|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA TỈNH LONG AN Bản án số: 214/2024/DS-ST Ngày: 30 - 7 - 2024 “V/v: Tranh chấp HĐ tín dụng” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Khắc Linh Duy.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Lê Thị Xuân Đào;
- Bà Trần Thị Thanh Thảo.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Trà - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lê Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 447/2024/TLST-DS ngày 13 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 291/2024/QĐXXST-DS ngày 24 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 191/2024/QĐST-DS ngày 12 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng N (A).
Trụ sở chính: Số B L, phường T, quận B, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Toàn V, chức vụ: Tổng Giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Trần Thị P, chức vụ: Giám đốc A Chi nhánh huyện Đ, tỉnh Long An (Theo Quyết định ủy quyền số: 2665/QĐ-HĐTV-PC ngày 01/12/2022).
Người đại diện theo ủy quyền của bà P: Ông Trần Quốc T, chức vụ: Trưởng phòng khách hàng. Địa chỉ: Ô, khu B, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Long An (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
Bị đơn: Ông Võ Hoàng Đại P1, sinh năm 1998.
Địa chỉ: Ô, khu B, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Long An (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 26/4/2024, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn, bà Trần Thị P và ông Trần Quốc T trình bày:
Ông Võ Hoàng Đại P1 đã ký kết các hợp đồng tín dụng với A Chi nhánh huyện Đ, tỉnh Long An như sau:
- Hợp đồng tín dụng số: 6612-LAV-202203119 ngày 27/12/2022; số tiền vay: 1.500.000.000 đồng (Một tỷ năm trăm triệu đồng); mục đích vay: Trồng mai vàng; Lãi suất tại thời điểm vay 13,5%/năm (lãi suất hiện tại 11,5%/năm); thời hạn vay: 60 tháng;
- Hợp đồng tín dụng số 6612-LAV-202300935 ngày 18/04/2023, số tiền vay: 850.000.000 đồng (T1 trăm năm mươi triệu đồng); mục đích vay: Chăn nuôi bò, lãi suất tại thời điểm vay 11%/năm (lãi suất hiện tại 11,5%/năm), thời hạn vay: 60 tháng. Tổng số tiền gốc mà ông P1 vay tại ngân hàng: 2.350.000.000 đồng (Hai tỷ ba trăm năm mươi triệu đồng).
Để đảm bảo cho các khoản vay trên, ông P1 đã thế chấp tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất tọa lạc tại thửa đất số 819; tờ bản đồ số 61; diện tích 919m², loại đất LUC thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DC 413557 do Sở Tài Nguyên và Môi Trường tỉnh L cấp ngày 31/05/2021, đất tọa lạc tại thị Trấn H, huyện Đ, tỉnh Long An theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 220813/HDTC ngày 21/12/2022 kèm theo văn bản sửa đổi sung hợp đồng thế chấp số 220813.1/VBSĐ ngày 17/04/2023 giữa A Chi nhánh Huyện Đ với ông Võ Hoàng Đại P1.
Tính đến thời điểm hiện tại, ông Võ Hoàng Đại P1 không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thanh toán nợ cho A Chi nhánh huyện Đ dẫn đến vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo Điều khoản về nghĩa vụ trả nợ của các hợp đồng tín dụng đã ký với A Chi nhánh Huyện Đ. Mặc dù A Chi nhánh huyện Đ đã nhiều lần liên hệ, thông báo, đến nhà nhắc nhớ, đôn đốc trả nợ nhưng đến nay ông P1 vẫn cố tình vi phạm hợp đồng, không thanh toán nợ vay theo hợp đồng tín dụng đã ký. Điều này dẫn đến toàn bộ số nợ gốc và lãi vay đã chuyển sang nợ quá hạn, ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
Nay Ngân hàng N yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Buộc ông Võ Hoàng Đại P1 thanh toán toàn bộ nợ gốc và lãi tạm tính đến ngày 30/7/2024 cho Ngân hàng N theo các hợp đồng tín dụng đã ký với tổng số tiền 2.734.910.546 đồng (Hai tỷ bảy trăm ba mươi bốn triệu chín trăm mười nghìn năm trăm bốn mươi sáu đồng). Trong đó: nợ G: 2.350.000.000 đồng; Lãi: 384.910.546 đồng.
- Buộc ông Võ Hoàng Đại P1 tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng N phần nợ lãi phát sinh đối với số nợ còn lại theo mức lãi suất quá hạn thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng đã ký kết với A Chi nhánh huyện Đ từ ngày 31/7/2024 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.
- Trường hợp ông Võ Hoàng Đại P1 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng N, đề nghị Tòa án cho Ngân hàng N yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi toàn bộ tài sản đã thế chấp tại A Chi nhánh huyện Đ là: Quyền sử dụng thửa đất số 819; tờ bản đồ số 61; diện tích 919m², loại đất LUC thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số DC 413557 do Sở Tài Nguyên và Môi Trường tỉnh L cấp ngày 31/05/2021, tọa lạc tại thị Trấn H, huyện Đ, tỉnh Long An. Tài sản trên được thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 220813/HĐTC ngày 21/12/2022 kèm theo văn bản sửa đổi sung hợp đồng thế chấp số 220813.1/VBSĐ ngày 17/04/2023 giữa A Chi nhánh huyện Đ với ông Võ Hoàng Đại P1, được chứng thực tại Văn phòng C. Toàn bộ số tiền thu được từ việc phát mãi tài sản bảo đảm được dùng để cấn trừ nghĩa vụ trả nợ của ông Võ Hoàng Đại P1 đối với A
- Nếu số tiền phát mãi tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ của ông Võ Hoàng Đại P1 thì ông Võ Hoàng Đại P1 vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ cho ngân hàng bằng nguồn thu và các tài sản khác.
Bị đơn ông Võ Hoàng Đại P1 vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án thụ lý giải quyết và vắng mặt tại phiên tòa nên không có ý kiến trình bày.
Tòa án đã tiến hành tống đạt các thủ tục tố tụng cho ông Võ Hoàng Đại P1 theo quy định tại Điều 177 Bộ luật Tố tụng dân sự, ông P1 biết Tòa án đang thụ lý giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng với Ngân hàng N nhưng ông P1 không tham gia cung cấp ý kiến, không tham gia hòa giải, nên vụ án không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 1 Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, ông Võ Hoàng Đại P1 vắng mặt lần thứ hai không có lý do nên Hội đồng xét xử giải quyết theo đơn khởi kiện của Ngân hàng N và xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Tại phiên tòa, nguyên đơn Ngân hàng N giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, không cung cấp thêm chứng cứ.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Từ khi vụ án được thụ lý đến khi xét xử Thẩm phán, Thư ký, người tiến hành tố tụng tại phiên tòa thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Người tham gia tố tụng thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Căn cứ theo Hợp đồng tín dụng số 6612-LAV-202203119 ngày 27/12/2022, Hợp đồng tín dụng số 6612-LAV-202300935 ngày 18/04/2023 và Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 220813/HĐTC ngày 21/12/2022 kèm theo văn bản sửa đổi sung hợp đồng thế chấp số 220813.1/VBSĐ ngày 17/04/2023 giữa A Chi nhánh huyện Đ với ông Võ Hoàng Đại P1 thì có cơ sở xác định từ khi giao kết hợp đồng tín dụng đến nay, ông Võ Hoàng Đại P1 chưa thanh toán nợ gốc và lãi cho Ngân hàng N theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng đã ký. Do đó, A khởi kiện yêu cầu ông Võ Hoàng Đại P1 thanh toán nợ gốc và lãi và đề nghị phát mãi tài sản theo hợp đồng thế chấp đã ký là có căn cứ. Đề nghị HĐXX chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
[1.1]. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền: Ngân hàng N khởi kiện yêu cầu ông Võ Hoàng Đại P1 thanh toán các khoản tiền nợ gốc và lãi theo Hợp đồng tín dụng số 6612-LAV-202203119 ngày 27/12/2022 và Hợp đồng tín dụng số 6612-LAV-202300935 ngày 18/04/2023; ông Võ Hoàng Đại P1 có địa chỉ cư trú tại Ô, Khu B, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Long An nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, Tòa án thụ lý và xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo qui định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
[1.2]. Về sự vắng mặt của các đương sự:
Tại phiên tòa, bị đơn ông Võ Hoàng Đại P1 vắng mặt lần thứ hai không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xử vắng mặt bị đơn là phù hợp theo quy định khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng N có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xử vắng mặt nguyên đơn là phù hợp theo quy định khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về nội dung:
[2.1]. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về tranh chấp hợp đồng tín dụng :
Xét Hợp đồng tín dụng số: 6612-LAV-202203119 ngày 27/12/2022 và Hợp đồng tín dụng số 6612-LAV-202300935 ngày 18/04/2023 được Ngân hàng N - Chi nhánh huyện Đ, Long An ký kết với ông Võ Hoàng Đại P1 bằng văn bản có nội dung và hình thức đúng qui định nên đây là hợp đồng tín dụng hợp pháp.
Hội đồng xét xử xét: Quá trình thực hiện Hợp đồng tín dụng số: 6612-LAV-202203119 ngày 27/12/2022 và Hợp đồng tín dụng số 6612-LAV-202300935 ngày 18/04/2023 đến nay đã quá hạn, phía A nhiều lần liên hệ và nhắc nhỡ nhưng bên vay là ông Võ Hoàng Đại P1 không thanh toán cho A số tiền nợ gốc, lãi quá hạn là vi phạm nghĩa vụ trả nợ và ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của A theo thỏa thuận đã ký. Quá trình giải quyết, ông Võ Hoàng Đại P1 vắng mặt, không có ý kiến trình bày đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Xét nội dung của Hợp đồng tín dụng số 6612-LAV-202203119 ngày 27/12/2022 và Hợp đồng tín dụng số 6612-LAV-202300935 ngày 18/04/2023 giữa A Chi nhánh huyện Đ với ông P1: hợp đồng thỏa mãn các điều kiện của giao dịch dân sự theo quy định của Điều 463 Bộ luật dân sự và các Điều 91,95 Luật tổ chức tín dụng nên có hiệu lực và làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên tham gia giao dịch. A có cung cấp đầy đủ chứng minh ông Võ Hoàng Đại P1 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán tiền gốc và lãi. Do đó, Ngân hàng N yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Võ Hoàng Đại P1 thanh toán toàn bộ nợ gốc theo các hợp đồng tín dụng đã ký là 2.350.000.000 đồng là có căn cứ chấp nhận.
[2.2]. A yêu cầu buộc ông Võ Hoàng Đại P1 tiếp tục thanh toán cho A số tiền lãi phát sinh từ ngày 31/7/2024 cho đến khi trả hết nợ theo lãi suất được các bên thỏa thuận trong các Hợp đồng tín dụng số 6612-LAV-202203119 ngày 27/12/2022 và Hợp đồng tín dụng số 6612-LAV-202300935 ngày 18/04/2023:
Căn cứ khoản 1, 2 Điều 13, khoản 2 Điều 14 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 và Án lệ số 08/2016/AL được Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao ngày 17/10/2016 thì nguyên đơn được yêu cầu áp dụng tính lãi, phí quá hạn theo thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng sau ngày xét xử sơ thẩm và phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng. Xét ông Võ Hoàng Đại P1 không thực hiện nghĩa vụ trả lãi đúng theo cam kết nên A yêu cầu ông P1 phải trả tiền lãi tính đến ngày 30/7/2024 là 384.910.546 đồng. Trong đó: Lãi trong hạn: 380.964.903 đồng; Lãi quá hạn: 3.945.643 đồng là phù hợp, đúng quy định pháp luật nên HĐXX chấp nhận.
[2.3] Xét yêu cầu kê biên, xử lý các tài sản bảo đảm của A:
Để đảm bảo cho khoản vay, ông Võ Hoàng Đại P1 đã thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 819 diện tích 919m²; tờ bản đồ số 61; đất tọa lạc tại thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Long An theo Hợp đồng thế chấp số 220813/HĐTC ngày 21/12/2022 kèm theo văn bản sửa đổi sung Hợp đồng thế chấp số 220813.1/VBSĐ ngày 17/04/2023. Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất giữa ông P1 và A được lập thành văn bản, có đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định pháp luật. Do đó, trong trường hợp ông Võ Hoàng Đại P1 không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ số tiền nợ theo Hợp đồng tín dụng số 6612-LAV-202203119 ngày 27/12/2022 và Hợp đồng tín dụng số 6612-LAV-202300935 ngày 18/04/2023, A có quyền yêu cầu xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp số 220813/HĐTC ngày 21/12/2022 để thu hồi nợ là phù hợp nên được HĐXX chấp nhận.
[2.5]. Xét A yêu cầu buộc ông Võ Hoàng Đại P1 có nghĩa vụ tiếp tục trả hết khoản nợ cho A trong trường hợp số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ:
Tại điểm g khoản 2 Điều 7 Hợp đồng tín dụng số 6612-LAV-202203119 ngày 27/12/2022 và Hợp đồng tín dụng số 6612-LAV-202300935 ngày 18/04/2023 có qui định “Trường hợp sau khi áp dụng các biện pháp xử lý nợ nhưng không đủ để hoàn thành trả nợ đối với Ngân hàng thì Khách hàng có trách nhiệm tiếp tục trả đầy đủ nợ gốc và lãi tiền vay cho Ngân hàng”, đây là thỏa thuận tự nguyện giữa A và ông P1 nên yêu cầu của A là có căn cứ được HĐXX chấp nhận.
Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa phù hợp với nhận định của HĐXX nên được chấp nhận.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
[4] Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 5.000.000 đồng. Ông Võ Hoàng Đại P1 phải chịu. Ngân hàng N đã nộp và chi xong. Ông P1 có nghĩa vụ hoàn lại cho A số tiền 5.000.000 đồng này.
[5] Về án phí:
5.1. Ông Võ Hoàng Đại P1 phải chịu 86.698.211đồng án phí dân sự sơ thẩm sung vào ngân sách Nhà nước.
5.2. Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hòa hoàn trả cho Ngân hàng N tiền tạm ứng án phí đã nộp là 42.628.642 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí lệ phí tòa án số 0000413 ngày 10/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hòa.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 266, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 463, khoản 1 Điều 466; Điều 288 Bộ luật Dân sự;
Căn cứ vào Điều 91, 95, 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Quyết định số 2868/QĐ-NHNN ngày 29/11/2010;
Căn cứ vào Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 và Án lệ số 08/2016/AL được Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao thông qua ngày 17/10/2016.
Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện Ngân hàng N (A) về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” đối với ông Võ Hoàng Đại P1 theo Hợp đồng tín dụng số 6612-LAV-202203119 ngày 27/12/2022 và Hợp đồng tín dụng số 6612-LAV-202300935 ngày 18/04/2023.
1.1. Buộc ông Võ Hoàng Đại P1 phải có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng N (A) số tiền 2.734.910.546 đồng (Hai tỷ bảy trăm ba mươi bốn triệu chín trăm mười nghìn năm trăm bốn mươi sáu đồng). Trong đó: Gốc: 2.350.000.000 đồng; Lãi: 384.910.546 đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, ông Võ Hoàng Đại P1 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi theo thỏa thuận quy định tại Hợp đồng tín dụng số 6612-LAV-202203119 ngày 27/12/2022 và Hợp đồng tín dụng số 6612-LAV-202300935 ngày 18/04/2023.
1.2. Trường hợp ông Võ Hoàng Đại P1 không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ, Ngân hàng N (A) được yêu cầu Chi cục thi hành án dân sự xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 819, tờ bản đồ số 61; Địa chỉ: Thị Trấn H, huyện Đ, tỉnh Long An do ông Võ Hoàng Đại P1 đang đứng tên chủ sở hữu quyền sử dụng đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DC 413557 do Sở Tài Nguyên và Môi Trường tỉnh L cấp ngày 31/05/2021. Tài sản thế chấp trên được thế chấp theo hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất số: 220813/HĐTC ngày 21/12/2022 kèm theo văn bản sửa đổi sung hợp đồng thế chấp số 220813.1/VBSĐ ngày 17/04/2023 để đảm bảo thi hành án.
1.3. Trường hợp số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ thì ông Võ Hoàng Đại P1 có nghĩa vụ tiếp tục trả hết khoản nợ cho Ngân hàng N (A).
2. Về chi phí tố tụng: Ông Võ Hoàng Đại P1 phải hoàn trả cho Ngân hàng N (A) số tiền 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) chi phí thẩm định.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, bên có nghĩa vụ chậm thi hành sẽ phải chịu thêm khoản tiền lãi tính trên số tiền chậm trả theo quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13 tương ứng với thời gian chưa thi hành án, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.
3. Về án phí:
3.1. Ông Võ Hoàng Đại P1 phải chịu 86.698.211 đồng (T1 mươi sáu triệu sáu trăm chín mươi tám nghìn hai trăm mười một đồng) án phí dân sự sơ thẩm sung vào ngân sách Nhà nước.
3.2. Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hòa hoàn trả cho Ngân hàng N (A) tiền tạm ứng án phí đã nộp là 42.628.642 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí lệ phí tòa án số 0000413 ngày 10/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hòa.
4. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 9 của Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Khắc Linh Duy |
7
Bản án số 214/2024/DS-ST ngày 30/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 214/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng A "tranh chấp hợp đồng tín dụng" Ông Võ Hoàng Đại P
