TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 214/2025/HSST Ngày: 15/4/2025 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Tâm
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Ngọc Hoa
Bà Thiều Thị Phi Loan
Thư ký phiên tòa: Ông Tôn Hoài Anh Tuyển – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Bích Hồng – Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 183/2025/HSST ngày 12/3/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 193/2025/QĐXXST-HS ngày 20/3/2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Dịp Tằng B1; Giới tính: Nam.
Tên gọi khác: Không;
Sinh ngày 30 tháng 8 năm 1989 tại Đồng Nai;
Nơi đăng ký thường trú: G, khu phố I, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Nơi cư trú: ấp D, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Hoa; Tôn giáo: Không;
Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Phiên dịch viên; Chức vụ: Không;
Họ và tên cha: Dịp Nhật S1sinh năm 1964 (còn sống);
Họ và tên mẹ: Ừng Lsinh năm 1964 (còn sống);
Gia đình bị cáo có 04 anh em, bị cáo là con thứ ba.
Họ tên vợ: Đặng Thị S năm 1992 (đã ly hôn), có 02 con lớn sinh năm 2013 và nhỏ sinh năm 2017.
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt quả tang ngày 19/10/2024, chuyển tạm giam theo Lệnh tạm giam số 2110/LTG-ĐTTH ngày 28/10/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B
Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực Bthuộc T tạm giam Công an tỉnh Đ
- Bị hại: Anh Ngô Minh T năm 1998
Địa chỉ thường trú: ấp Đ, xã T, huyện M, tỉnh Sóc Trăng
Nơi ở hiện nay: B, đường L, phường T, Quận B, thành phố Hồ Chí Minh
- Người làm chứng:
1/ Ông Lê Anh D năm 1993
Địa chỉ: B, KDC A, khu phố A, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai
2/ Ông Trần Quốc T1sinh năm 1983
Địa chỉ: Tổ A, khu phố B, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai
3/ Ông Chu T1 D1sinh năm 1969
Địa chỉ: D, tổ A, đường P, khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai
(Bị cáo, bị hại có mặt; người làm chứng vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ ngày 18/10/2024, Dịp Tằng B1sử dụng zalo để liên hệ với anh Ngô Minh T2(sinh năm 1988, hộ khẩu thường trú tại ấp Đ, xã T, huyện M, tỉnh Sóc Trănglà tài xế xe ôm công nghệ Gđặt xe đi từ đường L thuộc tổ F, khu phố F, phường T, thành phố B đến Khu Công nghiệp H thuộc huyện Đ, tỉnh Long Anđể lấy tiền của bạn cho thì anh T3 khiển xe mô tô hiệu Honda Winner X, gắn biển số 59KA-243.26 đến đón B1và chở đến Long An. Khi đến nơi, B1không gặp được bạn để lấy tiền nên nói anh T4 về lại thành phố BTrên đường về, do không có tiền trả tiền thuê nhà nghỉ nên B1nảy sinh ý định cướp tiền của anh TKhoảng 00 giờ 05 phút ngày 19/10/2024, khi anh T4 B1đi đến bãi đất trống đối diện cổng nghĩa trang G khu phố F, phường T, thành phố B B1lấy 01 con dao cán màu cam, lưỡi bằng kim loại, chiều dài khoảng 20cm từ trong túi quần ra rồi Bldùng tay phải cầm dao kề vào cổ anh T5 đe dọa anh T6 chiếm đoạt tiền nên đã gây ra vết thương ở cổ anh T7 này anh T8 kháng và quăng xe làm xe mô tô, anh T9 B1đều ngã ra đường, anh T10 B1giằng co với nhau, quá trình giằng co Bl1dùng dao đâm trúng anh T11 thương tích ở tay phải, vai phải, hông phải và ở mông, anh T12 thoát ra được chạy
về hướng Ngã tư Công ty B2và trị hô “Cướp” thì được anh Chu T1 D1(là người dân) và các anh T28 Lê Anh D1(là lực lượng Công an phường T tuần tra) phát hiện bắt giữ Bẩu, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bđể điều tra xử lý.
* Vật chứng của vụ án:
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 9A, màu xanh đen, số IMEI 869362052669284, sim số 0868741761 là tài sản của Dịp Tầng Bẩu, không liên quan vụ án. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B trả lại cho B1
- 01 (một) con dao dài 20cm, cán màu cam, lưỡi bằng kim loại rộng 02cm; 01 (một) vỏ dao màu cam dài khoảng 12cm là hung khí bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội.
- 01 (một) chiếc xe mô tô hiệu Honda Winner X, màu đỏ đen bạc, số máy KC34E1095077, số khung RLHKC3703KY044926. Qua xác minh là tài sản cá nhân của anh Ngô Minh T13 quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B giao trả lại cho anh T
- 01 (một) giỏ màu xanh có dòng chữ "Gfood" màu trắng; 01 (một) mũ bảo hiểm màu xanh, bên trên có chữ Grab màu trắng; 01 (một) áo mưa màu đen, không rõ nhãn hiệu; 01 (một) bình giữ nhiệt màu đen, nhãn hiệu BAOL là tài sản cá nhân của anh Ngô Minh T13 quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B trả lại cho anh T
- 01 (một) biển số xe mô tô 59KA-243.26 (biển số giả), anh Ngô Minh T14 vào xe mô tô Honda Winner X của anh T15 tra cứu không có thông tin trên hệ thống dữ liệu, anh T16 nhận biển số trên do anh T17 được, sau đó xe mô tô của anh T18 mất biển số chưa làm lại nên đã gắn vào để lưu thông. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B chuyển Công an thành phố Bxử lý theo quy định.
- Số tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) ông Dịp N S1giao nộp để bồi thường thiệt hại cho anh Ngô Minh T2
Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 1217/KLTTCT-TTPYĐN ngày 12/11/2024 của Trung tâm Pđã kết luận thương tích của anh Ngô Minh T19 sau:
“2. Kết luận:
- Sẹo cổ trước lệch phải kích thước nhỏ. Tỷ lệ: 02%
- Sẹo vết thương trùng với vết mổ vùng vai phải (cạnh vùng nách sau phải) kích thước trung bình. Tỷ lệ: 02%
- Sẹo hông phải kích thước nhỏ. Tỷ lệ: 01%
- Sẹo mông phải kích thước nhỏ. Tỷ lệ: 01%
- Vết thương vùng vai phải gây đứt bán phần cơ trên gai + dưới gai đã phẫu thuật hiện để lại hạn chế vận động dạng, xoay vai phải. Tỷ lệ: 11%
- Vết thương, cánh tay phải đứt bán phần cơ nhị đầu + cơ cánh tay phải đã phẫu thuật khâu nối hiện đã liền sẹo vết thương và vết mổ vùng cánh tay phải + hạn chế vận động cánh – khuỷu phải (yếu cánh tay phải). Tỷ lệ: 05%
Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Ngô Minh T năm 1998 tại thời điểm giám định là: 20% (Hai mươi phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
3. Kết luận khác:
- Vật gây thương tích: vật sắc hoặc vật sắc nhọn.”
Về trách nhiệm dân sự: Ông Dịp Nhật S1(cha của Dịp T20 B1nộp số tiền 20.000.000₫ (Hai mươi triệu đồng) để bồi thường cho anh Ngô Minh T21 anh T22 đồng ý nhận.
Anh Ngô Minh T23 cầu bị cáo phải bồi thường tổng số tiền là 235.524.540 đồng (Hai trăm ba mươi lăm triệu, năm trăm hai mươi bốn nghìn, năm trăm bốn mươi đồng), bao gồm các khoản sau:
- Thu nhập thực tế bị mất là 500.000 đồng/ngày, tính từ ngày 19/10/2024 cho đến khi bình phục hoàn toàn dự kiến trong khoảng thời gian 4 tháng là 60.000.000 đồng; Thiệt hại tổn thất về tinh thần do sức khỏe bị xâm phạm là 117.000.000 đồng; Chi phí điều trị tiền thuốc và viện phí là 11.848.540 đồng; Tiền ăn hàng ngày là 150.000 đồng/ngày x 04 tháng là 18.000.000 đồng; Tiền nhà ở: 4.644.000 x 04 tháng là 18.576.000 đồng; Chi phí và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc cho mẹ ruột là bà Chung Thị Kim L đồng x 07 ngày là 2.100.000 đồng; Chi phí đi lại thuê phương tiện đến cơ sở khám chữa bệnh và về nơi ở là 800.000 đồng x 5 chuyến là 4.000.000 đồng (Dự kiến phát sinh thêm 5 chuyến: 800.000 đồng x 5 chuyến là 4.000.000 đồng).
Tại bản cáo trạng số 212/CT-VKSBH ngày 10/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa đã truy tố bị cáo Dịp Tằng B1 về tội: “Cướp tài sản” quy định tại điểm c, d khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa có thay đổi quan điểm truy tố từ tình tiết “dùng thủ đoạn nguy hiểm” thành tình tiết “sử dụng phương tiện nguy hiểm” và đề nghị xử phạt: Bị cáo D2Tằng Bẩu từ 09 (chín)
năm đến 10 (mười) năm tù. Buộc bị cáo phải tiếp tục bồi thường thiệt hại cho bị hại theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa đã nêu. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai bị hại, người làm chứng và các chứng cứ, tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án. Từ đó, có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 00 giờ 05 phút, ngày 19/10/2024, tại khu đất trống đối diện Nghĩa trang G khu phố F, phường T, thành phố B B1đã có hành vi sử dụng 01 con dao bằng kim loại dài khoảng 20cm để đe dọa, khống chế anh Ngô Minh T2 nhằm cướp tiền. Khi anh T8 kháng, B1đã dùng dao đâm vào người anh T11 thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 20% thì bị bắt quả tang, khởi tố để điều tra xử lý.
Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Cướp tài sản” với tình tiết định khung là “Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30%” và tình tiết “Sử dụng vũ khí, phương tiện hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác”. Tội danh và hình phạt được quy định tại điểm c, d khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự như cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân thành phố B đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những đã trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an xã hội tại địa phương, gây hoang mang lo sợ cho quần chúng nhân dân. Vì vậy, cần phải có mức hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo
gây ra, tiếp tục cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và có tác dụng răn đe, đấu tranh phòng ngừa chung.
[4] Về tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:
Bị cáo là người có nhân thân tốt, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã tự nguyện bồi thường một phần thiệt hại. Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo cũng tự nguyện bồi thường toàn bộ tiền bồi thường cho bị hại. Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14 để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.
[5] Về trách nhiệm dân sự:
Quá trình điều tra, anh Ngô Minh T23 cầu bị cáo phải bồi thường tổng số tiền là 235.524.540đ (Hai trăm ba mươi lăm triệu, năm trăm hai mươi bốn nghìn, năm trăm bốn mươi đồng).
Tại phiên tòa, anh Ngô Minh T24 đổi yêu cầu bồi thường. Cụ thể, anh T23 cầu bị cáo bồi thường các chi phí như sau:
- Thu nhập thực tế bị mất là 500.000 đồng/ngày x 8 ngày nằm viện là 4.000.000 đồng; Thiệt hại tổn thất về tinh thần do sức khỏe bị xâm phạm là 35.100.000 đồng. Chi phí điều trị tiền thuốc và viện phí là 11.848.540 đồng; Tiền ăn hàng ngày là 300.000 đồng/ngày x 8 ngày nằm viện là 2.400.000 đồng; Chi phí và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị cho mẹ ruột là bà Chung Thị Kim L1 là 300.000 đồng x 8 ngày nằm viện là 2.400.000 đồng; Chi phí đi lại thuê phương tiện đến cơ sở khám chữa bệnh và về nơi ở là 800.000 đồng x 5 chuyến là 4.000.000 đồng.
Tổng số tiền anh Ngô Minh T23 cầu bị cáo bồi thường là: 59.748.540 đồng (Năm mươi chín triệu, bảy trăm bốn mươi tám ngàn, năm trăm bốn mươi đồng).
Tại phiên tòa, bị cáo đồng ý bồi thường toàn bộ số tiền 59.748.540 đồng (Năm mươi chín triệu, bảy trăm bốn mươi tám ngàn, năm trăm bốn mươi đồng) cho bị hại anh Ngô Minh T2 nên Hội đồng xét xử ghi nhận. Buộc bị cáo Dịp Tằng B1 có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho anh Ngô Minh T25 S2tiền là 59.748.540 đồng (Năm mươi chín triệu, bảy trăm bốn mươi tám ngàn, năm trăm bốn mươi đồng).
[6] Về xử lý vật chứng:
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 9A, màu xanh đen, số IMEI 869362052669284, sim số 0868741761 là tài sản của Dịp Tầng Bẩu, không liên quan vụ án. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B trả lại cho B1là phù hợp.
- 01 (một) con dao dài 20cm, cán màu cam, lưỡi bằng kim loại rộng 02cm; 01 (một) vỏ dao màu cam dài khoảng 12cm là hung khí bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu, tiêu hủy.
- 01 (một) chiếc xe mô tô hiệu Honda Winner X, màu đỏ đen bạc, số máy KC34E1095077, số khung RLHKC3703KY044926. Qua xác minh là tài sản cá nhân của anh Ngô Minh T13 quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B giao trả lại cho anh T26 phù hợp.
- 01 (một) giỏ màu xanh có dòng chữ "Gfood" màu trắng; 01 (một) mũ bảo hiểm màu xanh, bên trên có chữ Grab màu trắng; 01 (một) áo mưa màu đen, không rõ nhãn hiệu; 01 (một) bình giữ nhiệt màu đen, nhãn hiệu BAOL là tài sản cá nhân của anh Ngô Minh T13 quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B trả lại cho anh T26 phù hợp.
- 01 (một) biển số xe mô tô 59KA-243.26 (biển số giả), anh Ngô Minh T14 vào xe mô tô Honda Winner X của anh T15 tra cứu không có thông tin trên hệ thống dữ liệu, anh T16 nhận biển số trên do anh T17 được, sau đó xe mô tô của anh T18 mất biển số chưa làm lại nên đã gắn vào để lưu thông. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B chuyển Công an thành phố Bxử lý theo quy định.
- Số tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) ông Dịp N S1giao nộp để bồi thường thiệt hại cho anh Ngô Minh T27 cần tiếp tục tạm giữ số tiền trên để đảm bảo thi hành án.
[7] Về án phí hình sự sơ thẩm: bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về án phí dân sự sơ thẩm: bị cáo phải chịu 1.987.427 đồng (Một triệu, chín trăm tám mươi bảy ngàn, bốn trăm hai mươi bảy đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
[8] Nhận định của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa phù hợp với các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm c, d khoản 2 Điều 168; điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14;
Tuyên bố bị cáo Dịp Tằng B1 phạm tội “Cướp tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Dịp Tằng B1 09 (chín) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/10/2024.
- Về tránh nhiệm dân sự: Căn cứ các Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 468, Điều 584, Điều 585, Điều 587, Điều 590 Bộ luật dân sự năm 2015.
Buộc bị cáo Dịp Tằng B1 có nghĩa vụ bồi thường cho anh Ngô Minh T25 S2tiền 59.748.540 đồng (Năm mươi chín triệu, bảy trăm bốn mươi tám ngàn, năm trăm bốn mươi đồng).
Giao số tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) mà bị cáo đã nộp tại Chi Cục thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa (Biên lai thu tiền số 0002809 ngày 19/3/2025) cho bị hại anh Ngô Minh T2
Buộc bị cáo Dịp Tằng B1 tiếp tục có nghĩa vụ bồi thường cho anh Ngô Minh T25 S2tiền là 39.748.540 đồng (Ba mươi chín triệu, bảy trăm bốn mươi tám ngàn, năm trăm bốn mươi đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn lại phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự;
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) con dao dài 20cm, cán màu cam, lưỡi bằng kim loại rộng 02cm; 01 (một) vỏ dao màu cam dài khoảng 12cm.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 13/3/2025 tại Chi Cục thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa).
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 1.987.427 đồng (Một triệu, chín trăm tám mươi bảy ngàn, bốn trăm hai mươi bảy đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Thị Thanh Tâm |
Bản án số 214/2025/HSST ngày 15/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI về cướp tài sản
- Số bản án: 214/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Cướp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: dịp tằng B phạm tội cướp tài sản
