|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 214/2024/HS-ST Ngày 11-11-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Liên
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Bùi Thị Nhàn
- Ông Vũ Văn Thi
- Thư ký phiên toà: Bà Lưu Hoàng Ngọc Khanh - Thư ký Toà án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Hồng Sơn - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến (Điểm cầu trung tâm: Tòa án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng; điểm cầu thành phần: Trại Tạm giam Công an thành phố H) vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 210/2024/TLST-HS ngày 21 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 209/2024/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 10 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Xuân B, sinh ngày 10 tháng 12 năm 1969 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn T, xã Đ, huyện A, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 1/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Xuân G và bà Bùi Thị H; có vợ là Lê Thị C và 02 con; tiền án: Có 02 tiền án chưa được xoá tại Bản án số 82/2018/HS-ST ngày 28/11/2018 của Toà án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tổng hợp hình phạt là 30 tháng tù; Bản án số 35/2022/HS-ST ngày 18/5/2022 của Toà án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; tiền sự: Không; bị tạm giam ngày 12/8/2024; có mặt.
2. Nguyễn Văn M, sinh ngày 20 tháng 8 năm 1987 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn N, xã Q, huyện A, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H1 và bà Nguyễn Thị D; chưa có vợ, con; tiền án: Có 01 tiền án chưa được xóa án tại Bản án số 35/2022/HS-ST ngày 18/5/2022 Toà án nhân dân huyện An Dương, xử phạt 18 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; tiền sự: Không; bị tạm giam từ ngày 12/8/2024; có mặt.
- Bị hại: Anh Lục Văn B1, sinh năm 1978; Nơi cư trú: Thôn N, xã Q, huyện A, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 27/3/2024, anh Lục Văn B1, sinh năm 1978, trú tại thôn N, xã Q, huyện A đến Công an xã Q trình báo về việc khoảng 02 giờ sáng cùng ngày, Nguyễn Văn M và Nguyễn Xuân B đã đến chòi của anh trộm cắp tài sản. Khi bị phát hiện, B điều khiển xe mô tô chở M bỏ chạy, để lại 01 xe kéo tự chế và số tài sản trộm cắp.
Sau khi thụ lý tin báo, Cơ quan điều tra trưng cầu định giá tài sản. Kết luận định giá tài sản số 41/KL-HĐĐG ngày 19/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện A, kết luận: 04 ống sắt tròn loại phi 3,4cm dài 2,7m; 01 ống sắt tròn loại phi 4,2cm dài 3,2m; 01 ống sắt hộp kích thước 0,08x0,04x2,7m; 04 ống sắt tròn loại phi 4,2cm dài lần lượt 2,3m, 2,4m, 03m, 04m; 01 ống sắt tròn loại phi 3,4cm dài 2,7m; 01 tấm lưới B40 kích thước 1,7x1,6m có gắn 01 cột sắt phi 3,4cm dài 2m; 01 cánh cửa bằng tôn màu xanh kích thước 1,9x0,8m, phần viền bằng sắt hộp kích thước 2,5x05cm, gắn sắt ống loại phi 4,8cm dài 2,4m; 01 cánh cổng làm bằng lưới B40 kích thước 2,15x1,17m, viền bằng sắt hộp kích thước 03x06cm. Tổng giá trị 950.000 đồng.
Quá trình điều tra Nguyễn Xuân B, Nguyễn Văn M khai nhận: Tối ngày 26/3/2024, B rủ M đi trộm cắp tài sản để bán lấy tiền tiêu. Khoảng 02 giờ ngày 27/3/2024 B điều khiển xe mô tô 15K1-055.58 chở M đến thôn N, xã Q, thấy chòi của nhà anh B1 không có ai trông coi nên cả hai vào tháo lấy tài sản là ống sắt, cửa sắt, hàng rào sắt..., sau đó Ba ở lại trông còn M đi về nhà B lấy xe kéo tự chế đến. Khi B và M đang chuyển số tài sản trộm cắp lên xe kéo thì bị anh B1 phát hiện, cả hai lên xe mô tô bỏ chạy để lại xe kéo và toàn bộ số tài sản đã trộm cắp như trên. Cơ quan công an đã thu giữ chiếc chiếc xe mô tô biển kiểm soát 15K1-055.58 của Ba.
Cáo trạng số 226/CT-VKSAD ngày 21 tháng 10 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng truy tố các bị cáo Nguyễn Xuân B và Nguyễn Văn M về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, các bị cáo Nguyễn Xuân B và Nguyễn Văn M khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung nêu trên. Các bị cáo nhận thức hình vi của mình là trái pháp luật nên các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Dương vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Xuân B và Nguyễn Văn M phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các điều 17, 38, 58 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân B từ 15 tháng đến 18 tháng tù và xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M từ 12 tháng đến 15 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
[2] Về chứng cứ xác định bị cáo có tội và tội danh: Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, phù hợp với của người làm chứng, vật chứng thu giữ, phù hợp với Kết luận định giá và với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên đủ cơ sở kết luận: Khoảng hơn 02 giờ ngày 27/3/2024, Nguyễn Xuân B và Nguyễn Văn M rủ nhau lén lút chiếm đoạt tài sản là các ống sắt tròn, lướt sắt B40, cánh cửa tôn, cánh cổng lưới B40 của anh Lục Văn B1 ở thôn N, xã Q, huyện A, thành phố Hải Phòng có tổng trị giá là 950.000 đồng. Tại thời điểm lén lút chiếm đoạt tài sản của bị hại, Nguyễn Xuân B và Nguyễn Văn M đều đã bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích tại bản án số 35/2022/HS-ST ngày 18/5/2022 và tiền án này là yếu tố định tội nên hành vi của các bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
[3] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến đến quyền sở hữu của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an ở địa phương nên cần xét xử nghiêm để giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.
[4] Về vai trò, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, hình phạt: Bị cáo M là người khởi xướng, chuẩn bị phương tiện phạm tội, bị cáo Minh L cùng B thực hiện hành vi phạm tội nên đánh gia vai trò của bị cáo Ba cao hơn và chịu mức hình phạt cao hơn bị cáo M. Các bị cáo thành khẩn khai báo, đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại; bị cáo Nguyễn Văn M đã tham gia nghĩa vụ quân sự, bị cáo Nguyễn Xuân B có anh ruột là liệt sĩ nên các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Xét các bị cáo đều là đối tượng nghiện ma túy, nhân thân xấu nên cần áp dụng hình phạt tù cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, răn đe các bị cáo và phòng ngừa tội phạm. Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự các bị cáo còn có thể bị phạt tiền, xét tính chất hành vi phạm tội và hoàn cảnh gia đình các bị cáo nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Nguyễn Xuân B và Nguyễn Văn M đã tự nguyện bồi thường cho anh Lục Văn B1 số tiền 1.000.000 đồng, anh Bằng K yêu cầu gì khác nên không xem xét giải quyết
[6] Về vật chứng: Số tài sản các bị cáo chiếm đoạt của anh B1 đã trả lại cho anh B1; 01 xe kéo tự chế của Ba là phương tiện các bị cáo sử dụng khi phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước; đối vớ xe mô tô biển kiểm soát 15K1-055.58 các bị cáo sử dụng khi phạm tội nhưng chưa xác minh được chủ sở hữu hợp pháp nên cơ quan điều trả tiếp tục làm rõ xử lý sau.
[7] Về án phí, quyền kháng cáo: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm; các bị cáo và bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các điều 17, 38 và 58 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Xuân B và Nguyễn Văn M.
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Xuân B và Nguyễn Văn M phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân B 15 (Mười lăm) tháng tù.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M 12 (Mười hai) tháng tù.
Thời hạn tù của các bị cáo tính từ ngày 12 tháng 8 năm 2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 xe kéo tự chế bằng kim loại (vật chứng có đặc điểm chi tiết theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 25 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Dương, thành phố Hải Phòng).
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 6 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc các bị cáo Nguyễn Xuân B và Nguyễn Văn M phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước.
Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
Về quyền yêu cầu thi hành án: Trong trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Liên |
Bản án số 214/2024/HS-ST ngày 11/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 214/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Xuân Ba
