu cầu bà N trả cho bà T 50.000.000 đồng tiền đặt cọc còn thiếu.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger