Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 214/2024/HS-PT

Ngày: 22-8-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Ông Lê Khắc Thịnh
Các Thẩm phán:Ông Nguyễn Văn Mỹ
Ông Phạm Minh Tùng

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Minh Châu – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Phạm Minh Trí - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 02, 22 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 115/2024/TLPT-HS ngày 02 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo Huỳnh Thanh T và các đồng phạm. Do có kháng cáo của các bị cáo Huỳnh Thanh T, Nguyễn Thanh P và Đỗ Trọng P1 đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 15/2024/HS-ST ngày 20 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành.

Bị cáo có kháng cáo:

  1. Họ và tên: Huỳnh Thanh T; Tên gọi khác: Cu Trần; Sinh ngày 04/01/2004 tại: tỉnh Đồng Tháp; Nơi cư trú: Số F, Đường L, Khóm C, Phường C, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp; Nghề nghiệp: mua bán phế liệu; Trình độ học vấn: 6/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Con ông: Huỳnh Thanh H, sinh năm 1978 và bà: Đỗ Thị Kim A, sinh năm 1982; Tiền án, tiền sự: không có; Tạm giữ ngày 28/02/2023; Tạm giam ngày 7/3/2023; Bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ.
  2. Họ và tên: Nguyễn Thanh P, sinh ngày 01/01/2003, tại: tỉnh Đồng Tháp; Nơi cư trú: Số M, Đường L, Khóm C, Phường C, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp; Nghề nghiệp: không có; Trình độ học vấn: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Tiền án, tiền sự: không có; Con ông: Nguyễn Văn T1 (chết) và bà: Nguyễn Thị Thu V (chết); Vợ: Nguyễn Thị Thùy T2, sinh năm 2003 (không có đăng ký kết hôn); Tiền án, tiền sự: không có; Tạm giữ ngày 28/02/2023; Tạm giam ngày 7/3/2023; Bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ.
  3. Họ và tên: Đỗ Trọng P1, sinh ngày 29/5/2003, tại: tỉnh Đồng Tháp; Nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp; Nghề nghiệp: không có; Trình độ học vấn: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Tiền án, tiền sự: không có; Con ông: Đỗ Quang H1, sinh năm 1972 và bà: Nguyễn Thị N, sinh năm 1973; Tiền án, tiền sự: không có; Tạm giữ ngày 28/02/2023; Tạm giam ngày 7/3/2023; Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ.

Người bào chữa cho bị cáo Đỗ Trọng P1 theo yêu cầu: Luật sư Hồ Thị Xuân H2 – văn phòng L2, thuộc Đoàn luật sư tỉnh Đ (có mặt).

Trong vụ án còn có các bị cáo Phan Thanh H3, Nguyễn Lê Anh D; bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không kháng cáo và Viện kiểm sát không kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Huỳnh Thanh T, sinh năm 2004, ngụ Khóm C, Phường C, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp; Đỗ Trọng P1, sinh năm 2003, ngụ ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp; Nguyễn Thanh P, sinh năm 2003, ngụ Khóm C, Phường C, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp và Nguyễn Lê Anh D, sinh năm 2005, ngụ ấp Đ, xã T, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp không có nghề nghiệp ổn định. Do không có tiền tiêu xài nên T, P và P1 rủ D và H3 tham gia cướp giật tài sản bán chia nheu tiêu xài. Từ ngày 12/02/2023 đến ngày 28/02/2023 các bị can đã thực hiện nhiều vụ Cướp giật tài sản trên địa bàn các huyện C, L, Lấp V1. Cụ thể như sau:

Lần thứ nhất: Vào khoảng 19 giờ 20 phút, ngày 12/02/2023, Huỳnh Thanh T, Nguyễn Thanh P, Đỗ Trọng P1 và Nguyễn Lê Anh D ngồi uống nước tại nhà Nguyễn Thị Thanh N1 (bạn gái của D) ở thành phố S. Tại đây, T, P và P1 rủ D đi cướp giật tài sản thì D đồng ý, cả nhóm bàn bạc với nhau là chạy xe mô tô theo Q, tỉnh lộ tìm người đi xe mô tô có đeo túi xách, người nào chạy trước phát hiện thì giật túi xách, người chạy sau thì cản trở nếu có người đuổi theo thì tất cả đồng ý. T điều khiển xe mô tô Exciter màu trắng đỏ, biển số 66S1-220.01 chở P ngồi sau. D điều khiển xe mô tô nhãn Exciter, màu xanh biển số 66V1-279.21 chở P1 ngồi sau, chạy trên tuyến Quốc lộ H từ hướng thành phố S về huyện L tìm người có tài sản thì thực hiện. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, khi chạy đến gần Lò nem Ú, thuộc ấp H, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp thì T phát hiện anh Lê Hữu T3, sinh năm 1994, chạy xe mô tô nhãn hiệu SH 150i, màu đỏ đen, biển số 66V1-523.96 chở con trai là Lê Tuấn K 06 tuổi ngồi phía trước còn vợ là chị Nguyễn Thị Kim C, sinh năm 1992 ngồi sau, có đeo túi xách bằng vải (dây đeo bằng vải), đeo chéo từ vai phải sang hông trái. Lúc này, T chở P chạy xe vượt lên áp sát bên trái với xe mô tô của anh T3 cho P dùng tay phải giật túi xách của chị C rồi tăng ga bỏ chạy. Thời điểm này, D chở P1 chạy lên lạng lách trước đầu xe của anh T3 nhằm không cho anh T3 truy đuổi. Đi một đoạn thì cả nhóm dừng lại, P kiểm tra túi xách có tài sản gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu SamSung Galaxy Note 8, màu vàng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu SamSung Galaxy J8 màu tím; tiền Việt Nam: 3.000.000 đồng cùng nhiều giấy tờ tùy thân. P vứt bỏ túi xách cùng các giấy tờ có liên quan xuống sông, sau đó chia cho mỗi người 750.000 đồng, còn 02 điện thoại di động thì P giữ. Sau đó cả nhóm chạy xe về thành phố S. Ngày 13/02/2023, T chở P đến tiệm điện thoại di động “V” của anh Huỳnh Việt H4, sinh năm 1976, thuộc Khóm A, Phường C, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp bán 02 chiếc điện thoại đã giật được với giá 2.800.000 đồng, chia cho mỗi người 700.000 đồng.

Lần thứ hai, ba: Vào khoảng 19 giờ ngày 18/02/2023, T chở P bằng xe mô tô Exciter màu trắng đỏ biển số 66S1-220.01 chạy trên Quốc lộ H từ TP S về hướng TP V. Khi vừa xuống dốc cầu C, thuộc ấp T, xã A, huyện C, tỉnh Đồng Tháp thì T phát hiện bà Lê Thị Kim L, sinh năm 1969 điều khiển xe mô tô hiệu SH Mode màu trắng, biển số 66C1-354.86 chạy ngược chiều đến nên T cho xe quay lại đuổi theo.T chạy xe áp sát vào xe của bà L để P ngồi phía sau giật túi xách đang đeo trên người nhưng không giật được và làm bà L té ngã xuống đường.

Sau đó, P cùng T chạy xe về hướng huyện L. Đến khoảng 20 giờ 40 phút cùng ngày, khi xe chạy trên tỉnh lộ 852, thuộc ấp H, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp thì T phát hiện chị Nguyễn Thị Anh T4, sinh năm 2003 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu WAVE alpha, màu xanh, biển số 66V1-292.80 chạy cùng chiều, có đeo túi xách bằng vải màu nâu (dây đeo bằng vải) đeo chéo từ vai phải sang hông trái, chở mẹ ruột là chị Phan Thị Thùy T5, sinh năm 1982. T chạy xe áp sát bên trái xe của chị T4 cho P ngồi phía sau dùng tay phải giật lấy túi xách của chị T4 rồi tăng ga bỏ chạy ra Quốc lộ H để về thành phố S. Đi được 01 đoạn thì T dừng xe lại cho P kiểm tra túi xách có: 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone XS màu trắng, tiền Việt Nam là 510.000 đồng, cùng các giấy tờ tùy thân. P lấy tiền và điện thoại di động cất vào người, còn túi xách và giấy tờ thì vứt xuống sông gần đó rồi cả hai về nhà ngủ. Ngày 19/02/2023, T chở P đến tiệm điện thoại “Văn Tấn” của anh Bùi Văn T6, sinh năm 1990, thuộc khóm S, phường T, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp bán điện thoại di động được 1.200.000 đồng, cộng với số tiền mặt là 510.000 đồng, T và P chia nhau, mỗi người được 855.000 đồng.Sau đó chị T4 hay tin nên đến gặp anh Tấn c lại điện thoại với số tiền 1.200.000₫.

Lần thứ tư, năm, sáu: Vào khoảng 18 giờ ngày 24/02/2023, Huỳnh Thanh T, Đỗ Trọng P1, Nguyễn Thanh P và Phan Thanh H3, sinh năm 2007 ngồi uống nước tại nhà Nguyễn Thị Thanh N1 ở thành phố S. Lúc này T, P, P1 rủ nhau đi cướp giật tài sản, H3 nghe được nên xin đi theo thì cả nhóm đồng ý. T điều khiển xe mô tô Exciter, màu trắng đỏ, biển số 66S1-220.01 chở P, P1 điều khiển xe mô tô WINNER X, màu xanh, biển số 66F1-845.40, chở Phan Thanh H3,ngồi phía sau chạy trên đường ĐT 848 theo hướng từ thành phố S đến huyện L tìm đối tượng giật tài sản. Khi đến đoạn đường gần cầu C, thuộc ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp thì P1 chở H3 chạy phía trước, còn T chở P chạy phía sau. Lúc này cả nhóm phát hiện 02 người phụ nữ (chưa xác định được họ tên và địa chỉ) điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Wave màu xanh (không rõ biển số xe), người ngồi sau có đeo túi xách, đeo chéo từ vai phải sang hông trái, chạy ngược chiều nên cả nhóm quay xe lại đuổi theo. Lúc này, P1 chạy xe áp sát xe bị hại cho H3 ngồi sau dùng tay phải giật lấy túi xách của người ngồi sau nhưng do người ngồi sau nắm giữ lại nên không lấy được túi xách, cả nhóm tăng ga xe tẩu thoát.

Sau đó cả nhóm đi trên Quốc lộ H từ hướng huyện L về thành phố S. Lúc này khoảng 19 giờ, khi đến đoạn đường thuộc ấp T, xã H, huyện L, tỉnh Đồng Tháp thì phát hiện 01 người nam điều khiển xe tay ga (không nhớ nhãn hiệu và biển số xe) chở 01 người nữ (chưa xác định được họ tên và địa chỉ) ngồi sau đi ngược chiều, nên cả nhóm quay lại đuổi theo. T điều khiển xe áp sát vào xe bị hại cho P ngồi phía sau giật túi xách của người phụ nữ rồi tăng ga chạy về hướng huyện L. Sau đó cả nhóm quay đầu xe chạy về hướng thành phố S.

Lúc này khoảng 20 giờ, khi cả nhóm đến ấp T, xã H, huyện L thì phát hiện anh Nguyễn Thanh B, sinh năm 1995, điều khiển xe mô tô nhãn hiệu SH màu trắng biển số 65E1-618.23 chở anh Nguyễn Hoàng G, sinh năm 1998 ngồi sau chạy ngược chiều đến nên cả nhóm quay xe lại đuổi theo. P1 điều khiển xe chạy áp sát cho H3 ngồi phía sau giật túi xách của anh G đang đeo trên người rồi cả nhóm tăng ga bỏ chạy về hướng huyện L rồi quay lại thành phố S. Chạy xe được 01 đoạn thì cả nhóm dừng lại kiểm tra tài sản giật được. P kiểm tra túi xách của người phụ nữ phát hiện bên trong có 02 điện thoại di động hiệu Vivo, H3 kiểm tra túi xách của anh G bên trong có 01 điện thoại di động hiệu S A22 và số tiền 3.350.000 đồng. Đến ngày 25/02/2023, P và T đem bán 03 điện thoại tại cửa hàng điện thoại “Thành Nghị” của anh Trương Thành N2, sinh năm 1985, thuộc khóm S, phường T, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp với giá 5.800.000 đồng rồi chia cho mỗi người được 1.450.000đ.

Lần thứ bảy, tám: Vào khoảng 16 giờ ngày 28/02/2023, P nhắn tin rủ T đi giật tài sản thì T đồng ý. Khoảng 17 giờ cùng ngày, P điều khiển xe mô tô Exciter màu trắng đỏ, biển số 66S1-220.01 chạy gần đến nhà của N1 thì gặp T chở P1 đến cửa hàng “Minh Chánh” thuộc Đường N, xã T, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp để thuê chiếc xe Sonic biển số 66C1- 476.87 cùng đi giật tài sản. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, T điều khiển xe mô tô Exciter màu trắng đỏ, biển số 66S1-220.01 chở P, P1 điều khiển xe Sonic biển số 66C1-476.87 đi trên ĐT848 từ thành phố S về hướng huyện L. Lúc này khoảng 19 giờ cùng ngày, khi đến ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp thì cả nhóm phát hiện anh Nguyễn Văn Hữu T7, sinh năm 1990 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Vison, biển số 66D1-469.12 chở vợ là Lê Hoàng Yến N3, sinh năm 1994 ngồi phía sau, có đeo túi xách bằng vải, đeo chéo từ vai phải sang hông trái chạy ngược chiều đến nên cả nhóm quay đầu xe lại đuổi theo. T chạy xe áp sát vào xe anh T7 cho P ngồi phía sau giật túi xách của chị N3 rồi tăng ga bỏ chạy. Khi chạy đến dốc cầu không rõ tên thì T dừng xe lại cho P kiểm tra túi xách, lấy 01 điện thoại di động hiệu iPhone 6S, tiền Việt Nam khoảng hơn 5.000.000 đồng, còn túi xách thì ném xuống sông. P giữ tiền và đưa điện thoại di động iPhone 6S cho P1 đến của hàng điện thoại “Minh Trung” của anh Lê Huỳnh Minh T8, sinh năm 1988, thuộc Số B, đường T, khóm T, phường A, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp bán được 200.000 đồng.

Sau đó cả nhóm chạy trên Quốc lộ H về huyện C. Khi đến ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp thì P phát hiện anh Phạm Trần Trung H5, sinh năm 1989, điều khiển xe mô tô nhãn hiệu SH Mode biển số 66S1-535.28 chở chị Nguyễn Thị Mỹ D1, sinh năm 1995, ngồi sau có đeo túi xách. Lúc này, T chạy xe áp sát bên trái xe của anh H5 cho P giật cái túi xách của chị D1 rồi tăng ga chạy về hướng thị trấn C. Sau đó cả nhóm quay lại về thành phố S.Trên đường về, T chở P đến gần trại hòm “M" thuộc Phường B, thành phố S thì T dừng xe lại cho P kiểm tra có một điện thoại di động hiệu Phone 12 Promax và số tiền hơn 4.000.000 đồng và một số giấy tờ tùy thân của chị D1 và anh H5. P đưa điện thoại cho P1 đi bán tại cửa hàng điện thoại “M” với giá 5.000.000 đồng. P lấy tiền cất trong người, còn túi xách thì ném xuống sông. Sau đó cả nhóm về nhà của N1 thì bị Công an huyện C kết hợp Công an phường B1, TP S kiểm tra bắt giữ các đối tượng và thu hồi tang vật.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C tạm giữ:

  • - Lê Huỳnh Minh T8: 01 điện thoại di động hiệu iPhone 12 Promax; 01 điện thoại hiệu iPhone 6S màu vàng.
  • - Huỳnh Thanh T: 01 xe mô tô biển số 66S1-220.01,01 nón bảo hiểm màu trắng, kết nón màu đen.
  • - Đỗ Trọng P1: 01 xe mô tô biển số 66C1-476.87, 01 áo khoát màu đen dài tay, ở phần ngực bên trái có chữ Adidas, 01 nón bảo hiểm màu trắng, kết nón màu đen.
  • - Nguyễn Thanh P: tiền Việt Nam 13.737.000 đồng và 01 tờ 500đ, 01 áo khoát màu đen dài tay, ở phần ngực bên trái có chữ Adidas, 01 nón bảo hiểm màu trắng, kết nón màu đen.
  • - Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L tạm giữ: 01 điện thoại di động hiệu Vivo màu xanh dương do anh Trương Thành N2 tự nguyện giao nộp.
  • - Nguyễn Lê Anh D: Tiền Việt Nam 800.000 đồng, 01 thẻ căn cước công dân mang tên Nguyễn Lê Anh D, 01 điện thoại iPhone 11 Promax màu gold của Nguyễn Lê Anh D, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 66S1-249.78, 01 xe mô tô hiệu Air Blade biển số 66S1-249.78.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L tạm giữ :

  • - Nguyễn Thị Anh T4 : 01 điện thoại di động hiệu iPhone Xs màu trắng; Lê Huỳnh Minh T8 01 điện thoại hiệu iPhone 6S màu vàng.

Kết quả định giá tài sản:

  • - Kết luận định giá tài sản số 28/KL-HĐĐGTS, ngày 28/3/2023 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự huyện C, tỉnh Đồng Tháp, kết quả như sau: 01 điện thoại di động, đã qua sử dụng, hiệu iPhone 12 Promax, màu gold, loại 256GB có giá 14.000.000 đồng.
  • - Kết luận định giá tài sản số 25/KL-ĐGTS ngày 14/3/2023 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự huyện L, tỉnh Đồng Tháp, kết quả như sau: 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A22 màu xanh có giá 4.720.000 đồng và 01 túi đeo chất liệu da tổng hợp màu đen có giá 170.000 đồng. Tổng giá trị tài sản là 4.890.000 đồng.
  • - Kết luận định giá tài sản số 15/KL-HĐĐGTS ngày 10/4/2023 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự huyện L, tỉnh Đồng Tháp, kết quả như sau: 01 điện thoại di động hiệu iPhone 6S, dung lượng 16GB, màu vàng đồng, đã qua sử dụng có giá 567.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu iPhone XS, dung lượng 64GB, màu trắng, đã qua sử dụng có giá 4.667.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu S 8, màu vàng đồng, đã qua sử dụng có giá 2.167.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu S J8, màu tím đã qua sử dụng có giá 833.000 đồng. Tổng giá trị tài sản là 8.234.000 đồng.

Kết quả giám định hình ảnh, thương tật:

  • - Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 171/TgT ngày 14/4/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh Đ kết luận Lê Thị Kim L như sau: Sẹo vết thương phần mềm vùng cẳng chân phải, kích thước nhỏ có tỷ lệ tổn thương 01%; Sẹo vết thương phần mềm vùng cổ chân phải, kích thước trung bình có tỷ lệ tổn thương 02%; Sẹo mổ vùng xương đòn phải, kích thước trung bình có tỷ lệ tổn thương 02%; Gãy xương đòn phải đã can liền tốt có tỷ lệ tổn thương 08%. Tổng tỷ lệ thương tật là: 13%.
  • - Tại bản Kết luận giám định số 473/KL-KTHS ngày 30/4/2023 của Phòng K2 Công an tỉnh Đ kết luận đoạn camera do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L gửi giám định không bị cắt ghép, chỉnh sửa về nội dung.
  • - Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Đồng Tháp đã trao trả: xe mô tô biển số 66S1-220.01 cho anh Nguyễn Tuấn K1; xe mô tô 66C1- 476.87 cho anh Đoàn Hữu N4; trao trả điện thoại di động hiệu iPhone 12 Promax và số tiền 4.000.000 đồng và tờ tiền 500 đồng cho chị Nguyễn Thị Mỹ D1; trao trả số tiền 5.200.000 đồng cho anh Lê Huỳnh Minh T8; trao trả số tiền 4.617.000 đồng cho chị Lê Hoàng Yến N3; trao trả 01 xe mô tô hiệu Air Blade biển số 66S1-249.78 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 66S1-249.78 cho chị Lê Thị Ngọc L1, sinh năm 1986, ngụ ấp Đ, xã T, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp; 01 thẻ căn cước công dân cho bị can Nguyễn Lê Anh D.
  • - Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã trao trả cho Nguyễn Thị Anh T4: 01 điện thoại di động hiệu iPhone Xs màu trắng; 01 điện thoại di động hiệu iPhone 6S màu vàng cho chị Lê Hoàng Yến N3.
  • - Đối với xe mô tô hiệu Exciter biển số 66S1-220.01 là của anh Nguyễn Tuấn K1 sinh năm 1987, ngụ Khóm C, Phường C, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp là chủ sở hữu. Lúc đầu chị Nguyễn Thị Huỳnh T9 (vợ anh K1 là cô của T) cho T thuê sau đó thì cho T mượn để đi lại.
  • - Đối với xe mô tô hiệu Winner X biển số 66F1-845.40 và xe mô tô Sonic biển số 66C1 - 476.87 là do P1 thuê tại cửa hàng “Minh Chánh” ( anh Đoàn Hữu N4, sinh năm 1982, ngụ Phường B, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp là chủ sở hữu mô tô xe biển số 66C1 - 476.87). Khi thuê xe hai bên có làm hợp đồng cho thuê đúng quy định.
  • - Đối với xe mô tô hiệu Exciter biển số 66V1-279.21 là của bị can Nguyễn Lê Anh D đứng tên chủ sở hữu, sau đó D đã bán xe mô tô trên cho người tên H4 (không rõ họ tên) nhà ở xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp thông qua mạng xã hội Facebook, hiện không thu hồi được.
  • - Đối với xe mô tô hiệu Air Blade biển số 66S1-249.78 tạm giữ của bị can Nguyễn Lê Anh D là xe của chị Lê Thị Ngọc L1 (mẹ ruột của D) đứng tên chủ sở hữu. Chị L1 cho D mượn xe để đi lại và không có tham gia vụ cướp giật nào nên trao trả xe lại cho chị L1 sử dụng.
  • - Đối với điện thoại di động hiệu Vivo mà các bị can cướp giật được vào ngày 24/02/2023. Hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã thông báo truy tìm bị hại nhưng đến nay vẫn chưa có bị hại đến trình báo.
  • - Đối với anh Huỳnh Việt H4 (cửa hàng Đ) do thời gian đã lâu nên không nhớ có mua điện thoại hiệu S Galaxy Note 8 và điện thoại hiệu S J8 hay không.
  • - Đối với anh Lê Huỳnh Minh T8 (cửa hàng điện thoại Minh T8), anh Bùi Văn T6 (cửa hàng điện thoại Văn T6) và anh Trương Thành N2 (cửa hàng điện thoại Thành N2) khi mua điện thoại của các bị can thì không biết đó là tài sản do phạm tội mà có.
  • - Đối với việc các bị can tập trung ở nhà Nguyễn Thị Thanh N1 bàn bạc đi cướp giật tài sản thì N1 không biết nên không xem xét xử lý.
  • - Đối với chị Nguyễn Thị Mỹ D1 do vết thương nhẹ không có đi điều trị nên không yêu cầu giám định thương tật và bồi thường dân sự.

Về dân sự:

  • - Anh Nguyễn Hoàng G yêu cầu các bị can T, P, P1 và H3 bồi thường số tiền 3.350.000 đồng, 01 điện thoại di động hiệu Samsung A22 và 01 túi da đeo theo kết quả định giá là 4.890.000 đồng.
  • - Chị Nguyễn Thị Kim C yêu cầu các bị can T, P, P1 và D bồi thường tài sản thiệt hại và chi phí đi lại làm các giấy tờ với số tiền 9.000.000 đồng.
  • - Chị Lê Hoàng Yến N3 yêu cầu các bị can P, T và P1 bồi thường số tiền còn lại là 383.000đ.
  • - Chị Lê Thị Kim L yêu cầu các bị cáo T và P bồi thường chi phí điều trị thương tích và chi phí sửa chữa xe mô tô biển số 66C1-354.86, tổng cộng 35.000.000 đồng.
  • - Các bị cáo đều thống nhất nhất bồi thường theo yêu cầu của các bị hại, người liên quan nhưng hiện chưa có tiền.
  • - Đối với chị Nguyễn Thị Anh T4 không yêu cầu các bị cáo T và P bồi thường số tiền 1.710.000đ cũng như chi phí làm các giấy tờ đã mất nên không đề cập đến.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 15/2024/HS-ST ngày 20/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành đã quyết định:

Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Thanh T, Nguyễn Thanh P, Đỗ Trọng P1 phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Căn cứ điểm d, e khoản 2 Điều 171; điểm s, r khoản 1, 2 Điều 51; điểm g, o khoản 1 Điều 52; Điều 17, Điều 38 và Điều 58 Bộ Luật Hình sự;

Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Thanh T 06 (Sáu) năm 06 (Sáu) tháng tù; Thời hạn tù tính từ ngày 28 tháng 02 năm 2023.

Căn cứ điểm d, e khoản 2 Điều 171; điểm s, r khoản 1, 2 Điều 51; điểm g, o khoản 1 Điều 52; Điều 17, Điều 38 và Điều 58 Bộ Luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh P 05 (Năm) năm 06 (Sáu) tháng tù; Thời hạn tù tính từ ngày 28 tháng 02 năm 2023.

Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s, r khoản 1, 2 Điều 51; điểm g, o khoản 1 Điều 52; Điều 17, Điều 38 và Điều 58 Bộ Luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Đỗ Trọng P1 04 (Bốn) năm 06 (Sáu) tháng tù; Thời hạn tù tính từ ngày 28 tháng 02 năm 2023.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên phạt bị cáo Nguyễn Lê Anh D 03 (ba) năm tù và bị cáo Phan Thanh H3 02 (hai) năm tù cùng về tội “Cướp giật tài sản”; tuyên về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 27 tháng 3 năm 2024, các bị cáo Huỳnh Thanh T, Nguyễn Thanh P, Đỗ Trọng P1 cùng có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Huỳnh Thanh T và Nguyễn Thanh P đã rút toàn bộ kháng cáo.

Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu quan điểm: Hành vi của các bị cáo Huỳnh Thanh T, Nguyễn Thanh P, Đỗ Trọng P1 bị Tòa án cấp sơ thẩm quy kết về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d, e khoản 2 Điều 171 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật. Sau khi án sơ thẩm tuyên, các bị cáo Huỳnh Thanh T, Nguyễn Thanh P, Đỗ Trọng P1 cùng có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt. Tại phiên toà phúc thẩm, các bị cáo Huỳnh Thanh T, Nguyễn Thanh P đã rút toàn bộ kháng cáo nên đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với các bị cáo T và P.

Đối với bị cáo Đỗ Trọng P1, bị cáo kháng cáo có cung cấp tình tiết mới là bị cáo đã nộp tiền khắc phục bồi thường toàn bộ cho các bị hại và tiền án phí sơ thẩm; gia đình bị cáo có công với Cách mạng, bà nội của bị cáo được tặng thưởng Huân chương chiến thắng hạng Ba. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà cấp sơ thẩm chưa xem xét cho bị cáo. Tuy nhiên, xét mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm tuyên đối với bị cáo P1 là phù hợp với tính chất, mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. Mặt khác, bị cáo có nhiều tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự như phạm tội nhiều lần, xúi giục người chưa thành niên phạm tội. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đỗ Trọng P1, giữ nguyên phần quyết định của bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo Đỗ Trọng P1.

Luật sư bào chữa cho bị cáo Đỗ Trọng P1 phát biểu quan điểm: Thống nhất với quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều khoản của tội danh áp dụng đối với bị cáo P1 cũng như các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, vị đại diện Viện kiểm sát cho rằng bị cáo phạm tội nhiều lần, xúi giục người chưa thành niên phạm tội nên án sơ thẩm áp dụng mức hình phạt như vậy là phù hợp, là chưa thoả đáng. Bị cáo cung cấp thêm những tình tiết tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới là những tình tiết mà cấp sơ thẩm chưa xem xét cho bị cáo như sau khi án sơ thẩm tuyên bị cáo đã nộp tiền khắc phục bồi thường toàn bộ cho các bị hại và tiền án phí sơ thẩm; gia đình bị cáo có công với Cách mạng, bà nội của bị cáo được tặng thưởng Huân chương chiến thắng hạng Ba; bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; là lao động chính trong gia đình. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định cụ thể trong Bộ luật hình sự, cần phải xem xét cho bị cáo, thể hiện tính nhân đạo của pháp luật. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo P1.

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, không tranh luận, không bào chữa bổ sung. Lời nói sau cùng, bị cáo Đỗ Trọng P1 xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa, các bị cáo Huỳnh Thanh T, Nguyễn Thanh P, Đỗ Trọng P1 đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với lời khai của các bị cáo khác, người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng cùng các chứng cứ trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để xác định: Từ ngày 12/02/2023 đến ngày 28/02/2023, các bị cáo Huỳnh Thanh T, Nguyễn Thanh P, Đỗ Trọng P1, Nguyễn Lê Anh D và Phan Thanh H3 đã dùng xe mô tô là nguồn nguy hiểm cao độ thực hiện 08 vụ cướp giật tài sản của nhiều bị hại trên địa bàn các huyện C, L, Lấp V1, đồng thời gây tổn thương cơ thể cho bị hại Lê Thị Kim L 13%; Tài sản chiếm đoạt tài sản gồm: 08 điện thoại di động, trị giá 26.954.000 đồng, tiền Việt Nam đồng 14.860.000 đồng cùng một số giấy tờ tùy thân, tổng cộng 41.814.000 đồng, đem bán được 15.000.000 đồng chia nhau tiêu xài. Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, trong đó Huỳnh Thanh T và Nguyễn Thanh P trực tiếp tham gia 08 vụ, hưởng lợi mỗi bị cáo 3.005.000 đồng; Đỗ Trọng P1 tham gia 06 vụ hưởng lợi 2.150.000 đồng; Phan Thanh H3 tham gia 03 vụ, hưởng lợi 1.450.000 đồng; Nguyễn Lê Anh D tham gia 01 vụ, hưởng lợi 700.000 đồng.

[2] Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo Huỳnh Thanh T, Nguyễn Thanh P, Đỗ Trọng P1 là người đã trưởng thành, có thể chất, tinh thần phát triển bình thường, có khả năng điều khiển hành vi, nhận thức được pháp luật, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Các bị cáo nhận thức được tài sản hợp pháp của con người luôn được pháp luật bảo vệ. Nếu người nào có hành vi xâm phạm đến tài sản của người khác một cách trái pháp luật cũng đều bị xử lý. Thế nhưng với ý thức xem thường pháp luật, không tôn trọng tài sản của người khác nên các bị cáo đã có hành vi như đã nêu trên. Khi thực hiện hành vi, các bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là trái pháp luật và sẽ bị pháp luật trừng trị nhưng các bị cáo vẫn thực hiện. Chứng tỏ hành vi của các bị cáo là cố ý trực tiếp và tội phạm đã hoàn thành.

[3] Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử các bị cáo Huỳnh Thanh T, Nguyễn Thanh P về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d, e khoản 2 Điều 171 của Bộ luật hình sự; xét xử bị cáo Đỗ Trọng P1 về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 171 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật. Sau khi án sơ thẩm tuyên, các bị cáo Huỳnh Thanh T, Nguyễn Thanh P, Đỗ Trọng P1 cùng có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt. Tại phiên toà phúc thẩm, các bị cáo Huỳnh Thanh T, Nguyễn Thanh P đã rút toàn bộ kháng cáo. Xét việc rút toàn bộ kháng cáo của các bị cáo T và P đều hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với các bị cáo T và P.

Đối với bị cáo Đỗ Trọng P1, bị cáo kháng cáo có cung cấp thêm tình tiết mới là sau khi án sơ thẩm tuyên bị cáo đã tác động gia đình nộp tiền khắc phục bồi thường toàn bộ cho các bị hại và tiền án phí sơ thẩm; gia đình bị cáo có công với Cách mạng, bà nội của bị cáo được tặng thưởng Huân chương chiến thắng hạng Ba. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà cấp sơ thẩm chưa xem xét cho bị cáo. Tuy nhiên, xét mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm tuyên đối với bị cáo P1 là phù hợp với tính chất, mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. Mặt khác, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo có nhiều tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự như phạm tội nhiều lần, xúi giục người chưa thành niên phạm tội. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đỗ Trọng P1, giữ nguyên phần quyết định của bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo Đỗ Trọng P1.

[4] Từ những nội dung trên, xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đối với các bị cáo là có cơ sở, phù hợp pháp luật, nên được Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.

Xét đề nghị của vị Luật sư tại phiên tòa đối với bị cáo Đỗ Trọng P1 là một trong những cơ sở để Hội đồng xét xử đánh giá khi quyết định hình phạt.

[5] Do kháng cáo của bị cáo Đỗ Trọng P1 không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo luật định.

Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ Điều 348; điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự.

Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với các bị cáo Huỳnh Thanh T, Nguyễn Thanh P. Bản án hình sự sơ thẩm số: 15/2024/HS-ST ngày 20/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành có hiệu luật pháp luật đối với các bị cáo Huỳnh Thanh T, Nguyễn Thanh P.

Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Đỗ Trọng P1. Giữ nguyên phần quyết định của bản án hình sự sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo Đỗ Trọng P1.

2. Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Trọng P1 phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 171; điểm b, s, r khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g, o khoản 1 Điều 52; Điều 17, Điều 38 và Điều 58 Bộ Luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Đỗ Trọng P1 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 28 tháng 02 năm 2023.

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Các bị cáo Huỳnh Thanh T, Nguyễn Thanh P không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Bị cáo Đỗ Trọng P1 phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

4. Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TANDTC (Vụ GĐKT 1);
  • - VKSND Tỉnh;
  • - Ban nội chính Tỉnh ủy;
  • - Sở Tư pháp Tỉnh;
  • - TAND huyện Châu Thành (06 bản);
  • - VKSND huyện Châu Thành;
  • - Chi cục THADS huyện Châu Thành;
  • - CQCSĐT CA huyện Châu Thành;
  • - CQTHAHS Công an Tỉnh;
  • - CQTHAHS CA huyện Châu Thành;
  • - Phòng hồ sơ nghiệp vụ CAT;
  • - Trại tạm giam Công an Tỉnh;
  • - Phòng KTNV-THA Tòa án Tỉnh;
  • - Bị cáo; NBC;
  • - Lưu VT, HSVA (Châu).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Lê Khắc Thịnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 214/2024/HS-PT ngày 22/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về hình sự phúc thẩm về tội cướp giật tài sản

  • Số bản án: 214/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm về tội Cướp giật tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 22/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: CƯỚP GIẬT TÀI SẢN
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger