TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HUYỆN NHƠN TRẠCH TỈNH ĐỒNG NAI | Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 214/2024/HS-ST. Ngày: 06-9-2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Ngọc Tình.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Thái Minh Trí.
Bà Hoàng Thị Cát Phương.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lưu Thị Thanh Thảo – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Tình – Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 226/2024/TLST-HS ngày 21 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 235/2024/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Nguyễn Duy A, sinh năm 1994 tại Đồng Nai.
Nơi đăng ký thường trú và nơi sinh sống: ấp B, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 5/12; Nghề nghiệp: không; Con ông Nguyễn Văn T và bà Tạ Thị Thu T1; Gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con út trong gia đình; vợ tên Danh Thị T2 (đã ly hôn), có 01 con sinh năm 2020.
Tiền án: Ngày 20/7/2022 bị Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch xử phạt 01 năm 02 tháng tù giam. Chấp hành án tại trại giam H1, tỉnh Bình Thuận. Đến ngày 22/6/2023 chấp hành xong. Chưa đóng án phí.
Tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/6/2024 đến ngày 28/6/2024 chuyển tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện N (có mặt).
- Nguyễn Ngọc T3, sinh năm 1986 tại Đồng Nai.
Nơi đăng ký thường trú và nơi sinh sống: Tổ 4, khu B, ấp C, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 02/12; Nghề nghiệp: không; Con ông Nguyễn Văn Mười M và bà Trần Thị C; Có vợ tên Trương Linh H và có 03 con, con lớn sinh năm: 2009, con nhỏ sinh năm 2013;
Tiền án: Ngày 27/8/2020 bị Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch xử phạt 25.000.000 đồng (hai mươi lăm triệu đồng) về tội “Đánh bạc”, chưa chấp hành đóng tiền phạt 25.000.000 đồng và chưa đóng án phí.
Tiền sự: Ngày 14/10/2022 bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Đồng Nai, với thời gian là 16 tháng (ngày 30/10/2023 chấp hành xong).
Bị cáo bị tạm giữ ngày 19/6/2024 đến ngày 28/6/2024 chuyển tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện N (có mặt).
- Bị hại: Chị Phan Thị T4, sinh năm: 1991. (vắng mặt).
Nơi đăng ký thường trú: Thôn M, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế.
Nơi sinh sống: ấp P, xã Đ, huyện N, tỉnh Đồng Nai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 10 giờ 00 ngày 11/06/2024 Nguyễn Duy A từ ấp B, xã P đi lang thang đến xã Đ để xin tiền và tìm tài sản của ai sở hở để trộm cắp. Khi A đi bộ đến Shop quần áo KT thuộc ấp P, xã Đ, thì nhìn thấy 01 xe mô tô Honda hiệu Vision màu đỏ đen biển số 60C2 – 514.88 dựng trước cửa S mà không người trông coi và chìa khoá vẫn còn trên ổ khoá xe, lúc này A nảy sinh ý định trộm cắp xe để bán lấy tiền. A đi lại trước cửa S ngồi lên xe, mở khóa rồi điều khiển xe chạy theo đường H đi xã P. Khi đến địa bàn xã P thì xe mô tô vừa trộm cắp được bị hư, nên A giấu xe vào bụi cây rồi đi bộ ra đường đi nhờ xe xuống xã P gặp Nguyễn Ngọc T3 và nói cho T3 biết về việc mới trộm được chiếc xe máy ở xã Đ và hiện đang giấu xe tại xã P, huyện N, A nói T3 tìm nơi tiêu thụ nếu bán được thì chia đôi. Lúc này T3 nói với A để T3 mua lại xe, dùng làm phương tiện đi lại, nghe xong A đồng ý bán chiếc xe vừa trộm cắp được cho T3 với giá 1.500.000 đồng. Sau đó, T3 chở A đến địa điểm cất giấu xe, A trực tiếp đi vào bụi cây lấy chiếc xe đẩy ra bên ngoài đường. Sau đó, T3 ngồi lên xe mà A trộm được, cầm lái để A điều khiển xe của T3 đẩy sau chạy về hướng xã P rồi vòng về đến đường vào đình P thì T3 nói An ngừng lại, đứng chờ còn T3 đẩy chiếc xe trộm được đi thẳng vào trong hẻm và cất giấu. Sau đó, T3 đi bộ ra gặp A, đưa cho A số tiền 470.000 đồng và hẹn A 17 giờ 00 chiều nay đưa số tiền còn lại. A đồng ý và nhận tiền từ T3. Sau đó T3 điều khiển xe chở A về nhà tại xã P. Đến ngày 16/6/2024 nhận thấy hành vi trộm cắp tài sản của mình là vi phạm pháp luật nên A đến Công an xã Đ, huyện N, tự thú khai nhận hành vi phạm tội. Nên Công an xã Đ đã cho gia đình bảo lãnh. Đến ngày 17/6/2024, chị Phan Thị T4 đến Công an xã Đ trình báo việc bị mất mất chiếc xe Honda hiệu Vision biển số 60C2-514.88 Công an xã Đ, huyện N, lập hồ sơ ban đầu và chuyển đến đội ĐTTH điều tra, xác minh xử lý theo thẩm quyền. Đến ngày 19/6/2024 Nguyễn Ngọc T3 bị bắt giữ để xử lý.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 54/KL-HĐĐGTS ngày 22/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện N đã kết luận: 01 xe mô tô Honda hiệu Vision biển số 60C2-514.88 trị giá 13.200.000 đồng.
Việc tạm giữ vật chứng: 01 xe mô tô Honda hiệu Vision biển số 60C2-514.88.
Tại Cáo trạng số 226/CT-VKS-NT ngày 21 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch đã truy tố các bị cáo như sau: Bị cáo Nguyễn Duy A về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); bị cáo Nguyễn Ngọc T3 về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch giữ nguyên quan điểm truy tố như trên.
Đề nghi áp dụng khoản 1 Điều 173, Điều 38, điểm s, r khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Nguyễn Duy A từ 18 tháng tù đến 20 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản".
Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 323, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc T3 từ 18 tháng tù đến 20 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã thu hồi và trả lại 01 xe mô tô Honda hiệu Vision biển số 60C2-514.88 cho chị Phan Thị T4.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bồi thường thiệt hại nên không xem xét.
Tại phiên Tòa các bị cáo không phát biểu tranh luận. Các bị cáo nói lời nói sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Vụ án không thuộc trường hợp tạm đình chỉ hoặc trả hồ sơ để điều tra bổ sung. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp luật.
[2] Về thủ tục tố tụng: Bị hại đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do, căn cứ khoản 1 Điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng hình sự xét xử vắng mặt bị hại.
[3] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Qua xem xét lời khai của các bị cáo tại phiên tòa và các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập có tại hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử đủ cơ sở khẳng định: Vào lúc 10 giờ 00 phút ngày 11/6/2024, tại shop quần áo KT thuộc ấp P, xã Đ, huyện N, tỉnh Đồng Nai, Nguyễn Duy A có hành vi lén lút chiếm đoạt của chị Phan Thị T4 một xe mô tô hiệu Vision biển số 60C2-514.88, giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 13.200.000 đồng. Sau khi chiếm đoạt được tài sản, bị cáo A bán cho bị cáo Nguyễn Ngọc T3, T3 biết rõ xe do bị cáo A phạm tội mà có nhưng vì ham lợi nên bị cáo T3 vẫn đồng ý mua xe mô tô trên với giá 1.500.000 đồng.
Vì vậy, hành vi trên của bị cáo Nguyễn Duy A đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” được quy định khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Hành vi của bị cáo Nguyễn Ngọc T3 đã cấu thành tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” được quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật công nhận và bảo vệ. Mặc dù, các bị cáo nhận thức được hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng do muốn có tiền thỏa mãn nhu cầu của cá nhân nên các bị cáo vẫn cố ý phạm tội. Hành vi của các bị cáo còn gây tâm lý bất an trong nhân dân và ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương.
Các bị cáo đều là người có tiền án, chưa được xóa án tích, các bị cáo vẫn không lấy đó làm bài học để sửa đổi mà vẫn tiếp tục phạm tội. Do đó, cần có mức hình phạt thật nghiêm để cải tạo, răn đe đối với các bị cáo cũng như phòng ngừa tội phạm nói chung.
[5] Xét các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Các bị cáo Nguyễn Duy A, Nguyễn Ngọc T3 phạm vào tình tiết “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[6] Xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo đều có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Đối với bị cáo Nguyễn Duy A tự nguyện ra tự thú khai báo với cơ quan có thẩm quyền về hành vi phạm tội của mình đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm r khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[7] Về biện pháp tư pháp: Cần tịch thu để sung quỹ Nhà nước số tiền 470.000 đồng của bị cáo Nguyễn Duy A là tiền thu lợi bất chính do bị cáo sử dụng vào việc phạm tội mà có.
[8] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Phan Thị T4 không yêu cầu bồi thường nên không đặt ra xem xét.
[9] Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[10] Xét quan điểm đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Duy A phạm tội “Trộm cắp tài sản”, bị cáo Nguyễn Ngọc T3 phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s, r khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):
Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy A 01 (một) năm 08 (tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/6/2024.
- Áp dụng khoản 1 Điều 323, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):
Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc T3 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/6/2024.
- Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s, r khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):
- Về biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
Buộc bị cáo Nguyễn Duy A phải nộp 470.000 đồng là số tiền thu lợi bất chính để sung vào ngân sách Nhà nước.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc các bị cáo Nguyễn Duy A, Nguyễn Ngọc T3, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 327, Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Các bị cáo Nguyễn Duy A, Nguyễn Ngọc T3 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại Phan Thị T4 vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Thị Ngọc Tình |
Bản án số 214/2024/HS-ST ngày 06/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH, TỈNH ĐỒNG NAI về vụ án hình sự sơ thẩm về tội trộm cắp tài sản và tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
- Số bản án: 214/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự sơ thẩm về tội Trộm cắp tài sản và Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Duy An TCTS
