Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - hạnh phúc

Bản án số: 214/2024/DS-PT

Ngày: 13 tháng 9 năm 2024

V/v Tranh chấp hợp đồng

vay tài sản

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Lại Hiệp Phong;

Các Thẩm phán: ông Trương Văn Hai và bà Phan Thị Minh Tâm.

- Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Dương Hồng Hạnh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang: ông Nguyễn Văn Mai - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 193/2024/TLPT-DS ngày 26 tháng 7 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 52/2024/DS-ST ngày 11 tháng 6 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang bị kháng cáo.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 220/2024/QĐ-PT ngày 26 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự; quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 262/2024/QĐ-PT ngày 26 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Kim P, sinh năm 1957; nơi cư trú: khóm V, thị trấn V, huyện C, tỉnh An Giang; chỗ ở hiện nay: Khu dân cư B, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang (có mặt).

- Bị đơn: Bà Đặng Thị L, sinh năm 1956; nơi cư trú: số B, tổ A, ấp V, xã V, huyện C, tỉnh An Giang (có mặt).

Người đại diện theo ủy quyền của bà L:

  • + Ông Nguyễn Văn P1, sinh năm 1983; nơi cư trú: số D, Quản Cơ T, khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang (theo Giấy ủy quyền ngày 24/6/2024; có mặt).
  • + Ông Nguyễn Huỳnh T1, sinh năm 1969; nơi cư trú: ấp H, xã Đ, huyện T, tỉnh An Giang (theo Giấy ủy quyền ngày 24/6/2024; vắng mặt).

2

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Lê Văn N, sinh năm 1992; nơi cư trú: số A T, Khu S, khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình làm việc, hòa giải, giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Kim P yêu cầu:

Bà và bà Đặng Thị L là sui gia với nhau. Bà L làm chủ hụi nên bà có tham gia chơi hụi với bà L, rất nhiều dây hụi. Trong đó, có một dây hụi 5.000.000 đồng, hụi tháng, khởi khui ngày 20/11/2020 âm lịch (nhằm ngày 02/01/2021 dương lịch), hụi gồm 24 phần. Dây hụi này đã mãn vào ngày 20/10/2022 al (13/11/2022 dương lịch). Trong dây hụi này bà có mua một chân hụi do hụi viên lĩnh lần thứ 4, số tiền bà đưa ra để mua hụi là 90.200.000 đồng (Chín mươi triệu, hai trăm nghìn đồng). Sau khi lĩnh hụi lần cuối cùng bà nhận được 112.500.000 đồng (Một trăm mười hai triệu, năm trăm nghìn đồng). Sau 03 ngày tức là ngày 16/11/2022 bà L không giao hụi cho bà mà gợi ý sẽ cho vay giùm bà số tiền 100.000.000 đồng, còn số tiền 12.500.000 đồng (Mười hai triệu, năm trăm nghìn đồng) thoả thuận thống nhất giao cho ông Lê Văn N con trai bà để lo cho sinh hoạt gia đình của ông N. Đối với tiền lãi của số tiền 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng) thoả thuận lãi suất 2%/tháng, mỗi tháng bà L sẽ đưa cho ông Lê Văn N với số tiền 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng), để lo sinh hoạt cho gia đình ông N. Nhưng sau đó bà L không đưa nữa.

Nay, bà khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bà Đặng Thị L phải có trách nhiệm trả cho bà số tiền vốn vay 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng). Yêu cầu tính tiền lãi theo quy định pháp luật là 20%/năm kể từ ngày 17/12/2023 cho đến ngày Tòa án xét xử sơ thẩm. Đối với số tiền lãi vượt bà yêu cầu khấu trừ theo quy định pháp luật và yêu cầu tiếp tục tính lãi theo mức lãi suất 20%/năm cho đến khi thi hành án xong.

Bị đơn bà Đặng Thị L trình bày ý kiến: Bà không đồng ý đối với yêu cầu khởi kiện của bà Phước. Bà và bà Phước là sui gia với nhau. Bà Phước có tham gia chân hụi do bà làm chủ. Giữa bà với bà Phước có quan hệ vay mượn với nhau nhưng số tiền lớn. Tờ văn bản ghi “Chị sui mua hụi 05 triệu mở ngày 20/11 âl/2020 – gồm có 24 phần, chị mua hụi lần thứ tư nhầm ngày 20/2 âl/2021 có 3 lần chết x 5000 = 15.000, có 21 lần sống 3700 = 77.700 còn 92.700 đồng trừ có 2.500 còn 90.200” Hụi này chị sui có vô 3 phần. Chị sui giữ giấy nầy đến khi mãng hụi – hụi mãng ngày 20/10 âl/2022” là do bà viết vào ngày 20/2 âl/2021. Viết tại nhà bà, bà ghi ra để bà Phước lưu lại vì bà Phước có mua hụi dây hụi bà làm chủ với số tiền 90.200.000 đồng (Chín mươi triệu, hai trăm nghìn đồng).

Khi chơi hụi đến lần thứ 18, nhầm ngày 20/4âl/2022 thì bà Phước lĩnh hụi với tổng số tiền 111.000.000 đồng, không phải số tiền 112.500.000 đồng, nhưng bà không giao hụi do số tiền lĩnh hụi đã được bà cấn trừ qua các chân hụi khác, thể hiện là con trai bà Phước và bà ghi lại. Bà chỉ cung cấp được bản photo do

3

con trai bà Phước là anh N chụp qua điện thoại gửi cho con gái bà để đưa cho bà, còn bản chính bà Phước đang giữ nên bà không cung cấp được cho Toà án.

Ngày 04/6/2024, bà có nộp bản chính chứng cứ thể hiện số tiền bà Phước lĩnh hụi được 111.000.000 đồng, cấn trừ qua các chân hụi khác. Bà xác định toàn bộ chữ viết, chữ số là của bà L viết và ghi ra, không có chữ ký và chữ viết của bà Phước. Trước đây thất lạc nhưng giờ bà tìm ra được nên cung cấp cho Tòa án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Văn N trình bày:

Ông là con ruột của bà Nguyễn Kim P và là con rể của bà Đặng Thị L. Bà Phước có tham gia chân hụi do bà L làm chủ hụi. Tờ văn bản ghi “Chị sui mua hụi 05 triệu mở ngày 20/11 âl/2020 – gồm có 24 phần, chị mua hụi lần thứ tư nhầm ngày 20/2 âl/2021 có 3 lần chết x 5000 = 15.000, có 21 lần sống 3700 = 77.700 còn 92.700 đồng trừ có 2.500 còn 90.200” Hụi này chị sui có vô 3 phần. Chị sui giữ giấy nầy đến khi mãng hụi – hụi mãng ngày 20/10 âl/2022”, là chữ viết của bà L ghi.

Đối với nội dung dòng chữ “đến khi chơi đến lần thứ 18, nhầm ngày 20/4âl/2022 thì bà Phước lĩnh hụi. Bà Phước lĩnh hụi với tổng số tiền 111.000.000 đồng, chứ không phải số tiền 112.500.000 đồng như bà Phước nói, chữ viết và số tiền ghi 111.000.000 đồng chữ số, chữ viết do ông ghi nhưng ông xác định bà L và bà Phước có tham gia rất nhiều chân hụi và quan hệ vay mượn với nhau, ông không nhớ rõ trong chân hụi nào. Ông xác định ông không chụp ảnh gửi cho M vợ ông, để chứng minh bà Phước đã nhận số tiền trong vụ án tranh chấp này.

Đối với nội dung văn bản ghi hụi 20/4âl/2022 của chị sui ghi tổng cộng tiền chị sui mượn 100.380 thì không biết sự việc này và không phải ông ghi.

Việc bà L cho rằng văn bản trên là do ông chụp gửi cho bà L, nên bà L mới có cung cấp cho Toà án, hoàn toàn không có sự việc này. Bà L có đưa cho ông một lần số tiền 12.500.000 đồng, thời gian lâu quá ông không nhớ, chỉ nhớ khi đưa 12.500.000 đồng, bà L có nói với ông đây số tiền bà Phước hốt hụi được 112.500.000 đồng, nhưng cho ông 12.500.000 đồng để lo sinh hoạt của gia đình ông, còn 100.000.000 đồng bà L sẽ cho vay dùm bà Phước và mỗi tháng tiền lãi sẽ đưa ông 2.000.000 đồng, khi bà L đưa cho ông có nói 2.000.000 đồng này là tiền lãi của số tiền bà Phước đưa cho bà vay.

Bà L đưa cho ông số tiền 2.000.000 đồng, bắt đầu từ ngày nào ông không nhớ cụ thể, ông chỉ nhớ sau đó do bà L không đưa cho ông nữa thì ông có nói với bà Phước sự việc nên bà Phước khởi kiện đòi lại số tiền đã cho vay nên sau đó tháng 12 bà L có đưa cho ông số tiền 2.000.000 đồng thì ngưng không đưa nữa.

Tại Bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành tuyên xử:

4

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Kim P đối với bà Đặng Thị L.

Buộc bà Đặng Thị L có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Kim P số tiền 104.980.000 (Một trăm lẻ bốn triệu, chín trăm tám mươi nghìn) đồng.

Kể từ ngày 12/6/2024 thì hàng tháng bà Đặng Thị L còn phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015, tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 13/6/2024, bà Đặng Thị L có đơn kháng cáo đối với toàn bộ Bản án sơ thẩm số 52/2024/DS-ST ngày 11/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Nguyên đơn thống nhất với quyết định của án sơ thẩm. Tuy nhiên, để tạo điều kiện cho bà L sớm hoàn thành nghĩa vụ trả nợ, bà đồng ý giảm bớt một phần tiền gốc cho bà L số tiền 30.000.000 đồng và tiền lãi. Bà yêu cầu bà L trả toàn bộ tiền nợ là 70.000.000 đồng.

Bị đơn trình bày: bà vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Tại phiên toà, bà Phước chỉ yêu cầu trả toàn bộ số nợ là 70.000.000 đồng thì bà đồng ý.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang phát biểu ý kiến:

+ Về việc tuân thủ pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm: Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

+ Về nội dung: Tại phiên toà phúc thẩm, các đương sự tự nguyện thoả thuận: bà L có nghĩa vụ trả cho bà Phước số tiền 70.000.000 đồng nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự, sửa án sơ thẩm và công nhận sự tự nguyên thoả thuận của các đương sự, buộc bà L có nghĩa vụ trả cho bà Phước 70.000.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Bà Đặng Thị L kháng cáo trong hạn luật định và có đóng tạm ứng án phí đầy đủ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2] Xét yêu cầu kháng cáo của bà Đặng Thị L, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy: Bà L cho rằng: bà Phước có mua hụi và lĩnh hụi được số tiền 111.000.000 đồng, không phải số tiền 112.500.000 đồng như bà Phước trình bày.

5

Bà không giao tiền hụi cho bà Phước do bà cấn trừ qua các chân hụi khác của bà Phước tham gia, không có việc thoả thuận vay tiền như bà Phước trình bày.

Chứng cứ có trong hồ sơ vụ án xác định: bà Phước có mua 01 dây hụi 5.000.000 đồng, gồm 24 phần. Dây hụi này, bà Phước lĩnh hụi lần cuối cùng ngày 20/20/2022 với số tiền là 23 phần x 5.000.000 đồng = 115.000.000 đồng. Sau khi trừ hoa hồng 2.500.000 đồng, còn lại 112.500.000 đồng đúng như bà Phước trình bày.

Bà Phước cho rằng: sau khi lĩnh hụi bà có cho bà L vay 100.000.000 đồng với mức lãi suất 2%/tháng, còn lại 12.500.000 đồng tiền hụi và tiền lãi mỗi tháng 2.000.000 đồng thì bà cho con trai là N để lo sinh hoạt cuộc sống gia đình.

Trong lời khai của Lê Văn N xác định: ông là con ruột của bà Phước và là con rể của bà L. Ông xác nhận có nhận 12.500.000 đồng và tiền lãi hàng tháng do bà L giao.

Bà L xác định bà Phước lĩnh hụi được 111.000.000 đồng nhưng bà không giao tiền hụi mà cấn trừ qua các chân hụi khác của bà Phước tham gia nhưng không cung cấp được chứng cứ để chứng minh.

Từ những phân tích trên cho thấy, cấp sơ thẩm xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phước là có căn cứ.

Tuy nhiên, tại phiên toà, bà Phước đồng ý giảm bớt 01 phần tiền gốc và lãi, chỉ yêu cầu bà L trả toàn bộ số nợ số tiền 70.000.000 đồng. Bà L đồng ý theo yêu cầu của P nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[3] Về án phí: Bà L không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 2 Điều 148, khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;

Tuyên xử:

- Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Đặng Thị L.

- Sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm số 52/2024/DS-ST ngày 11 tháng 6 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Kim P tranh chấp hợp đồng vay tài sản đối với bà Đặng Thị L:

Công nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Kim P tại phiên tòa về giảm một phần nghĩa vụ trả nợ cho bà Đặng Thị L.

Buộc bà Đặng Thị L có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Kim P số tiền

6

70.000.000 đồng (Bảy mươi triệu đồng).

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án, của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

2. Về án phí: Bà Đặng Thị L được miễn nộp án phí dân sự sơ thẩm và không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND Cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - VKSND tỉnh An Giang;
  • - TAND huyện Châu Thành;
  • - VKSND huyện Châu Thành;
  • - Chi cục THADS huyện Châu Thành;
  • - Phòng KTNV&THA tỉnh AG;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: Văn phòng; hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lại Hiệp Phong

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 214/2024/DS-PT ngày 13/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 214/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 13/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: NĐ: Nguyễn Kim P BĐ: Đặng Thị L
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger