Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 214/2024/HSST

Ngày: 07/5/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Ngọc Tuyền

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Thiều Thị Phi Loan

Ông Trần Văn Chánh

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Tâm – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa: Ông Võ Hồng Toàn – Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 5 năm 2024 tại điểm cầu trung tâm Hội trường số 4 trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa và điểm cầu thành phần – Nhà tạm giữ Công an thành phố B, tỉnh Đồng Nai, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 212/2024/HSST ngày 15/4/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 188/2024/QĐXXST-HS ngày 19/4/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Đức T

Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam

Sinh năm: 1990.

Nơi cư trú: 385/46/35/4, tổ D, khu phố F, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai

Quốc tịch: Việt Nam

Dân tộc: Kinh

Tôn giáo: Công giáo

Trình độ học vấn: Lớp 6/12

Họ tên cha: Trần Đức T1 - sinh năm 1956

Nghề nghiệp: Không.

Họ tên mẹ: Trần Thị N - sinh năm 1960

Gia đình có 04 anh em, bị cáo là con thứ 03 và chưa có vợ, con

Tiền án:

  • Ngày 17/12/2008, bị Toà án nhân dân thành phố Biên Hoà xử phạt 03 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”
  • Ngày 05/3/2009, bị Toà án nhân dân thành phố Biên Hoà xử phạt 03 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”
  • Ngày 25/12/2013, bị Toà án nhân dân thành phố Biên Hoà xử phạt 10 năm tù về tội “Cướp tài sản”

Tiền sự: Không.

Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ thuộc Công an thành phố B.

- Bị hại: Anh Nguyễn Văn Nghĩa H - Sinh năm 1999

Địa chỉ: khu phố E, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông Nguyễn Hữu C, sinh năm 1989.

Địa chỉ thường trú: C9, 383, khu phố E, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

- Những người tham gia tố tụng khác: Ông Nguyễn Tuấn V, ông Trần Phú N1 - Cán bộ chiến sỹ thuộc cơ sở giam giữ tại điểm cầu thành phần.

(Bị cáo có mặt tại điểm cầu thành phần – Nhà tạm giữ Công an thành phố B, tỉnh Đồng Nai, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Đức T là người không có nghề nghiệp và đã có tiền án về các tội “Cướp giật tài sản”, “Cố ý gây thương tích” và “Cướp tài sản”. Khoảng 00 giờ 40 phút ngày 19/12/2023, T mang theo bộ dụng cụ gồm 04 (Bốn) đoản tự chế, 01 (Một) chìa khoá tự chế, 01 (Một) đầu khoá 08mm rồi điều khiển xe mô tô hiệu Wave, biển số 29P7-8034 đến khách sạn “An Gia Viên” tại tổ A, khu phố E, phường T, thành phố B thuê phòng nghỉ để nhằm mục đích trộm cắp xe mô tô của những người khách đến thuê phòng.

Khoảng 04 giờ 30 phút cùng ngày, T đi xuống quầy lễ tân thì thấy anh Nguyễn Hữu C là nhân viên lễ tân đang nằm ngủ nên T lén đi xuống hầm để xe tìm xe trộm cắp. T dùng đoản phá khoá ướm thử vào ổ khoá của các xe mô tô trong hầm để tìm xem ổ khóa xe nào vừa khớp với đoản thì T sẽ phá khoá để trộm cắp xe. Khi đưa đoản vào ổ khóa xe mô tô hiệu SH Mode, biển số 60B4-420.42 của anh Nguyễn Văn Nghĩa H thì T thấy đoản phá khoá khớp với ổ khoá xe nên T vặn mạnh thì bẻ được khoá xe. Sau đó, T đi lên quầy lễ tân gọi anh C để làm thủ tục trả phòng rồi đi xuồng hầm lấy xe mô tô hiệu SH Mode, biển số 60B4-420.42 điều khiển chạy đến gửi tại bãi giữ xe của bệnh viện Đ thuộc phường T, thành phố B, còn xe mô tô biển số 29P7-8034 Tài vẫn để trong tầng hầm khách sạn.

Sau khi gửi xe xong thì T lấy xe mô tô biển số 60B8-572.77 đã gửi tại bãi xe bệnh viện Đ từ trước rồi điều khiển đi đến khu vực gần ngã tư A tìm bạn của T tên N1 (không rõ họ, địa chỉ) và chở N1 quay trở lại khách sạn “An Gia Viên”. Lúc này, T nói N1 thuê phòng nghỉ đến sáng thì chạy xe mô tô biển số 60B8-572.77 đến Nghĩa trang G thuộc phường T, thành phố B trả cho T. Sau đó, T đưa chìa khoá xe cho N1 rồi T xuống tầng hầm khách sạn lấy xe mô tô biển số 29P7-8034 đem đi trả cho người bạn tên “H1” (không rõ họ, địa chỉ).

Đến khoảng 08 giờ cùng ngày, T đi bộ đến nghĩa trang G gặp N1 rồi lấy xe mô tô biển 60B8-572.77 chở N1 về lại khu vực ngã tư A. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, T điều khiển xe mô tô biển số 60B8-572.77 đến bãi giữ xe bệnh viện Đ để lấy xe mô tô hiệu SH Mode, biển số 60B4-420.42 đem đi tiêu thụ thì bị Công an phường T đưa về làm việc và lập hồ sơ chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B điều tra, xử lý. Tại Cơ quan điều tra Trần Đức T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội.

Thu giữ và xử lý vật chứng của vụ án:

  • 01 (Một) xe mô tô hiệu Honda Future, biển số 60B8-572.77 Trần Đức T mượn của bạn tên P (không rõ họ, địa chỉ). Hiện nay chưa xác minh được chủ sở hữu nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B sẽ tiếp tục tạm giữ để xác minh và xử lý sau.
  • 01 (Một) căn cước công dân mang tên Lê Văn K do Trần Đức T nhặt được, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu hồi và trả lại cho anh K
  • 04 (B) đoản tự chế, 01 (Một) chìa khoá tự chế, 01 (Một) đầu khoá 08mm là công cụ bị can Trần Đức T sử dụng vào việc phạm tội
  • 01 (Một) điện thoại di động hiệu Realme C11 là tài sản cá nhân của Trần Đức T nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã trả lại cho T do không liên quan đến vụ án.
  • 01 (Một) xe mô tô hiệu SH Mode, biển số 60B4-420.42 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã thu hồi và trả lại cho anh Nguyễn Văn Nghĩa H.

Tại bản kết luận định giá số 656/KL-HĐĐGTS ngày 20/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận: “01 (xe mô tô biển số 60B4-420.42 trị giá 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng).”

Về dân sự: Anh Nguyễn Văn Nghĩa H đã nhận lại tài sản nên không yêu cầu bồi thường.

Tại bản cáo trạng số 227/CT-VKSBH ngày 12/4/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa đã truy tố bị cáo Trần Đức T về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị xử phạt: Bị cáo Trần Đức T từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các chứng cứ, tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án. Từ đó, có đủ cơ sở kết luận:

Ngày 19/12/2023, tại khách sạn "" ở tổ A, khu phố E, phường T, thành phố B, Trần Đức T đã thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt 01 (Một) xe mô tô biển số 60B4-420.42 trị giá 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng) của anh Nguyễn Văn Nghĩa H thì bị bắt giữ để điều tra, xử lý.

[3] Bị cáo Trần Đức T đã có tiền án về tội “Cướp tài sản”, “Cướp giật tài sản”, “Cố ý gây thương tích”, đã tái phạm chưa được xoá án tích, nay lại tiếp tục phạm tội. Do đó hành vi của bị cáo Trần Đức T đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14.

[4] Hành vi phạm tội của bị cáo Trần Đức T là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Do đó, cần xử phạt bị cáo một mức án nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra, nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Tài sản đã thu hồi giao trả cho bị hại. Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14 xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Ông H đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo bồi thường, nên không đặt ra xem xét.

[8] Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự : Tịch thu tiêu hủy 04 (Bốn) đoản tự chế ; 01 (Một) chìa khoá tự chế ; 01 (Một) đầu khoá 08mm là các công cụ bị cáo Trần Đức T sử dụng vào việc phạm tội.

[9] Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[10] Nhận định của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa phù hợp với các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  • Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14:
  • Tuyên bố bị cáo Trần Đức T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

    Xử phạt: Bị cáo Trần Đức T 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 19/12/2023.

  • Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự : Tịch thu tiêu hủy 04 (Bốn) đoản tự chế ; 01 (Một) chìa khoá tự chế ; 01 (Một) đầu khoá 08mm là các công cụ bị cáo Trần Đức T sử dụng vào việc phạm tội.
  • (Biên bản giao nhận vật chứng ngày 06/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hoà).

  • Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo Trần Đức T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  • Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Ngọc Tuyền

Nơi nhận:

  • - VKS TP. Biên Hòa (2);
  • - CABH-BC, BH (6);
  • - THA (6);
  • - Lưu (6).
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 214/2024/HSST ngày 07/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 214/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự Sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Đức Tài
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger