|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 214/2025/KDTM-ST
Ngày: 27-6-2025
V/v: Tranh chấp hợp đồng dịch vụ.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC,
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Cường
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Phạm Văn Phước
- Bà Nguyễn Hương Thủy
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thị Thảo - Kiểm sát viên
Ngày 27 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 387/2024/TLST-KDTM ngày 23 tháng 10 năm 2024, về Tranh chấp hợp đồng dịch vụ theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 4664/2025/QĐXXST-KDTM ngày 19 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 5418/2025/QĐXXST-KDTM ngày 06 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Công ty TNHH T1; địa chỉ: C Hồ H, phường C, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thanh T; địa chỉ: C Hồ H, phường C, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; là đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 03/6/2024)
- Bị đơn: Công ty Cổ phần V; địa chỉ: C T, Khu phố B, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh
Người đại diện theo pháp luật: Bà Sybile Laure D, sinh năm 1968 - Chức danh: Giám đốc; địa chỉ: 2 (số C) N, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 04/6/2024, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn Công ty TNHH T1 có bà Nguyễn Thị Thanh T đại diện theo ủy quyền trình bày:
Ngày 03/02/2024, Công ty Cổ phần V (viết tắt là Công ty V) và Công ty TNHH T1 (viết tắt là Công ty T1) ký Hợp đồng dịch vụ số: 0302/2024/HDDV/LAPOISSONNERIE/TDAH, với nội dung: Công ty T1 cung cấp dịch vụ sản xuất, gồm, sản xuất nội dung (bao gồm hình ảnh và video), quản lý fanpage và lên lịch bài viết kèm nội dung song ngữ cho nhà hàng L, tổng giá trị của hợp đồng là 168.480.000 đồng, trong đó: trọn gói sản xuất video theo yêu cầu của bên A là 120.000.000 đồng; trọn gói dịch vụ quản lý fanpage và lên lịch bài viết kèm nội dung song ngữ theo yêu cầu của bên A (12 bài/tháng) là 36.000.000 đồng; thuế VAT 8% là 12.480.000 đồng, thanh toán làm 06 đợt; đợt 1: Bên A thanh toán số tiền 28.080.000 đồng cho bên B trong vòng 03 ngày làm việc kể từ ngày ký hợp đồng; Hóa đơn giá trị gia tăng sẽ là hóa đơn điện tử và sẽ được bên B gửi cho bên A trong vòng 24 giờ làm việc ngay sau khi bên B nhận được thanh toán. Từ đợt 2 đến đợt 6, mỗi đợt thanh toán 28.080.000 vào đầu hàng tháng (từ ngày 01 đến ngày 05) kể từ tháng 3/2024.
Tại điểm a khoản 10.1 Điều 10 Hợp đồng dịch vụ số: 0302/2024/HDDV/LAPOISSONNERIE/TDAH ngày 03/02/2024 quy định: Nếu bên A không thanh toán cho bên B theo đúng thời hạn quy định tại Điều 3 của Hợp đồng thì bên A phải chịu phạt vi phạm 0.03% x giá trị hợp đồng bị vi phạm x số ngày chậm thanh toán.
Tại điểm b khoản 10.1 Điều 10 Hợp đồng dịch vụ số: 0302/2024/HDDV/LAPOISSONNERIE/TDAH ngày 03/02/2024 quy định: Nếu bên A chậm thanh toán quá 30 ngày thì bên B có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng, trường hợp này ngoài tiền phạt vi phạm do chậm thanh toán, bên A còn phải chịu phạt 08% giá trị hợp đồng.
Quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty T1 đã cung cấp dịch vụ theo đúng thỏa thuận hợp đồng, Công ty T1 đã đăng tải lên Facebook khách hàng (tháng 2 và tháng 3) và đã xuất 02 hóa đơn giá trị gia tăng: Hóa đơn giá trị gia tăng số 4 ngày 13/3/2024, số tiền là 28.080.000 đồng; Hóa đơn giá trị gia tăng số 7 ngày 23/5/2024, số tiền là 28.080.000 đồng. Công ty T1 đã gửi các đơn đề nghị thanh toán đợt 1, đợt 2 và văn bản yêu cầu thanh toán cũng như nhắc nhở thanh toán nhiều lần nhưng Công ty V vẫn không thực hiện nghĩa vụ thanh toán.
Nguyên đơn yêu cầu Công ty V phải trả cho Công ty T1 số tiền nợ gốc là 56.160.000 đồng, tiền lãi chậm thanh toán đợt 1 là 28.080.000 đồng x 0.03% x 506 ngày (tính từ ngày 08/02/2024 đến ngày 27/6/2025) = 4.262.544 đồng, tiền lãi chậm thanh toán đợt 2 là 28.080.000 đồng x 0.03% x 479 ngày (tính từ ngày 06/3/2024 đến ngày 27/6/2025) = 4.035.096 đồng, tiền phạt chậm thanh toán là 56.160.000 đồng x 08% = 4.492.800 đồng. Tổng cộng là 68.950.440 đồng.
Bị đơn Công ty Cổ phần V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến Tòa án để tham gia tố tụng giải quyết vụ án nhưng vẫn vắng mặt không có lý do.
Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử: Thẩm phán thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn, đúng quy định của pháp luật. Việc cấp tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Xác định đúng người tham gia tố tụng. Quyết định đưa vụ án ra xét xử đúng quy định của pháp luật. Vi phạm thời hạn chuẩn bị xét xử. Hội đồng xét xử thực hiện đúng quyền hạn theo quy định của pháp luật.
Về chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án đến khi mở phiên tòa: Đương sự thực hiện quyền và nghĩa vụ đúng quy định pháp luật.
Về nội dung: Đề nghị hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Căn cứ vào yêu cầu của nguyên đơn, quan hệ tranh chấp là tranh chấp hợp đồng dịch vụ được xác lập giữa hai tổ chức có đăng ký kinh doanh và đều có mục đích lợi nhuận, được quy định tại khoản 1 Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; bị đơn có trụ sở tại thành phố T nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Công ty Cổ phần V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt Công ty Cổ phần V.
[3] Xét yêu cầu của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[4] Tại Hợp đồng dịch vụ số: 0302/2024/HDDV/LAPOISSONNERIE/TDAH ngày 03/02/2024 thể hiện, Công ty T1 cung cấp dịch vụ sản xuất, gồm, sản xuất nội dung (bao gồm hình ảnh và video), quản lý fanpage và lên lịch bài viết kèm nội dung song ngữ cho nhà hàng L, tổng giá trị của hợp đồng là 168.480.000 đồng. trong đó: trọn gói sản xuất video theo yêu cầu của bên A là 120.000.000 đồng; trọn gói dịch vụ quản lý fanpage và lên lịch bài viết kèm nội dung song ngữ theo yêu cầu của bên A (12 bài/tháng) là 36.000.000 đồng; thuế VAT 8% là 12.480.000 đồng, thanh toán làm 06 đợt; đợt 1: Bên A thanh toán số tiền 28.080.000 đồng cho bên B trong vòng 03 ngày làm việc kể từ ngày ký hợp đồng; đợt 2 đến đợt 6: mỗi đợt thanh toán 28.080.000 đồng vào đầu hàng tháng (từ ngày 01 đến ngày 05) kể từ tháng 3/2024.
[5] Công ty T1 đã đăng tải lên Facebook khách hàng (tháng 2 và tháng 3) và đã xuất 02 hóa đơn giá trị gia tăng, cụ thể: Hóa đơn giá trị gia tăng số 4 ngày 13/3/2024, số tiền là 28.080.000 đồng; Hóa đơn giá trị gia tăng số 7 ngày 23/5/2024, số tiền là 28.080.000 đồng. Ngày 05/02/2024, nguyên đơn có đơn đề nghị thanh toán đợt 1; Ngày 02/3/2024, nguyên đơn có đơn đề nghị thanh toán đợt 2, nhưng bị đơn không có ý kiến phản hồi. Do đó, nguyên đơn yêu cầu Công ty V phải thanh toán cho Công ty T1 số tiền cung ứng dịch vụ 56.160.000 đồng là có căn cứ.
[6] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đòi bị đơn phải thanh toán số tiền lãi do chậm thanh toán với lãi suất 0.03% x giá trị hợp đồng bị vi phạm x số ngày chậm thanh toán.
[7] Tại điểm a khoản 10.1 Điều 10 Hợp đồng dịch vụ số: 0302/2024/HDDV/LAPOISSONNERIE/TDAH ngày 03/02/2024 quy định: Nếu bên A không thanh toán cho bên B theo đúng thời hạn quy định tại Điều 3 của Hợp đồng thì bên A phải chịu phạt vi phạm 0.03% x giá trị hợp đồng bị vi phạm x số ngày chậm thanh toán. Ngày 05/02/2024, nguyên đơn có đơn đề nghị thanh toán đợt 1; Ngày 02/3/2024, nguyên đơn có đơn đề nghị thanh toán đợt 2. Do đó, nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả tiền lãi chậm thanh toán đợt 1 là 28.080.000 đồng x 0.03% x 506 ngày (từ ngày 08/02/2024 đến ngày 27/6/2025) = 4.262.544 đồng, tiền lãi chậm thanh toán đợt 2 là 28.080.000 đồng x 0.03% x 479 ngày (tính từ ngày 06/3/2024 đến ngày 27/6/2025) = 4.035.096 đồng là có cơ sở.
[8] Đối với yêu cầu đòi bị đơn phải thanh toán số tiền phạt vi phạm do chậm thanh toán.
[9] Tại điểm b khoản 10.1 Điều 10 Hợp đồng dịch vụ số: 0302/2024/HDDV/LAPOISSONNERIE/TDAH ngày 03/02/2024 quy định: Nếu bên A chậm thanh toán quá 30 ngày thì bên B có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng, trường hợp này ngoài tiền phạt vi phạm do chậm thanh toán, bên A còn phải chịu phạt 08% giá trị hợp đồng. Nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải phải thanh toán cho nguyên đơn số tiền phạt vi phạm do chậm thanh toán là 56.160.000 đồng x 08% = 4.492.800 đồng là có căn cứ nên chấp nhận.
[10] Tổng cộng số tiền bị đơn phải thanh toán cho nguyên đơn là 56.160.000 đồng + 4.262.544 đồng + 4.035.096 đồng + 4.492.800 đồng = 68.950.440 đồng.
[11] Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật.
[12] Án phí dân sự sơ thẩm đối với tranh chấp về kinh doanh thương mại: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí sơ thẩm là 3.846.882 đồng.
[13] Nguyên đơn không phải chịu án phí nên được nhận lại toàn bộ số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ nêu trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 74, Điều 85 và Điều 87 Luật Thương mại năm 2005;
Căn cứ Điều 357 và Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty TNHH T1.
Buộc Công ty Cổ phần V phải trả cho Công ty TNHH T1 số tiền 68.950.440 đồng (sáu mươi tám triệu, chín trăm năm mươi ngàn, bốn trăm bốn mươi đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
- Án phí dân sự sơ thẩm đối với tranh chấp về kinh doanh thương mại:
Công ty Cổ phần V phải chịu án phí sơ thẩm là 3.447.522 đồng (ba triệu, bốn trăm bốn mươi bảy ngàn, năm trăm hai mươi hai đồng).
Trả lại cho Công ty TNHH T1 3.000.000 đồng (ba triệu đồng) tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0044381 ngày 18/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự (đã được sửa đổi bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (đã được sửa đổi bổ sung năm 2014).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Nguyễn Mạnh Cường |
Bản án số 214/2025/KDTM-ST ngày 27/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng dịch vụ
- Số bản án: 214/2025/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng dịch vụ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: “Tranh chấp hợp đồng dịch vụ “ giữa Công ty TNHH T1 và Công ty Cổ phần V
