Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 214/2024/HNGĐ -ST

Ngày: 23-4-2024

V/v “Ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Tấn Phát

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Đinh Kim Hoàng
  2. Bà Nguyễn Thị Đông Nguyệt

Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Mỹ Chi – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4 tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Lý – Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 454/2023/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 10 năm 2023 về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 198/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 26/3/2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Hoàng Mai K, sinh năm 1989
  2. Địa chỉ: 82/1 Đỗ Tấn Phong, Phường 9, quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh

  3. Bị đơn: Ông Phạm Hồ Minh T, sinh năm 1990
  4. Địa chỉ: I T, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn xin ly hôn và các lời khai tiếp theo, nguyên đơn bà Nguyễn Hoàng Mai K trình bày: Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Phạm Hồ Minh T tự nguyện sống chung với nhau từ năm 2014, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh. Trong quá trình chung sống, thời gian đầu chung sống hạnh phúc, đến năm 2019 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, không hợp nhau. Ông T chỉ lo ăn nhậu, gây sự, vũ phu với bà. Ông T không chăm lo cho gia đình. Bà và ông T đã ly thân từ năm 2021, sau khi bà sinh bé thứ hai đến nay. Nay tình cảm vợ chồng không còn nên bà yêu cầu ly hôn. Lúc còn sống chung với nhau, ông bà ở tại địa chỉ I T, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh. Đến năm 2018 do mâu thuẫn nên bà dọn về nhà mẹ ruột ở. Về con chung: Bà K xác nhận bà và ông T có 02 con chung là Phạm Đăng K1, sinh ngày 17/7/2018 và Phạm Thiện K2, sinh ngày 31/8/2021. Sau khi ly thân hai con chung sống chung với bà đến nay. Bà K yêu cầu được trực tiếp nuôi hai con và không yêu cầu ông T cấp dưỡng. Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: bà K xác nhận không có.

Bị đơn ông Phạm Hồ Minh T vắng mặt không lý do mặc dù đã được Tòa án tống đạt triệu tập hợp lệ: Thông báo về việc thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử. Ông T cũng không gửi văn bản có ý kiến về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cho Tòa án nên không thể thu thập ý kiến của ông. Căn cứ kết quả xác minh của Công an P, Quận D, TP . thì ông T có hộ khẩu thường trú tại địa chỉ I T, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh nhưng không thực tế cư trú tại địa phương từ tháng 5 năm 2023 đến nay, hiện không rõ địa chỉ cư trú.

Tại phiên tòa, bị đơn vắng mặt không có lý do, nguyên đơn yêu cầu xét xử vắng mặt nhưng vẫn giữ yêu cầu ly hôn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4 phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Việc Tòa án thụ lý vụ án và quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán thụ lý và giải quyết vụ án đúng các quy định của pháp luật. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Hội đồng xét xử sơ thẩm đã tiến hành đúng trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật. Về nội dung của vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa; Hội đồng xét xử xét thấy:

[1] Về tố tụng: Nguyên đơn bà Nguyễn Hoàng Mai K có đơn xin được ly hôn với bị đơn ông Phạm Hồ Minh T. Ông Phạm Hồ Minh T có địa chỉ cư trú tại Quận D, TP .. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 4.

Nguyên đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, bị đơn đã được Tòa án tống đạt triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự tòa án tiến hành xét xử vắng mặt.

[2] Về yêu cầu của đương sự:

Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào lời khai nhận của đương sự và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có cơ sở xác định: bà Nguyễn Hoàng Mai K và ông Phạm Hồ Minh T tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2014 và có đăng ký kết hôn. Vì vậy, quan hệ hôn nhân giữa hai đương sự là hôn nhân hợp pháp.

Xét thấy, sau thời gian chung sống, giữa hai người đã xảy ra nhiều mâu thuẫn do không còn hòa hợp, thương yêu nhau. Cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Theo biên bản xác minh ngày 21/02/2024 của Tòa án nhân dân Quận 4 tại địa phương thì: “Bà Nguyễn Hoàng Mai K và ông Phạm Hồ Minh T là vợ chồng. Quá trình chung sống, địa phương không chứng kiến bà K và ông T mâu thuẫn, địa phương cũng chưa giải quyết mâu thuẫn giữa bà K và ông T. Còn việc bà K và ông T sống có hạnh phúc hay không bà không rõ vì đây là việc riêng của gia đình bà K và ông T. Hiện tại bà K và ông T cũng không còn sống ở địa phương”.

Tòa án đã triệu tập rất nhiều lần để tạo điều kiện cho hai bên hòa giải nhưng ông Phạm Hồ Minh T không đến và cũng không có văn bản thể hiện ý kiến cũng như thiện chí muốn hàn gắn tình cảm giữa hai người. Vì vậy, căn cứ vào Điều 56, Điều 131 Luật hôn nhân và gia đình, việc bà K yêu cầu được ly hôn với ông T là có cơ sở chấp nhận.

Về con chung: Căn cứ lời khai nhận của đương sự và giấy khai sinh, có cơ sở xác định hai đương sự có 02 con chung là Phạm Đăng K1, sinh ngày 17/7/2018 và Phạm Thiện K2, sinh ngày 31/8/2021. Bà K yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung, không yêu cầu bị đơn cấp dưỡng nuôi con. Xét đây là sự tự nguyện của đương sự, không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội và phù hợp với điều kiện thực tế nên ghi nhận. Giao cả hai con chung cho bà K tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của bà K không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nghĩa vụ chung của vợ chồng: Bà K xác định không có, nên không xem xét giải quyết.

[3] Về án phí: Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, bà Nguyễn Hoàng Mai K phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 271 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015;

Căn cứ vào các Điều 53; 56; 57; 81; 82; 83; 84 Luật Hôn nhân và gia đình có hiệu lực ngày 01/01/2015;

Căn cứ vào Luật thi hành án dân sự;

Căn cứ vào Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
    • Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Hoàng Mai K được ly hôn với ông Phạm Hồ Minh T (Giấy chứng nhận kết hôn số 67/2014, quyển số 01/2014 do Ủy ban nhân dân Phường A, Quận D, TP . cấp ngày 11/9/2014).
    • Về con chung: Bà Nguyễn Hoàng Mai K và ông Phạm Hồ Minh T có 02 con chung là Phạm Đăng K1, sinh ngày 17/7/2018 và Phạm Thiện K2, sinh ngày 31/8/2021. Giao cả hai con chung cho bà K trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của bà K không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà mình không trực tiếp nuôi dưỡng, không ai được cản trở, nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của người đang trực tiếp nuôi con.

Vì lợi ích của con, khi có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên.

  • Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không xem xét giải quyết.
  1. Về án phí ly hôn sơ thẩm: Bà Nguyễn Hoàng Mai K phải nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà bà đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tiền số AA/ 2023/0042435 ngày 15/9/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 4. Bà K đã nộp đủ án phí.
  2. Về quyền kháng cáo: đương sự có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự không có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị bản án này trong thời hạn 15 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị bản án này trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày tuyên án theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - TAND TP. HCM;
  • - VKSND Quận 4;
  • - Cơ quan đã thực hiện việc đăng ký kết hôn;
  • - Chi cục THADS Quận 4;
  • - Lưu: Vp, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà

Huỳnh Tấn Phát

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đinh Kim Hoàng Nguyễn Thị Đông Nguyệt

Huỳnh Tấn Phát

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 214/2024/HNGĐ -ST ngày 23/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn

  • Số bản án: 214/2024/HNGĐ -ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xét xử
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger