Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PHAN THIẾT

TỈNH BÌNH THUẬN

Bản án số: 214/2024/HS-ST

Ngày: 26 - 9 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT

TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Thu Hà

Các hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Đỗ Văn Hoà
  2. Bà Nguyễn Thị Viết Sáu

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thanh Trúc là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Ông Giang Anh Tuấn – Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 179/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 276/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:

1.Trần Đình H, Giới tính: N, T gọi khác: không, Sinh năm 1995 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; Nơi thường trú: tổ F, khu phố C, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 07/12; Nghề nghiệp: không; Con ông: Trần Đình H1, sinh năm 1966; Con bà: Nguyễn Thị Lan P, sinh năm 1967; Tiền án: Ngày 17/3/2014 bị Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 50/2014/HSST. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 14/8/2014, Ngày 16/9/2015 bị Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “tái phạm” xử phạt 04 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” theo bản án số 122/2015/HSST. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 16/4/2019, Ngày 28/9/2020 bị Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh áp dụng tình tiết định khung tăng nặng “tái phạm nguy hiểm” xử phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 146/2020/HSST. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 20/01/2023; Tiền sự: không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 07/11/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B “Có mặt”.

2. Cung Đức V, Giới tính: Nữ. Tên gọi khác: không, S năm 1990 tại: tỉnh Quảng Ninh; Nơi thường trú: số 444/02/7 đường Cách mạng tháng T, Phường A, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: không; Tiền án, tiền sự: không; Con ông: Cung Văn L, sinh năm 1954; Con bà: Phạm Thị H2, sinh năm 1957; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 07/11/2023. Hiện đang bị tam giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B “Có mặt”.

- Bị hại:

Nguyễn Thị Ngọc H3, sinh năm 1997 “Vắng mặt”.

Địa chỉ: thôn T, xã T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án án được tóm tắt như sau:

Trần Đình H (sinh năm 1995; hộ khẩu thường trú: tổ F, khu phố C, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh) và Cung Đức V (sinh năm 1990; Hộ khẩu thường trú: số 444/02/7 đường Cách mạng tháng T, Phường A, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh) sống chung với nhau như vợ chồng. Khuya ngày 04/11/2023, H và V di chuyển bằng xe khách đến thành phố P, tỉnh Bình Thuận; khi đi H mang theo 30 tờ tiền giả mệnh giá 500.000 đồng với mục đích để tiêu thụ, đổi lấy tiền thật. Khi đến thành phố P, H và V di chuyển đến khu chung cư O thuộc phường P, thành phố P thuê phòng C328 để nghỉ ngơi. Sáng ngày 05/11/2023, H thuê xe mô tô hiệu Honda Vario biển kiểm soát 86C1-938.59 của chị Đỗ Thị Hồng Á (sinh năm 1990; hộ khẩu thường trú: tổ D, khu phố C, phường P, thành phố P, cho thuê xe mô tô) để đi lại. Đến chiều tối ngày 05/11/2023, H chở V đi đến những cửa hàng tạp hóa trên địa bàn thành phố P để mua thuốc lá nhằm mục đích để lưu hành, tiêu thụ các tờ tiền giả mệnh giá 500.000 đồng và lấy lại tiền thật mệnh giá thấp hơn do các cửa hàng tạp hóa trả lại tiền dư. Cụ thể: H dùng xe mô tô chở V đi tới tiệm T1 mua một gói thuốc lá hiệu 555, sau khi được báo giá thì H lấy trong ví của mình một tờ tiền giả mệnh giá 500.000 đồng đưa cho V (V biết được những tờ tiền H đưa là tiền giả) và V đưa tiền cho chủ tiệm tạp hóa để chủ tiệm tạp hóa trả lại tiền thật thì V nhận và đưa cho H. Các lần mua thuốc lá thì giá giao động từ 35.000 đồng đến 40.000 đồng, một số lần V đưa cho chủ tiệm tạp hóa 500.000 đồng tiền giả và 5.000 đồng tiền thật để chủ tiệm tạp hóa trả lại 470.000 đồng tiền thật, còn những lần khác chủ tiệm tạp hóa trả lại 460.000 đồng tiền thật. Tối ngày 05/11/2023, H chở V ghé khoảng năm tiệm tạp hóa để lưu hành, tiêu thụ tiền giả với thủ đoạn như trên.

Đến khoảng 09 giờ sáng ngày 06/11/2023, H và V dự tính ghé khu vực B, huyện B để tham quan. Trên đường đi, H tiếp tục chở V ghé những quán tạp hóa để mua thuốc lá nhằm mục đích để lưu hành, tiêu thụ tiền giả. Thời điểm trên H và V mặc áo khoác đôi màu nâu, đội nón bảo hiểm đôi màu cam, mang dép đôi dạng quai ngang màu sáng, trên quai ngang có hàng chữ “NER-RDY”. Đến khoảng 12 giờ 08 phút ngày 06/11/2023, H chở V đến tạp hoá của chị Nguyễn Thị Ngọc H3 (sinh năm 1997; trú tại: thôn T, xã T, thành phố P) để mua 01 gói thuốc lá 555, V đưa cho chị H3 01 tờ tiền giả mệnh giá 500.000 đồng, có số seri BK12357212, 02 tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng, 01 tờ mệnh giá 1.000 đồng. Lúc này, V và H cải vã nhau do cả hai đã hẹn đến Bàu Trắng chơi nhưng H cứ ghé nhiều tiệm tạp hóa và đưa tiền giả để lưu hành. Sau khi chị H3 trả lại tiền thật thì cả hai nhanh chóng rời đi. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày, H và V đến khu vực B, huyện B để tham quan, sau đó V và H quay về khu chung cư O nghỉ ngơi.

Sau khi H và V rời đi, lúc này nghi ngờ đây là tiền giả nên chị H3 đã trình báo cơ quan Công an. Bằng các biên pháp nghiệp vụ và đặc điểm nhận dạng ban đầu, Cơ quan điều tra đã xác định được H và V là đối tượng thực hiện hành vi phạm tội. Đến 22 giờ 10 phút cùng ngày 06/11/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố P phát hiện, bắt quả tang H và V đang có hành vi tàng trữ 13 tờ tiền giả mệnh giá 500.000 đồng tại căn hộ C328 của chung cư O, thuộc khu phố E, phường P, thành phố P có số seri lần lượt là: AF 22411532; AF 13228514; AF 31231467; JH 24226771; JH 11435631; FK 21137412; BK 11256821; OC 12647221; QZ 15214425; WS 11432514; ZN 22149621; PS 12328431; LS 17321123. Ngoài ra, còn phát hiện một số chất H khai nhận là ma túy.

Qua đấu tranh làm việc, H và V thừa nhận đây là số tiền giả chưa kịp lưu hành, tiêu thụ hết. Từ ngày 04/11/2023 đến ngày 06/11/2023 H và V đã lưu hành, tiêu thụ được 17 tờ tiền giả mệnh giá 500.000 đồng ở nhiều cửa hàng tạp hóa không xác định được địa chỉ. Số tiền thật đổi được sau khi lưu hành, tiêu thụ, H và V đã sử dụng để chi trả cho các dịch vụ ăn uống, du lịch trên địa bàn thành phố P và mua 01 vòng vàng cho V vào ngày 5/11/2023 tại tiệm V1 ở thành phố P.

H khai nhận nguồn gốc số tiền giả trên mua từ Nguyễn Văn Trọng N1 (sinh năm 1988; hộ khẩu thương trú: số DN, phường C, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh). H quen biết N1 do H và N1 có thời gian đi chấp hành án tại Trại giam A, tỉnh Bình Phước và N1 nói với H là N1 có nguồn tiền giả. Qua đấu tranh làm việc, N1 không thừa nhận hành vi bán tiền giả cho H.

Sau khi tiếp nhận thụ lý giải quyết ban đầu, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P đã chuyển vụ việc trên đến Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh B giải quyết theo thẩm quyền.

Vật chứng, đồ vật bị tạm giữ:

Tạm giữ của Trần Đình H:

  • 13 tờ tiền Ngân hàng N2 mệnh giá 500.000 đồng có các số seri lần lượt là: AF 22411532; AF 13228514; AF 31231467; JH 24226771; JH 11435631; FK 21137412; BK 11256821; OC 12647221; QZ 15214425; WS 11432514; ZN 22149621; PS 12328431; LS 17321123.
  • 01 điện thoại di động hiệu Iphone, màu xanh rêu, có đặc điểm bị nứt bể góc màn hình bên trái, có số I: 352850110999788.
  • 01 xe mô tô hiệu Honda Vario màu xanh đen, biển số 86C1 – 938.59; số máy: KF41E1642300; số khung: MH1KF411XKK641714.
  • 01 chứng nhận đăng ký xe mô tô số 86011741 mang tên Nguyễn Văn H4 (sinh năm 1991; trú tại: tổ B, khu phố B, phường P, thành phố P), biển số đăng ký 86C1-938.59; số máy: KF41E1642300; số khung: MH1KF411XKK641714.
  • 12 gói thuốc lá nhãn hiệu 555.
  • 01 giấy bảo đảm của tiệm V1 thể hiện 01 vòng bản giác máy, số lượng 1C5F3, tuổi vàng 18K.
  • 01 gói nylon không màu, hàn kín, kích thước khoảng (5,5 x 06) cm, bên trong gói nylon có chứa chất bột màu trắng thu trên đĩa sứ, được niêm phong đánh số 01.
  • 01 gói nylon không màu, hàn kín, kích thước khoảng (03 x 04) cm, bên trong gói nylon có chứa chất bột màu trắng thu trên đĩa sứ. Được niêm phong đánh số 02.

Tạm giữ của Cung Đức V:

  • 01 Điện thoại di động hiệu Redmi, màu xanh, có Số I: 863138061926642/00.
  • 01 vòng bản giác máy có đặc điểm kim loại màu vàng.

Tạm giữ của Nguyễn Văn Trọng N1:

  • 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax màu xanh, số máy: MLKP3LL/A, số seri: J7YW30TM76; số Imei: 350419534484074; số Imei 2: 350419534280167.

Tạm giữ từ chị Nguyễn Thị Ngọc H3:

  • 01 tờ tiền Ngân hàng N2 mệnh giá 500.000 đồng, có số seri: BK12357212.

Tại Kết luận giám định số: 1307/KL-KTHS ngày 10/11/2023 của Phòng K, Công an tỉnh B, xác định: “14 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng cần giám định là tiền giả”.

Xử lý vật chứng:

  • Trả lại Nguyễn Văn Trọng N1 một điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax màu xanh, số máy: MLKP3LL/A, số seri: J7YW30TM76; số Imei: 350419534484074; số Imei 2: 350419534280167.
  • Đối với xe mô tô hiệu Honda Vario màu xanh đen, biển số 86C1 – 938.59; số máy: KF41E1642300, số khung: MH1KF411XKK641714 và 01 chứng nhận đăng ký xe mô tô số 86011741 mang tên Nguyễn Văn H4 (sinh năm 1991; trú tại: tổ B, khu phố B, phường P, thành phố P) biển số đăng ký 86C1-938.59. Qúa trình điều tra xác định vợ chồng anh H4 làm nghề cho thuê xe tự lái; việc H và V thuê xe mô tô rồi dùng làm phương tiện thực hiện tội phạm anh H4 không biết. Do đó, Cơ quan An ninh điều tra - Công an tỉnh B đã xử lý vật chứng trả lại xe mô tô và giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô cho anh H4.
  • Đối với 14 tờ tiền Ngân hàng N2 mệnh giá 500.000 đồng có các số seri lần lượt là: AF 22411532; AF 13228514; AF 31231467; JH 24226771; JH 11435631; FK 21137412; BK 11256821; OC 12647221; QZ 15214425; WS 11432514; ZN 22149621; PS 12328431; LS 17321123; BK12357212 qua giám định là tiền giả được lưu giữ cùng hồ sơ vụ án để làm căn cứ giải quyết.
  • Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone, màu xanh rêu, có số Imei: 352850110999788; 01 điện thoại di động hiệu Redmi, màu xanh, có số Imei: 863138061926642/00; 01 vòng bản giác máy có đặc điểm kim loại màu vàng (H khai nhận dùng tiền đổi được để mua vàng cho V); 01 giấy bảo đảm của tiệm V1 thể hiện 01 vòng bản giác máy, số lượng 1C5F3, tuổi vàng 18K; 12 gói thuốc lá nhãn hiệu 555 là các vật chứng liên quan đến vụ án. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận đã ra Quyết định chuyển đến kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân thành phố Phan Thiết bảo quản, chờ xử lý tiếp theo.

Về dân sự: chị Nguyễn Thị Ngọc H3 không yêu cầu Trần Đình H và Cung Đức V bồi thường lại số tiền đã chiếm đoạt.

Tại bản cáo trạng số 19/CT – VKSBT – P1 ngày 02 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận đã truy tố bị cáo Trần Đình H, Cung Đức V về tội “Tàng trữ, lưu hành tiền giả” theo quy định tại khoản 02 Điều 207 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị hội đồng xét xử áp dụng khoản 02 Điều 207, điểm h khoản 01 Điều 52, điểm s khoản 01 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Trần Đình H mức án từ 6 đến 7 năm tù, áp dụng khoản 02 Điều 207, điểm s khoản 01 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Cung Đức V mức án từ 5 đến 6 năm tù.

Bồi thường dân sự: bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường.

Các bị cáo không trình bày lời bào chữa cũng như không có ý kiến về lời luận tội của Viện kiểm sát đồng thời thừa nhận tòan bộ hành vi phạm tội và đồng ý với quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết.

Các bị cáo thấy được hành vi các bị cáo là sai trái ăn năn hối cải mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được trang tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra – Công an thành phố P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiền hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Xét lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác thu thập theo quy định của pháp luật có tại hồ sơ và được thẩm tra tại phiên tòa, đủ cơ sở để kết luận:

Vào ngày 04/11/2023, bị cáo Trần Đình H và bị cáo Cung Đức V đã mang theo 30 tờ tiền giả mệnh giá 500.000 đồng đến thành phố P, tỉnh Bình Thuận để lưu hành, tiêu thụ, đổi lấy tiền thật. Bị cáo H và bị cáo V đi đến cửa hàng tạp hóa trên địa bàn thành phố P và dùng thủ đoạn mua thuốc lá, sau đó đưa tiền giả mệnh giá 500.000 đồng để được trả lại tiền thật. Từ ngày 05/11/2023 đến ngày 06/11/2023, H và V đã lưu hành, tiêu thụ được 17 tờ tiền giả mệnh giá 500.000 đồng ở nhiều cửa hàng tạp hóa khác nhau thì bị phát hiện, bắt giữ.

Xét thấy, các bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp, hành vi của các bị cáo xâm phạm trật tự quản lý hành chính của Nhà nước về tiền tệ, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, trị an tại địa phương đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ, lưu hành tiền giả” theo quy định tại khoản 02 Điều 207 Bộ luật hình sự như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết đã truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội của các bị cáo: Hành vi phạm tội của các bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, các bị cáo nhận thức được việc tàng trữ, lưu hành tiền giả là hành vi vi phạm pháp luật, nhưng chỉ vì mục đích hám lợi trước mắt mà các bị cáo đã bất chấp hậu quả xảy ra, các bị cáo cùng nhau thực hiện tội phạm mang tính liều lĩnh. Hành vi của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến tài sản của những người bị hại, xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của nhà nước về tiền tệ, quản lý kinh tế. Bị cáo H và bị cáo V đi đến cửa hàng tạp hóa trên địa bàn thành phố P và dùng thủ đoạn mua thuốc lá, sau đó đưa tiền giả mệnh giá 500.000 đồng để được trả lại tiền thật. Hành vi của các bị cáo đã gây ảnh hưởng rất lớn đến tình hình an ninh chính trị, trật tự xã hội ở địa phương, gây tâm lý hoang mang lo sợ trong quần chúng nhân dân.

Xét vai trò của các bị cáo thấy rằng, bị cáo H là người chủ động liên hệ, tìm người để mua tiền giả, sau đó cùng với bị cáo V mang đi tiêu thụ. Đối với bị cáo V, bị cáo V giữ vai trò đồng phạm giúp sức tích cực cho bị cáo H mặc dù biết bị cáo H vi phạm pháp luật nhưng bị cáo V không ngăn cản mà cùng với bị cáo H thực hiện hành vi phạm tội. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt sẽ xem xét nhân thân, tính chất mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo để có mức án tương xứng cho từng bị cáo.

[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Tại Bản án số 146/2020/HSST ngày 28/9/2020, bị cáo Trần Đình H bị Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh áp dụng tình tiết định khung tăng nặng “tái phạm nguy hiểm” xử phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 20/01/2023, chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội rất nghiêm trọng với lỗi cố ý. Do đó trong lần phạm tội này thuộc trường hợp “tái phạm nguy hiểm” là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 01 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: các bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 01 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xét về nhân thân, bị cáo H là người có nhân thân không tốt, đã từng bị xét xử về hành vi “Trộm cắp tài sản”, “Cướp tài sản”, đúng ra bị cáo phải biết lần phạm tội trước là sai trái, từ đó biết tu sửa bản thân trở thành người tốt mới phải, trái lại bị cáo lại tiếp tục lao vào con đường phạm tội, cho thấy bị cáo không biết hối cải mà vẫn tiếp tục phạm tội.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo là có căn cứ và với mức án mà Kiểm sát viên đề nghị là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo.

Trên cơ sở cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội của các bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xem xét nhân thân các bị cáo, xét thấy cần cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định là cần thiết.

[5] Về bồi thường dân sự: bị hại không yêu cầu các bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không xét.

[6] Về xử lý vật chứng:

  • Đối với 14 tờ tiền Ngân hàng N2 mệnh giá 500.000 đồng có các số seri lần lượt là: AF 22411532; AF 13228514; AF 31231467; JH 24226771; JH 11435631; FK 21137412; BK 11256821; OC 12647221; QZ 15214425; WS 11432514; ZN 22149621; PS 12328431; LS 17321123; BK12357212 qua giám định là tiền giả được lưu giữ cùng hồ sơ vụ án để làm căn cứ giải quyết.
  • Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone, màu xanh rêu, có số Imei: 352850110999788; 01 vòng bản giác máy có đặc điểm kim loại màu vàng (H khai nhận dùng tiền đổi được để mua vàng cho V); 01 giấy bảo đảm của tiệm V1 thể hiện 01 vòng bản giác máy, số lượng 1C5F3, tuổi vàng 18K là phương tiện và tài sản có được từ việc phạm tội nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước. Tịch thu tiêu huỷ 12 gói thuốc lá nhãn hiệu 555 là vật không có giá trị sử dụng.
  • Trả lại cho bị cáo Cung Đức V 01 điện thoại di động hiệu Redmi, màu xanh, có số Imei: 863138061926642/00 là vật chứng không liên quan đến vụ án.

Đối với Nguyễn Văn Trọng N1, ngoài lời khai của H không còn chứng cứ nào khác chứng minh N1 đã bán tiền giả cho H lưu hành. Qua khai thác dữ liệu điện tử từ điện thoại của N1 không có nội dung liên quan đến giao dịch mua bán tiền giả với H nên không có căn cứ để xử lý.

Đối với chất nghi là ma túy do H tàng trữ và các đồ vật liên quan đến hành vi trên của H, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố P đã tách hành vi ra xử lý trong một vụ án khác.

[7] Về án phí: các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 02 Điều 207; điểm h khoản 01 Điều 52; điểm s khoản 01 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự.

- Tuyên bố: Bị cáo Trần Đình H phạm tội “Tàng trữ, lưu hành tiền giả”.

- Xử phạt: Bị cáo Trần Đình H 06 (Sáu) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07/11/2023.

Căn cứ vào khoản 02 Điều 207; điểm s khoản 01 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự.

- Tuyên bố: Bị cáo Cung Đức V phạm tội “Tàng trữ, lưu hành tiền giả”.

- Xử phạt: Bị cáo Cung Đức V 05 (Năm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07/11/2023.

- Biện pháp tư pháp: Áp dụng: điểm a, b khoản 01 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, b, c khoản 02, điểm a khoản 03 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, tuyên:

  • Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Iphone, màu xanh rêu, có số Imei: 352850110999788; 01 vòng bản giác máy có đặc điểm kim loại màu vàng kèm theo 01 giấy bảo đảm của tiệm V1 thể hiện 01 vòng bản giác máy, số lượng 1C5F3, tuổi vàng 18K là phương tiện phạm tội và tài sản có được từ việc phạm tội.
  • Tịch thu tiêu huỷ 12 gói thuốc lá nhãn hiệu 555 là vật không có giá trị sử dụng.
  • Trả lại cho bị cáo Cung Đức V 01 điện thoại di động hiệu Redmi, màu xanh, có số Imei: 863138061926642/00 là vật chứng không liên quan đến vụ án.

(Theo biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng số 141 ngày 08/7/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận, biên bản giao nhận tài sản số 01 ngày 29/5/2024 tại Kho bạc nhà nước).

- Về án phí: Áp dụng khoản 02 Điều 135, khoản 02 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a khoản 01 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của ủy ban thường vụ Q về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Trần Đình H, Cung Đức V mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Quyền kháng cáo bản án của các bị cáo là 15 ngày kể từ ngày tuyên án (26/9/2024). Quyền kháng cáo bản án của bị hại vắng mặt tại phiên toà là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án tại địa phương.

Nơi nhận

  • - VKSND thành phố Phan Thiết;
  • - VKSND tỉnh Bình Thuận;
  • - TAND tỉnh Bình Thuận;
  • - Công an thành phố Phan Thiết;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - UBND địa phương nơi b/c thường trú;
  • - Thi hành án thành phố Phan Thiết;
  • - Lưu hồ sơ.

TM – HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Thị Thu Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 214/2024/HS-ST ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN về tàng trữ, lưu hành tiền giả

  • Số bản án: 214/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ, lưu hành tiền giả
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Đình H-Cung Đức V phạm tội "Tàng trữ lưu hành tiền giả"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger