Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 214/2024/DS-PT

Ngày 02-5-2024

“V/v Tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất”

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Trung Thành.

Các Thẩm phán:

Ông Nguyễn Tấn Tặng

Bà Nguyễn Thị Vĩnh

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tuấn, Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp: Bà Trần Thị Điểu, Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 02 tháng 5 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 03/2024/TLPT-DS ngày 11 tháng 01 năm 2024, về việc “Tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 103/2023/DS-ST ngày 15 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 190/2024/QĐ-PT ngày 13 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Bà Hà Trần Phương T, sinh năm 1973;

Địa chỉ: Số A, L, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn H Trần Phương T1: Anh Nguyễn Văn M, sinh năm 1994; Địa chỉ: Ấp E, xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Lê Ngọc T2, Văn phòng luật sư Lê Ngọc T2, thuộc Đoàn luật sư tỉnh Đ;

Địa chỉ: Số B, đường N, Phường A, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

* Bị đơn:

  1. Ông Ngô Văn Ú, sinh năm 1963;

    Địa chỉ: Ấp F, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

  2. Ông Nguyễn Ngọc T3, sinh năm 1962;

    Địa chỉ: Khóm D, thị trấn M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Trần Thị C, sinh năm 1967 (vợ ông Ú);
  2. Chị Ngô Thị Trúc G, sinh năm 1984 (con ông Ú);
  3. Anh Ngô Văn N, sinh năm 1994 (con ông Ú);

    Cùng địa chỉ: Ấp F, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

  4. Bà Lê Thị Mỹ D, sinh năm 1982;

    Địa chỉ: Khóm D, thị trấn M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

  5. Anh Võ Văn X, sinh năm 1982;

    Địa chỉ: Ấp F, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

  6. Ngân hàng N3 – Chi nhánh huyện T;

    Địa chỉ: Khóm C, thị trấn M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

* Người kháng cáo: Bà Hà Trần Phương T là nguyên đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Anh Nguyễn Văn M là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn H Trần Phương T1 trình bày:

Nguyên trước đây vào khoảng năm 2011, cha chị T1 là ông Hà Thanh Q (đã chết) và mẹ tên Trần Thị Ánh S có tặng cho chị phần đất thuộc thửa số 260, diện tích 13.537m² và thửa 266, diện tích 14.006m² cùng tờ bản đồ số 8, loại đất rừng sản xuất tọa lạc tại ấp F, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Hai thửa đất 260, 266 của chị T1 có vị trí tứ cận như sau: Hướng Đông giáp với thửa đất 415 của ông Nguyễn Ngọc T3; Hướng Tây giáp với thửa đất 261 của ông Ngô Văn Ú; Hướng Nam với thửa đất 68 của chị T1; Hướng Bắc giáp với K thủy lợi. Đến năm 2011, cha chị T1 chết nên chị T1 được thừa kế 02 thửa đất nêu trên và được UBND huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 18/7/2011. Khi đó, bên phần đất của chị T1 trồng T4, bên phía ông T3 và ông Ú chuyển sang trồng lúa 02 vụ nên có đắp bờ ranh lấn qua phần đất của chị T1 (do chị T1 đi làm ở Thành phổ H, không thường xuyên ở địa phương). Khi đắp bờ ranh thì ông T3 và ông Ú không hỏi ý kiến của chị T1. Chị T1 đã nhiều lần yêu cầu ông T3 và ông Ú xác định lại ranh chung nhưng hai ông không đồng ý.

Chị T1 có gửi Đơn yêu cầu Ban nhân dân ấp 6B và UBND xã T hòa giải, nhưng không thành nên chị T1 làm Đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:

  1. Yêu cầu ông T3 trả lại cho chị T1 phần đất đã lấn chiếm chiều ngang 1,5m; chiều dài 304m, tổng diện tích 456m²;
  2. Yêu cầu ông Ú trả lại cho chị T1 phần đất đã lấn chiếm chiều ngang 1,5m; chiều dài 343m, tổng diện tích 514,6m²;

Đất thuộc một phần thửa 260, tờ bản đồ số 8, diện tích 13.537m² và thửa 266, tờ bản đồ số 8, diện tích 14.006m² đất cùng tọa lạc tại ấp F, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp hiện phần đất trên do chị T1 đang đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Tại phiên tòa sơ thẩm, anh M xin thay đổi yêu cầu khởi kiện, nay anh M chỉ yêu cầu Tòa án xác định ranh giới quyền sử dụng đất giữa đất của chị T1 thuộc thửa 260, 266 với thửa 261 của ông Ú, thửa 165 (trước đây là thửa 415) của ông T3, cụ thể như sau:

- Ranh giới quyền sử dụng đất giữa thửa đất 260, 266 của chị H Trần Phương T1 với thửa đất 261 của hộ ông Ngô Văn Ú đất cùng tọa lạc tại ấp F, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp được xác định là các đoạn thẳng nối liền các mốc từ mốc M19 đến mốc M20 đến mốc M4 theo Sơ đồ đo đạc ngày 10/5/2022 của Công ty TNHH D2.

- Ranh giới quyền sử dụng đất giữa thửa đất 260, 266 của chị H Trần Phương T1 với thửa đất 165 của ông Nguyễn Ngọc T3, bà Lê Thị Mỹ D đất cùng tọa lạc tại ấp F, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp được xác định là các đoạn thẳng nối liền các mốc từ mốc M13 đến M14 đến M7 theo Sơ đồ đo đạc ngày 10/5/2022 của Công ty TNHH D2.

Ngoài ra, chị T1 không còn yêu cầu hay tranh chấp gì khác.

Đối với thời gian chị T1 không được sử dụng phần đất tranh chấp thì chị T1 cũng không có yêu cầu hay tranh chấp gì.

Anh M thống nhất theo Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 18/4/2022, Sơ đồ đo đạc ngày 10/5/2022 của Công ty TNHH D2, thống nhất giá phần đất tranh chấp là 40.000 đồng/m² nên không yêu cầu Tòa án thành lập Hội đồng định giá.

Hiện bản chính các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 260, 266 chị T1 đang cất giữ, không có cầm cố hay thế chấp cho bất cứ cá nhân, cơ quan hay tổ chức nào.

* Bị đơn ông Ngô Văn Ú trình bày:

Nguyên từ xưa đến nay, ông bà của ông có khai thác canh tác miếng đất tọa lạc tại ấp F, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Sau này, do cha ông là ông Ngô Văn N1 trực tiếp canh tác trồng Tràm. Đến năm 1985, do cha ông tuổi già yếu nên đã giao lại cho ông sử dụng tiếp tục trồng Tràm. Ngày 31/12/1996, ông được UBND huyện T cấp giấy thửa 261, tờ bản đồ số 8, diện tích 15.237m². Năm 2006, ông phá Tràm chuyển sang làm lúa 02 vụ đến năm 2018, từ năm 2018 đến nay lại tiếp tục trồng Tràm. Nay, ông đã thu hoạch T4 và chuẩn bị chuyển sang trồng lúa.

Ranh đất giữa ông và ông Hà Thanh Q (cha của chị T1) là cái bờ đê nhỏ khoảng 50cm, đào tay thủ công, mỗi người một nửa bờ do ông và ông Hà Thanh Q xác định từ trước đến năm 2006 lúc còn trồng T4. Đến lúc mở ruộng, ông có đề nghị ông Q mở ruộng, ông Q nói là chưa có nhu cầu làm ruộng, lúc đó T4 của ông Q vẫn còn. Do vậy ông đã đắp bờ đê trên phần đất của ông canh tác đến tận bây giờ.

Năm 1996, Nhà nước cấp quyền sử dụng đất cho ông đứng tên, khi cấp không có đo đạc thực tế. Từ xưa đến nay, ông canh tác không có xảy ra tranh chấp với ông Q cha chị T1.

Sau khi ông Q chết, thì bà Trần Thị Ánh S là vợ của ông Q cũng không có ý kiến gì. Còn riêng về phần chị T1 do còn nhỏ nên không biết được ranh giới, cũng không có trực tiếp canh tác. Do tác động của người thuê đất, nay chị T1 làm đơn khởi kiện cho rằng ông lấn chiếm đất là không có căn cứ.

Ông không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của chị T1. Ông Ú phản tố yêu cầu Tòa án xác định ranh giới quyền sử dụng đất thửa 261, tờ bản đồ số 8 của ông với thửa 260, tờ bản đồ số 8 của chị T1 là đoạn thẳng nối liền các điểm từ mốc M18 đến M21 đến M5 theo Sơ đồ đo đạc ngày 10/5/2022 của Công ty TNHH D2, đất cùng tọa lạc tại ấp F, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

Tại phiên tòa sơ thẩm, ông Ú xin thay đổi yêu cầu phản tố so với Đơn yêu cầu là xác định ranh theo bờ đê hiện trạng, toàn bộ bờ đê là của ông, cụ thể: Ranh giới quyền sử dụng đất giữa thửa đất 260 của chị H Trần Phương T1 với thửa đất 261 của hộ ông Ngô Văn Ú đất cùng tọa lạc tại ấp F, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp được xác định là các đoạn thẳng nối liền các mốc từ mốc F6 đến mốc F5, F4, F3, F2 đến mốc F1 theo Phụ lục sửa đổi, bổ sung mảnh trích đo địa chính số 04-2022 của Công ty TNHH D2.

Nếu Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị T1 thì đối với chi phí đầu tư, cải tạo phần đất tranh chấp thì ông không có yêu cầu hay tranh chấp gì.

Ông Ú thống nhất theo Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 18/4/2022, Sơ đồ đo đạc ngày 10/5/2022 và Phụ lục sửa đổi, bổ sung mảnh trích đo địa chính số 04-2022 của Công ty TNHH D2, thống nhất giá phần đất tranh chấp là 40.000 đồng/m² nên không yêu cầu Tòa án thành lập Hội đồng định giá.

Hiện bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 261 ông đang cất giữ, không có cầm cố hay thế chấp cho bất cứ cá nhân, cơ quan hay tổ chức nào.

* Bị đơn ông Nguyễn Ngọc T3 trình bày:

Nguồn gốc đất đang tranh chấp là của vợ chồng ông nhận chuyển nhượng của ông Hà Nguyên V vào năm 2010. Đến ngày 23/5/2010 được UBND huyện T cấp giấy CNQSD đất cho vợ ông là bà Lê Thị Mỹ D đại diện hộ gia đình đứng tên quyền sử dụng đất thửa 415, tờ bản đồ số 8, diện tích 19.762,5m², loại đất rừng sản xuất. Đất có tứ cận như sau: Hướng Đông giáp đất bà N2; Hướng Tây giáp Kênh T; Hướng Nam giáp đất ông X; Hướng bắc giáp đất ông Q (là cha chị T1). Khi gia đình ông mua đất thì có địa chính xã đo đạc và có xác định ranh giữa các hộ tứ cận. Từ khi mua đất, do gia đình ở xa nên ông cho thuê phần đất trên (cho Trần Ngọc B thuê 02 năm, ông Út B1 thuê 02 năm, từ đó đến nay cho anh Võ Văn X thuê canh tác cho đến nay).

Trong quá trình ông cho thuê đất canh tác thì đất ai người đó canh tác không có bất cứ tranh chấp ranh đất nào giữa ông với những hộ giáp ranh. Phần đất giáp ông Hà Thanh Q (nay là đất chị T1), trước đến giờ có một bờ ranh giữa hai phần đất và có hai trụ ranh giữa hai bên. Ông Q cha chị T1 cũng không tranh chấp gì với ông.

Đến nay, khi chị T1 con ông Q đứng tên thừa kế đất thì lại kiện ông và yêu cầu ông trả đất là không có căn cứ: Bỡi, đất của ông cho thuê canh tác thì có lẽ nào người thuê đất của ông lấn đất dùm ông, với lại hiện nay sau khi cấp đổi chính quy thì phần diện tích đất của ông cũng bị mất rất nhiều, cụ thế Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông nay là thửa 165, tờ bản đồ số 3, diện tích chỉ còn 18.913,3m² do ông và vợ ông tên Lê Thị Mỹ D cùng đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 27/7/2021 hiện tại đo đạc thực tế diện tích chỉ còn 17.965,7m² thiếu 947,6m² so với diện tích được cấp Giấy CNQSD đất.

Ông không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của chị T1. Ông T3 phản tố yêu cầu Tòa án xác định ranh thửa 415, tờ bản đồ số 8 (nay là thửa 165, tờ bản đồ số 3) của ông với thửa 260, tờ bản đồ số 8 của chị H Trần Phương T1 là đoạn thẳng nối liền các mốc từ mốc M15 đến M16 đến M6 theo sơ đồ đo đạc ngày 10/5/2022 của Công ty TNHH D2, đất cùng tọa lạc tại ấp F, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

Nếu Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị T1 thì đối với chi phí đầu tư, cải tạo phần đất tranh chấp thì ông không có yêu cầu hay tranh chấp gì.

Ông T3 thống nhất theo Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 18/4/2022, Sơ đồ đo đạc ngày 10/5/2022 và Phụ lục sửa đổi, bổ sung mảnh trích đo địa chính số 04-2022 của Công ty TNHH D2, thống nhất giá phần đất tranh chấp là 40.000 đồng/m² nên không yêu cầu Tòa án thành lập Hội đồng định giá.

Hiện bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 165 ông đang cất giữ, không có cầm cố hay thế chấp cho bất cứ cá nhân, cơ quan hay tổ chức nào.

* Tại Văn bản ý kiến ngày 17/11/2022, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trần Thị C, Ngô Thị Trúc G, Ngô Văn N trình bày:

Về phần đất tranh chấp là của hộ gia đình chúng tôi, chủ hộ là ông Ngô Văn Ú sử dụng ổn định từ trước đến nay, không có tranh chấp gì với ai. Chúng tôi không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện nguyên đơn Hà Trần Phương T1, trong vụ án này chúng tôi không có yêu cầu hay tranh chấp gì, chúng tôi giao toàn quyền quyết định cho ông Ngô Văn Ú. Mọi ý kiến của ông Ú chúng tôi đều thống nhất và cam kết chịu trách nhiệm trước pháp luật.

* Tại Văn bản ý kiến ngày 06/12/2022, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lê Thị Mỹ D trình bày:

Nguồn gốc phần đất tranh chấp là của vợ chồng bà mua của ông Hà Nguyên V năm 2010. Từ khi mua cho đến nay vợ chồng bà cho người khác thuê canh tác, chứ vợ chồng bà không trực tiếp canh tác nên việc chị T1 cho rằng vợ chồng bà lấn ranh chị T1 là không có cơ sở. Trong vụ án này, bà không có yêu cầu hay tranh chấp gì, mọi ý kiến của bà đều thống nhất theo ý kiến của chồng bà tên Nguyễn Ngọc T3.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Võ Văn X không có yêu cầu hay tranh chấp gì trong vụ án này, kể cả hợp đồng thuê đất giữa anh với chị T1 và ông Ú. Anh X có đơn xin vắng mặt.

* Ngân hàng N3 – Chi nhánh huyện T có Đơn không tham gia và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại Quyết định bản án sơ thẩm số 103/2023/DS-ST ngày 15 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười tuyên xử:

  1. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Hà Trần Phương T.
  2. Xác định ranh giới quyền sử dụng đất giữa các đương sự như sau:
    • - Ranh giới quyền sử dụng đất giữa thửa đất 260, tờ bản đồ số 8 của chị H Trần Phương T với thửa đất 261, tờ bản đồ số 8 của hộ ông Trần Văn Ú1 đất cùng tọa lạc tại ấp F, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp được xác định là các đoạn thẳng nối liền các mốc từ mốc F6 đến mốc F5, F4, F3, F2 đến mốc F1 theo Phụ lục sửa đổi, bổ sung mảnh trích đo địa chính số 04-2022 của Công ty TNHH D2.
    • - Ranh giới quyền sử dụng đất giữa thửa đất 260, tờ bản đồ số 8 của chị H Trần Phương T với thửa đất 165, tờ bản đồ số 3 (trước đây là thửa 415, tờ bản đồ số 8) của ông Nguyễn Ngọc T3, bà Lê Thị Mỹ D đất cùng tọa lạc tại ấp F, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp được xác định là các đoạn thẳng nối liền các mốc từ mốc M15 đến M16 đến M6 theo Sơ đồ đo đạc ngày 10/5/2022 của Công ty TNHH D2.

Các đương sự được quyền sử dụng không gian và lòng đất theo chiều thẳng đứng từ ranh giới của thửa đất phù hợp với quy định của pháp luật và không được làm ảnh hưởng đến việc sử dụng đất của người khác. Người sử dụng đất chỉ được trồng cây và làm các việc khác trong khuôn viên đất thuộc quyền sử dụng của mình và theo ranh giới đã được xác định. Nếu cây trồng, vật kiến trúc của bên này lấn qua phần đất của bên kia thì phải tháo dở, di dời theo quy định của pháp luật.

Các đương sự có quyền và nghĩa vụ đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để kê khai, điều chỉnh lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của mình theo quy định của pháp luật.

(Gửi kèm Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 18/4/2022, Sơ đồ đo đạc ngày 10/5/2022, Phụ lục sửa đổi, bổ sung mảnh trích đo địa chính số 04- 2022 của Công ty TNHH D2)

  1. Về án phí dân sự sơ thẩm:

    Chị H Trần Phương T phải chịu 600.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 950.000 đồng theo Biên lai thu số: 0001796 ngày 14 tháng 12 năm 2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tháp Mười. Chị T được nhận lại số tiền 350.000 đồng (ba trăm năm mươi nghìn đồng).

    Ông Ngô Văn Ú không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; Hoàn trả lại ông Ngô Văn Ú số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) là tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0008342 ngày 15/11/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tháp Mười.

    Ông Nguyễn Ngọc T3 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; Hoàn trả lại ông Nguyễn Ngọc T3 số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) là tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0008327 ngày 14/11/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tháp Mười.

  2. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và đo đạc là 39.000.000 đồng (ba mươi chín triệu đồng): Chị T phải chịu, chị đã nộp và chi xong.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về quyền kháng cáo.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 26 tháng 9 năm 2023, bà Hà Trần Phương T có đơn kháng cáo đối với bản án sơ thẩm số 103/2023/DS-ST ngày 15 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười. Bà Hà Trần Phương T yêu cầu hủy bản án sơ thẩm số 103/2023/DS-ST ngày 15 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Anh Nguyễn Văn M đại diện ủy quyền nguyên đơn bà H Trần Phương T trình bày: Trong quá trình giải quyết thì Tòa án cấp sơ thẩm có thu thập sơ đồ bổ sung phần đất tranh chấp và tại phiên tòa ngày 15/7/2023, Hội đồng xét xử cấp sơ thẩm không tuyên phần sơ đồ bổ sung nhưng khi phát hành bản án thì nội dung phần bổ sung có trong bản án. Ngoài ra, tại phiên tòa sơ thẩm ngày 15/7/2023, bà T yêu cầu tạm ngừng phiên tòa để khiếu nại Công văn số 3484/CNTM-KTĐC ngày 28/6/2023 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện T và yêu cầu khởi kiện bổ sung về việc hủy một phần hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Hà Nguyên V với bà Lê Thị Mỹ D (vợ ông T3) ngày 31/12/2009 và hủy đơn xin biến động diện tích của ông V. Như vậy, Tòa án cấp sơ thẩm đã vi phạm làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà T. Do đó, bà T kháng cáo yêu cầu Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án đảm bảo chấp hành đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự không chấp nhận kháng cáo của bà H Trần Phương T, tuyên giữ nguyên án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, được kiểm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, lời phát biểu của kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Đơn kháng cáo bà H Trần Phương T nộp trong hạn luật định nên kháng cáo được Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Ngân hàng N3 - Chi nhánh huyện T là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã có văn bản xin không tham vụ án do hợp đồng tín dụng đã tất toán xong; Ông Ngô Văn Ú, ông Nguyễn Ngọc T3 có đơn xin xét xử vắng mặt và bà Trần Thị C, chị Ngô Thị Trúc G, anh Ngô Văn N, chị Lê Thị Mỹ D1, anh Võ Văn X có văn bản xin xét xử vắng mặt cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm. Xét thấy, việc vắng mặt của đương sự nêu trên không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Căn cứ vào khoản 3 Điều 296 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt đương sự trên.

[2] Xét kháng cáo của nguyên đơn bà H Trần Phương T, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[2.1] Về nguồn gốc đất:

Bà Hà Trần Phương T xác định nguồn gốc đất tranh chấp là của cha mẹ bà là ông Hà Thanh Q (chết năm 2011) và bà Trần Thị Ánh S theo giấy CN.QSDĐ ông Hà Thanh Q được cấp ngày 10/02/1995, trong đó có thửa 260, diện tích 13.537m², ông Q tự đăng ký kê khai, không đo đạc. Sau khi ông Q (chết năm 2011) thì bà S và những người thừa kế của ông Q đã xác lập văn bản phân chia di sản ngày 17/6/2011 và bà T đã thực hiện kê khai nhận thừa kế đối với phần đất thửa số 260, diện tích 13.537m² (đo đạc thực tế 23.486,2m², tăng 9.949,2m²), tờ bản đồ số 8, loại đất rừng sản xuất tọa lạc tại ấp F, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp của cha mẹ chết để lại bà T và đã được UBND huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 18/7/2011 (theo Công văn số 4945/UBND-NC ngày 14/7/2023 của UBND huyện T (BL 308). Vị trí tứ cận phần đất thửa 260 của bà T có vị trí tiếp giáp với các chủ đất liền kề như sau: Hướng Đông giáp với thửa đất 415 (thửa mới 165) của ông Nguyễn Ngọc T3; Hướng Tây giáp với thửa đất 261 của ông Ngô Văn Ú; Hướng Nam với thửa đất 68 của bà T; Hướng Bắc giáp với K thủy lợi. Trong quá trình sử dụng thì ông Ú và ông T3 đã chuyển mục đích sử dụng từ đất trồng tràm sang trồng lúa 02 vụ nên ông Ú và ông T3 đã tự ý đắp bờ ranh lấn qua phần đất của bà T. Trong khi giấy CN.QSDĐ được cấp của bà T, thửa số 260, diện tích 13.537m² so với diện tích sử dụng thực tế thì đất của bà T nhiều hơn diện tích được cấp thửa số 260, diện tích 13.537m² nhưng bà T không tiến hành thủ tục điều chỉnh lại diện tích thực tế cho phù hợp diện tích được cấp theo Giấy CNQSD đất đã được cấp.

- Ông Ngô Văn Ú xác định nguồn gốc đất, tranh chấp là của cha mẹ cho và ông đã được UBND huyện T cấp giấy CN.QSDĐ vào ngày 31/12/1996 cho ông Ngô Văn Ú, trong đó có thửa 261, diện tích 15.237m², mục đích sử dụng Rt/g (đo đạc thực tế 26.169m², tăng 10.932m², chưa tính phần đất tranh chấp), ông Ú được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 31/12/1996, cấp cho hộ ông Ú gồm ông Ú, bà C, chị G, anh N (theo Công văn số 5857/CNTM-ĐKCG ngày 15/8/2022 ông Ú chưa được cấp đổi từ bản đồ 299 sang bản đồ địa chính chính quy (BL 103); Khi ông Ú được cấp giấy CN.QSDĐ thì không đo đạc thực tế, chỉ căn cứ các đơn xin đăng ký ngày 28/11/1994.

- Ông Nguyễn Ngọc T3 xác định nguồn gốc đất, tranh chấp là ông nhận chuyển nhượng từ ông Hà Nguyên V vào ngày 31/12/2009 đối với thửa 415, tờ bản đồ số 8 và đã được UBND huyện T cấp giấy CN.QSDĐ vào ngày 25/3/2010 cho hộ bà Lê Thị Mỹ D (vợ ông T3) thửa 415, tờ bản đồ số 8, diện tích 19.762,5m², mục đích sử dụng đất rừng sản xuất. Theo Công văn số 3028/STNMT-VPĐKĐ ngày 08/8/2022 của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ xác định ngày 11/01/2021 đã thực hiện cấp đổi từ bản đồ 299 thửa đất số 415, từ bản đồ số 8, diện tích 19.762,5m², mục đích sử dụng đất rừng sản xuất sang bản đồ địa chính quy thửa 165, tờ bản đồ số 3, diện tích 18.913,3m², mục đích sử dụng đất rừng sản xuất (đo đạc thực tế 17.965,7m²; giảm 947,6m²) và việc cấp giấy là do biến động trọn thửa nên chủ sử dụng đất không yêu cầu cơ quan chuyên môn đo đạc thực tế (BL 187) để điều chỉnh cho phù hợp. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy không thể căn cứ diện tích của các bên đương sự được cấp theo giấy CN.QSD đất để làm căn cứ giải quyết vụ án, do diện tích được cấp Giấy CN.QSD đất không được đo đạc thực tế để làm căn cứ cấp giấy CN.QSD đất.

[2.3] Về quá trình sử dụng đất:

Từ năm 2011 đến nay, bà T chưa từng trực tiếp sử dụng phần đất được cha mẹ cho mà bà T cho người khác thuê sử dụng cho đến nay, hiện nay do ông X là người đang thuê đất thửa 260 để canh tác lúa.

Theo ông X trình bày ông đang thuê đất của ông T3 (thửa 165) từ năm 2016 và thuê đất của bà T (thửa 260) từ năm 2019 không có lập hợp đồng thuê, chỉ nói miệng cho đến nay. Khi ông X thuê đất của bà T và đất ông T3 thì phần ranh giữa đất bà T (thửa 260) với đất ông T3 (thửa 165) là bờ đê rộng khoảng 03 tắc, nhưng ông X không biết ranh đất giữa hai bên là giữa bờ đê hay mép bờ đê. Hiện trạng bờ đê vẫn còn. Đối với phần ranh đất giữa bà T (thửa 260) với đất ông Ú (thửa 261) là bờ đê khoảng 03 tấc, là đường đi chung, do bờ đê thấp nên năm 2019, ông X đã thuê cobe múc đất đắp kè lên bờ đê cũ cao lên. Hiện nay bờ đê rộng khoảng 1m (BL 91).

[3] Hội đồng xét xử xét thấy, nguyên đơn bà T là người được đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 260 nhưng bà T không trực tiếp sử dụng đất mà cho ông X thuê sử dụng nên thực tế bà T cũng không thể xác định được ranh đất giữa bà T với ông Ú và ông T3 là tại vị trí nào và có vật gì để làm ranh đất giữa hai bên. Trong khi đó, ông X là người thuê đất của bà T, đồng thời cũng là người thuê đất của ông T3 đã và đang sử dụng bờ đê chung giữa đất bà T với đất ông Ú và bờ đê chung giữa bà T với ông T3. Do đó, bản án sơ thẩm xác định đất ranh chung giữa đất bà T với đất ông Ú, ông T3 là điểm giữa bờ đê là ranh chung giữa các đương sự là có căn cứ.

Theo Công văn số 3484/CNTM-KTĐC ngày 28/6/2023 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện T xác định “1. Căn cứ mãnh trích đo địa chính số 04-2022 ngày 10/5/2022 của Công ty TNHH D2 thì vị trí trích đo thửa đất số 260 của Công ty tương ứng với thửa đất số 260, tờ bản đồ số 8, do bà Hà Trần Phương T đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, phần mãnh trích đo không bao gồm thửa 266, tờ bản đồ số 8.

2. Vị trí thửa 266, tờ bản đồ số 8 nằm đối diện với thửa 260 cách nhau bởi kênh Đê Thanh Niên, hướng bắc giáp với thửa 265, tờ bản đồ số 8 của ông Ngô Văn H1, hướng nam giáp với thửa 414, tờ bản đồ số 8, của bà Nguyễn Thị E, hướng tây giáp với thửa 68, tờ bản đồ số 6 của bà Hà Trần Phương T, hướng đông giáp với kênh Đê Thanh Niên.” (BL 300). Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xác định ranh đất tranh chấp giữa bà T với ông Ú và ông T3 được thể hiện theo sơ đồ đo đạc ngày 10/5/2022 của Công ty TNHH D2 là thửa 260, tờ bản đồ số 8 của bà T có 01 cạnh tiếp giáp thửa 261 của ông Ú và 01 cạnh tiếp giáp với thửa 415 (thửa mới 165) của ông T3, không liên quan gì đến thửa 266, tờ bản đồ số 8 nên yêu cầu khởi kiện của bà T là không có cơ sở chấp nhận.

[4] Xét kháng cáo của bà H Trần Phương T xác định đất của bà bị lấn chiếm. Căn cứ để xác định là Giấy báo về việc nộp tiền xáng múc Kênh Đê Thanh Niên ngày 05/11/1993 của UBND xã T xác định phần đất của ông Q trước đây có chiều ngang là 75m. Sau này, ông Q cho bà T thì chiều ngang được cấp cũng là 75m (tại phiên tòa phúc thẩm ông M nhận ủy quyền của bà T cũng xác định nội dung này là đúng). Do đó, bà T xác định chiều ngang mặt tiền phần đất của bà T ngoài lộ và ngang sau hậu đều là 75m, dài từ trước ra đến sau hậu. Tuy nhiên, tại Biên bản hòa giải ngày 18/5/2021 của UBND xã T thì bà T xác định khi cấp đổi chính quy theo bản đồ mới thì phát hiện đất bà thiếu chiều ngang khoảng 03m, do cha bà T giao lại chiều ngang là 75m từ xưa đến nay và tại Biên bản hòa giải ngày 22/6/2021 của UBND xã T thì bà T xác định đất của bà thiếu chiều ngang, cụ thể, bên ông T3 lấn chiếm 1,5m và bên ông Ú lấn chiếm 1,5m. Tổng cộng đất bà T thiếu chiều ngang 3m. Đến khi Tòa án tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ thì bà T lại xác định ông T3 lấn 3,21m (từ mốc M13 đến M15), ông Ú lấn 1,96m (từ mốc M18 đến M19), tổng cộng chiều ngang bị lấn chiếm là 5.17m nhưng bà T không xuất trình được căn cứ nào để chứng minh cho việc bị lấn chiếm đất như bà trình bày trong khi diện tích đo thực tế tại phụ lục đo đạc ngày 30/6/2023 thì chiều ngang đất của bà T đầu giáp Kênh Đê Thanh Niên là 75,37m và ngang sau hậu là 75,79m đều nhiều hơn kích thước ngang 75m ở cả hai đầu đất trước và sau hậu. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu của bà T là có cơ sở.

Tại phiên tòa phúc thẩm, luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà T xác định văn bản số 3484/CNTM-KTĐC ngày 28/6/2023 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện T có nội dung chưa chính xác nhưng cũng không đưa ra được căn cứ bằng văn bản để chứng minh cho lập luận của mình nên cũng chưa đủ cơ sở để làm căn cứ xem xét giải quyết.

Tại phiên tòa phúc thẩm bà T không cung cấp chứng cứ gì mới để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình nên không có căn cứ để chấp nhận.

[5] Từ những phân tích như trên, Hội đồng xét xử xét thấy không chấp nhận kháng cáo của bà H Trần Phương T, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[6] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp là phù hợp nên chấp nhận.

Các phần còn lại của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

Do giữ nguyên bản án sơ thẩm nên bà H Trần Phương T phải chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm theo khoản 1 Điều 148 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 148, khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 175 của Bộ luật Dân sự; Điều 166, Điều 203 của Luật Đất đai; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

- Không chấp nhận kháng cáo của bà H Trần Phương T.

- Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 103/2023/DS–ST ngày 15/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp.

  1. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà H Trần Phương T.
  2. Xác định ranh giới quyền sử dụng đất giữa các đương sự như sau:
    • - Ranh giới quyền sử dụng đất giữa thửa đất 260, tờ bản đồ số 8 của bà H Trần Phương T với thửa đất 261, tờ bản đồ số 8 của hộ ông Trần Văn Ú1 đất cùng tọa lạc tại ấp F, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp được xác định là các đoạn thẳng nối liền các mốc từ mốc F6 đến mốc F5, F4, F3, F2 đến mốc F1 theo Phụ lục sửa đổi, bổ sung mảnh trích đo địa chính số 04-2022 của Công ty TNHH D2.
    • - Ranh giới quyền sử dụng đất giữa thửa đất 260, tờ bản đồ số 8 của bà H Trần Phương T với thửa đất 165, tờ bản đồ số 3 (trước đây là thửa 415, tờ bản đồ số 8) của ông Nguyễn Ngọc T3, bà Lê Thị Mỹ D đất cùng tọa lạc tại ấp F, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp được xác định là các đoạn thẳng nối liền các mốc từ mốc M15 đến M16 đến M6 theo Sơ đồ đo đạc ngày 10/5/2022 của Công ty TNHH D2.

Các đương sự được quyền sử dụng không gian và lòng đất theo chiều thẳng đứng từ ranh giới của thửa đất phù hợp với quy định của pháp luật và không được làm ảnh hưởng đến việc sử dụng đất của người khác. Người sử dụng đất chỉ được trồng cây và làm các việc khác trong khuôn viên đất thuộc quyền sử dụng của mình và theo ranh giới đã được xác định. Nếu cây trồng, vật kiến trúc của bên này lấn qua phần đất của bên kia thì phải tháo dở, di dời theo quy định của pháp luật.

Các đương sự có quyền và nghĩa vụ đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để kê khai, điều chỉnh lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của mình theo quy định của pháp luật.

(Gửi kèm Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 18/4/2022, Sơ đồ đo đạc ngày 10/5/2022, Phụ lục sửa đổi, bổ sung mảnh trích đo địa chính số 04- 2022 của Công ty TNHH D2)

  1. Về án phí dân sự sơ thẩm:

    Bà Hà Trần Phương T phải chịu 600.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 950.000 đồng theo Biên lai thu số: 0001796 ngày 14 tháng 12 năm 2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tháp Mười. Bà T được nhận lại số tiền 350.000 đồng (ba trăm năm mươi nghìn đồng).

    Ông Ngô Văn Ú không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; Hoàn trả lại ông Ngô Văn Ú số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) là tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0008342 ngày 15/11/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tháp Mười.

    Ông Nguyễn Ngọc T3 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; Hoàn trả lại ông Nguyễn Ngọc T3 số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) là tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0008327 ngày 14/11/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tháp Mười.

  2. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và đo đạc là 39.000.000 đồng (ba mươi chín triệu đồng): Bà T phải chịu, chị đã nộp và chi xong.
  3. Án phí dân sự phúc thẩm:

    Bà Hà Trần Phương T phải phải chịu 300.000 đồng án phí phúc thẩm, nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai số 0003595 ngày 11/8/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tháp Mười.

Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Phòng KTNV THA Tòa án Tỉnh;
  • - VKSND Tỉnh;
  • - Tòa án ND huyện Tháp Mười;
  • - Chi cục THADS huyện Tháp Mười;
  • - Đương sự;
  • - Lưu: VT, HSVA, TDS.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Trung Thành

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 214/2024/DS-PT ngày 02/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 214/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 02/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà Th khởi kiện yêu cầu xác định ranh giới quyền sử dụng đất với các chủ đất liền kề là ông U và ông Th1.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger