Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẮC GIANG

TỈNH BẮC GIANG

Bản án số: 214/2023/HS-ST

Ngày 22-11-2023

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Thảo

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1. Bà Ngô Thị Vân.
  • 2. Ông Nguyễn Văn Chi.

Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Văn Hưng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Việt Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 11 năm 2023 tại điểm cầu trung tâm Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang và điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh B, Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang xét xử trực tuyến sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 209/2023/TLST-HS ngày 27 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 227/2023/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Thân Văn T, sinh năm 2002 tại huyện V, tỉnh Bắc Giang; Nơi cư trú: Thôn B, xã T, huyện V, tỉnh Bắc Giang; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Thân Văn T1, sinh năm 1970 và bà Thân Thị D, sinh năm 1974; Gia đình có 2 chị em, bị cáo là con thứ 2; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/8/2023, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B.

(Có mặt).

* Bị hại: Anh Lương Hồng H, sinh năm 2002. (Vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn T, xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  • Ông Trần Văn T2, sinh năm 1984. (Vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn L, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.

  • Ông Thân Văn T1, sinh năm 1970. (Vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn B, xã T, huyện V, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 01 giờ ngày 18/8/2023, Thân Văn T, sinh năm 2002trú tại thôn B, xã T, huyện V, tỉnh Bắc Giang điều khiển xe máy nhãn hiệu Yamaha Sirius BKS 98B1-962.81 đi từ nhà đến địa bàn xã T, thành phố B mục đích trộm cắp tài sản. Khi T đi đến khu vực nhà anh Lương Hồng H, sinh năm 2002 ở thôn T, xã T, thành phố B thì thấy mở cổng, đèn ở cổng sáng, bên trong sân để một chiếc xe máy nhãn hiệu Wave màu sơn xanh-đen BKS 98M3-6168 nên nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe mô tô. T đi xe máy ra ngoài đầu ngõ và để xe tại đây rồi đi bộ vào trong sân nhà anh H đến vị trí để chiếc xe máy thì thấy xe không khóa cổ, khóa càng. T dùng chân phải đạp về số N rồi dắt chiếc xe máy đi ra ngoài cổng sau đó dắt đến khu vực gần cánh đồng ở thôn C, xã T. T dựng chiếc xe ở đây rồi đi bộ quay lại chỗ để xe máy của T và đi xe ra về thì gặp anh Dương Văn C, sinh năm 1990 làm bảo vệ khu công nghiệp hiện ở trọ thôn B, xã T đang trực bảo vệ. T nhờ anh C đèo đi giúp lấy chiếc xe máy. Anh C hỏi thì T nói là xe của người bạn bị hỏng để bên làng nên anh C đồng ý giúp. Theo chỉ dẫn của T, anh C điều khiển xe máy của T chở T đi đến vị trí để chiếc xe mà T đã trộm cắp. T nhờ anh C đi xe máy đẩy T và xe máy đã trộm cắp về nhưng anh C không đồng ý rồi đi về nơi làm việc. T tự dắt chiếc xe máy đã trộm cắp mang đi cất giấu ở bãi đất trống, xung quanh có các bụi cỏ gần lò gạch thuộc thôn B, xã T rồi đi bộ về phòng trọ của anh C ngủ nhờ.

Đến 06 giờ cùng ngày, anh C đổi ca trực và đi bộ kiểm tra xung quanh thì phát hiện chiếc xe máy nhãn hiệu Wave màu sơn xanh, BKS 98M3-6168 cất giấu trong bụi cây gần khu vực anh C làm bảo vệ nên nghi ngờ T trộm cắp chiếc xe máy trên. Anh C đã báo cho anh Trần Văn T2, sinh năm 1984, trú tại thôn L, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang là quản lý tổ bảo vệ khu công nghiệp biết. Anh T2 báo cho Công an xã T đến lập biên bản và triệu tập Thân Văn T về trụ sở làm việc thì T khai nhận đã trộm cắp chiếc xe máy trên. Công an xã T đã bàn giao cho Cơ quan CSĐT Công an thành phố B. Tại Cơ quan điều tra, T đầu thú và khai nhận về hành vi trộm cắp tài sản như nêu trên.

Kết luận định giá tài sản số 163/KL-HĐ ngày 25/8/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận:

01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Wave BKS 98M3-6168, màu sơn xanh-đen, số máy 6255127; số khung 255036, dung tích 100, đăng ký lần đầu ngày 25/10/2006, đã qua sử dụng có giá trị ngày 18/8/2023 là 3.500.000 đồng.

Cơ quan điều tra đã cho Thân Văn T tự xác định địa điểm trộm cắp và địa điểm cất giấu chiếc xe máy. Kết quả, T xác định đúng địa điểm trộm cắp chiếc xe mô tô nhãn hiệu Wave BKS 98M3-6168 tại sân nhà anh Lương Hồng H, sinh năm 2002 ở thôn T, xã T, thành phố B; vị trí cất giấu chiếc xe máy tại khu vực bãi đất trống, xung quanh có các bụi cây thuộc thôn B, xã T, huyện V gần công ty L1.

2

Ngày 18/8/2023, Cơ quan điều tra đã cho Thân Văn T thực nghiệm hành vi trộm cắp chiếc xe máy BKS 98M3-6168 tại hiện trường. Kết quả T thực hiện các động tác trộm cắp chiếc xe máy như bị cáo đã khai.

Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: Cơ quan điều tra Công an thành phố B đã trả lại anh Lương Hồng H chiếc xe mô tô nhãn hiệu Wave BKS 98M3-6168. Anh H không yêu cầu bồi thường và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đối với chiếc xe mô tô biển số 98B1 – 962.81 đăng ký xe là Thân Thị T3, sinh năm 1994 là chị ruột Thân Văn T. Tháng 02/2023, chị T3 vào miền N làm việc và để chiếc xe mô tô ở nhà cho bố đẻ là Thân Văn T1 quản lý, sử dụng. Ngày 18/8/2023, T tự lấy chiếc xe này đi trộm cắp tài sản. Do vậy, Cơ quan điều đã trả lại chiếc xe máy trên cho ông T1.

Đối với anh Dương Văn C đi xe máy chở Thân Văn T đi đến vị trí cất giấu chiếc xe máy nhưng không biết T thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Sau khi phát hiện T trộm cắp, anh C đã báo cho quản lý tổ bảo vệ khu công nghiệp biết để báo cho Công an xã T giải quyết. Hành vi của anh C không cấu thành tội phạm nên Cơ quan điều tra không xử lý.

Ngoài hành vi trộm cắp tài sản nêu trên; quá trình điều tra còn làm rõ Thân Văn T, Thân Văn H1, Nguyễn Thành Đ có các hành vi vi phạm như sau:

1- Khoảng 02 giờ ngày 15/8/2023, Thân Văn T điều khiển xe mô tô BKS 98B1 – 962.81 chở Thân Văn H1, sinh năm 1996 ở cùng thôn và Nguyễn Thành Đ, sinh ngày 24/12/2007, trú tại thôn P, xã T, huyện V, tỉnh Bắc Giang trộm cắp tài sản. Ba người cùng nhau trộm cắp 01 chiếc giá phơi đồ bằng sắt có khối lượng 22 kg của anh Hoàng Văn T4, sinh năm 1994, trú tại thôn T, xã T, thành phố B để trên bãi đất trống khu vực đường Đ, thôn M, xã T sau đó chở đến lán thu mua sắt vụn của anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1982 ở thôn T, xã N, huyện Y, tỉnh Bắc Giang bán được 135.000 đồng. Kết luận định giá tài sản số 163 ngày 25/8/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận giá trị tài sản là 909.000 đồng.

Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: Cơ quan điều tra đã thu giữ chiếc giá phơi đồ bằng sắt do anh Nguyễn Văn L giao nộp và trả lại anh T4. Đến nay, anh T4 và anh L không yêu cầu bồi thường.

2- Khoảng 21 giờ ngày 19/8/2023, Thân Văn H1 điều khiển xe đạp điện chở Nguyễn Thành Đ đi đến thành phố B mua ma túy để sử dụng. H1 và Đ thống nhất mỗi người bỏ ra 50.000 đồng. H1 chở Đ đi đến đường Đ, thuộc phường T, thành phố B. Đ mua của một người đàn ông không quen biết 01 gói ma túy heroin với giá 100.000 đồng rồi cất vào trong ví. Trên đường ra về, H1 và Đ đi đến khu vực chăn nuôi vịt của ông Đào Văn T5, sinh năm 1964 ở thôn L, xã T, thành phố B trộm cắp 01 con vịt nặng khoảng 2kg thì bị anh Hoàng Văn T4, sinh năm 1994, trú tại thôn

3

T, xã T, thành phố B và anh Nguyễn Văn T6, sinh năm 2002, trú tại thôn S, xã S, thành phố B phát hiện. H1 và Đ đi quay lại thả con vịt vào trong trang trại của ông T5. Sau đó, Công an xã T đến đưa H1 và Đ về trụ sở làm việc, tiến hành kiểm tra phát hiện trong ví của Đ có 01 gói giấy bạc chứa ma túy nên bàn giao tài liệu và vật chứng cho Cơ quan CSĐT Công an thành phố B giải quyết.

Kết luận định giá tài sản số 163/KL-HĐ ngày 25/8/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận 01 con vịt nặng khoảng 02 kg trị giá là 120.000 đồng.

Kết luận giám định số 1584/KL-KTHS ngày 25/8/2023 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: Chất cục bột màu trắng đựng trong 01 gói giấy bạc một mặt màu trắng, một mặt màu trắng bạc là ma túy, có khối lượng 0,027 gam, loại Heroine.

Đối với hành vi của Thân Văn T, Thân Văn H1, Nguyễn Thành Đ cùng nhau trộm cắp của anh Hoàng Văn T4 01 chiếc giá phơi đồ trị giá 909.000 đồng; Thân Văn H1Nguyễn Thành Đ cùng nhau trộm cắp của ông Đào Văn T5 01 con vịt trị giá 120.000 đồng. T, H1, Đ chưa có tiền án, tiền sự; giá trị tài sản dưới 2.000.000 đồng không đủ yếu tố cấu thành tội trộm cắp tài sản nên Công an thành phố B đã quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

Đối với Thân Văn H1Nguyễn Thành Đ có hành vi tàng trữ trái phép 0,027 gam ma túy heroin, mục đích để sử dụng nên không đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự. Do vậy, Công an thành phố B định xử phạt vi phạm hành chính đối với H1Đ về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

  • Tại bản cáo trạng số 219/CT-VKS ngày 26 tháng 10 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang đã truy tố bị cáo Thân Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
  • Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã nêu.
  • Hội đồng xét xử công bố lời khai của những người tham gia tố tụng được triệu tập nhưng vắng mặt tại phiên tòa và các tài liệu khác có trong hồ sơ. Những người tham gia tố tụng tại phiên tòa nhất trí và không có ý kiến gì.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Thân Văn T từ 06 tháng tù đến 09 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời gian thử thách từ 12 tháng đến 18 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện V giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

- Áp dụng khoản 4 Điều 328 của Bộ luật tố tụng Hình sự, trả tự do cho bị cáo

4

ngay tại phiên tòa.

- Về án phí: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định pháp luật.

* Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Bị cáo xin được hưởng án treo để có cơ hội cải sửa bản thân.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

[2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, bị hại, những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Tuy nhiên trong hồ sơ đã có lời khai những người này nên căn cứ Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt họ.

[3] Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên toà hôm nay phù hợp lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 01 giờ ngày 18/8/2023, Thân Văn T đi xe máy từ nhà ở thôn B, xã T, huyện V, tỉnh Bắc Giang đến xã T, thành phố B để trộm cắp tài sản. T đã vào sân nhà anh Lương Hồng Hthôn T, xã T, thành phố B trộm cắp của anh H chiếc xe máy nhãn hiệu Wave BKS 98M3-6168 trị giá 3.500.000 đồng sau đó đem đi cất giấu tại bãi đất trống thuộc thôn B, xã T, huyện V mục đích để đem đi bán. Cùng ngày, lực lượng bảo vệ khu công nghiệp tuần tra phát hiện chiếc xe máy nên báo cho Công an xã T thu giữ vật chứng và chuyển cho Cơ quan CSĐT Công an thành phố B để giải quyết. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý, hành vi của bị cáo xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản được pháp luật bảo vệ nên đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang truy tố bị cáo về tội danh trên là có căn cứ và đúng pháp luật.

[4] Về tính chất hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật trị an xã hội và hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân. Do vậy,

5

cần phải xử nghiêm bị cáo bằng pháp luật hình sự mới đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật.

[5] Xét về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo: Bị cáo có nhân thân tốt và không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo tự nguyện ra đầu thú, bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo .

[6] Bị cáo có nhân thân tốt, lần phạm tội này là lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng. Do vậy, Hội đồng xét xử thấy chưa cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo, giao bị cáo cho UBND xã, phường nơi cư trú giám sát, giáo dục cũng không gây nguy hiểm cho xã hội và đủ để giáo dục bị cáo trở thành công dân biết tuân thủ pháp luật.

[7] Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp nên cần miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[8] Về trách nhiệm dân sự: Do bị hại không có yêu cầu gì nên không xem xét giải quyết.

[9] Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

[10] Áp dụng khoản 4 Điều 328 của Bộ luật tố tụng Hình sự, trả tự do cho bị cáo ngay tại phiên tòa.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65, khoản 1 và khoản 4 Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

  1. Xử phạt bị cáo Thân Văn T 07 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời gian thử thách là 01 năm 02 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo T cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện V, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt

6

tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì áp dụng theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

  1. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  2. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
  3. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự ./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bắc Giang
  • - VKSND thành phố Bắc Giang;
  • - CQCSĐT-CA TP Bắc Giang;
  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - Chi cục THADS TP Bắc Giang;
  • - Sở tư pháp;
  • - Bị cáo;
  • - UBND x.Tăng Tiến, h.Việt Yên, Bắc Giang;
  • - Những người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu hồ sơ, văn phòng.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Phương Thảo

7

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 214/2023/HS-ST ngày 22/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG về hình sự sơ thẩm (trộm cắp tài sản)

  • Số bản án: 214/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Trộm cắp tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Thân Văn Th "Trộm cắp tài sản"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger