TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 214/2025/HNGĐ-ST
Ngày 28-11-2025
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Tuyên.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Lệ Chi;
Ông Trịnh Văn Lực.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Giang - Thư ký Tòa án Nhân dân Khu vực 16, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát Nhân dân Khu vực 16, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thúy An - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Nhân dân Khu vực 16, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 509/2025/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 10 năm 2025 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 227/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lê Thị Bích L, sinh năm 1986. Thường trú: Thôn C, xã H, huyện Đ, tỉnh Gia Lai (nay là thôn C, xã M, tỉnh Gia Lai); có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Hữu L1, sinh năm 1981. Thường trú: Thôn C, xã H, huyện Đ, tỉnh Gia Lai (nay là xã M, tỉnh Gia Lai). Tạm trú: số C, đường N, khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương (nay là phường D, Thành phố Hồ Chí Minh); có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện đề ngày 25 tháng 8 năm 2025, lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn bà Lê Thị Bích L trình bày:
Bà Lê Thị Bích L và ông Nguyễn Hữu L1 là vợ chồng có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 16, quyển số 01 do Ủy ban Nhân dân thị trấn B, huyện P, tỉnh Bình Định (nay là xã B, tỉnh Gia Lai) cấp ngày 31 tháng 5 năm 2007. Thời gian đầu vợ chồng chung sống với nhau tương đối hòa thuận và hạnh phúc, tuy nhiên, sau một thời gian chung sống thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn chủ yếu do tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra tranh cãi, không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống vợ chồng. Hiện nay vợ chồng đã sống ly thân được 03 năm, bà L đang sống tại huyện Đ, tỉnh Gia Lai còn ông L1 đang sống tại Thành phố Hồ Chí Minh. Nay, bà L xác định không còn tình cảm với ông L1, nhận thấy mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Về quan hệ hôn nhân: Yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Hữu L1.
- Về con chung: Bà Lê Thị Bích L yêu cầu được nuôi 02 con chung là cháu Nguyễn Lê Hữu H, sinh ngày 24/4/2008 và cháu Nguyễn Lê Hữu H1, sinh ngày 05/6/2011. Về cấp dưỡng: Bà Lê Thị Bích L yêu cầu ông Nguyễn Hữu L1 cấp dưỡng nuôi cháu Nguyễn Lê Hữu H 1.500.000 đồng/tháng và cấp dưỡng nuôi cháu Nguyễn Lê Hữu H1 1.500.000 đồng/tháng đến khi cháu Nguyễn Lê Hữu H và cháu Nguyễn Lê Hữu H1 đủ 18 tuổi.
- Về tài sản chung và nợ chung: Vợ chồng sẽ tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Bị đơn ông Nguyễn Hữu L1 trình bày: Ông L1 thống nhất với trình bày của chị Lê Thị Bích L về quá trình chung sống, kết hôn hôn và con chung. Sau khi kết hôn thì vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, mâu thuẫn chủ yếu là tính tình vợ chồng không hợp nhau, thường xuyên tranh cãi, bất đồng quan điểm sống. Hiện nay vợ chồng đã sống ly thân được 03 năm nay, ông L1 đang sống tại Thành phố Hồ Chí Minh còn chị L đang sống tại Thôn C, xã H, huyện Đ, tỉnh Gia Lai (nay là thôn C, xã M, tỉnh Gia Lai). Nay, ông L1 cũng xác định không còn tình cảm với chị L, trước yêu cầu ly hôn của chị L thì ông L1 hoàn toàn đồng ý.
Về con chung: Ông L1 và bà L có 02 con chung là cháu Nguyễn Lê Hữu H, sinh ngày 24/4/2008 và cháu Nguyễn Lê Hữu H1, sinh ngày 05/06/2011, ông L1 đồng ý giao cả 02 con chung cháu H và cháu H1 cho bà L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng: Ông L1 tự nguyện cấp dưỡng nuôi cháu H 1.500.000 đồng/tháng và cấp dưỡng nuôi cháu H1 1.500.000 đồng/tháng đến khi cháu H và cháu H1 đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng sẽ tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện Kiểm sát Nhân dân Khu vực 16, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự. Những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng pháp luật tố tụng, đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định; không kiến nghị khắc phục, bổ sung các thủ tục tố tụng. Quan hệ pháp luật là “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”. Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ các tài liệu có tại hồ sơ vụ án đã được Hội đồng xét xử làm rõ tại phiên tòa nhận thấy mâu thuẫn trong quan hệ hôn nhân giữa bà Lê Thị Bích L và ông Nguyễn Hữu L1 là trầm trọng, không hàn gắn đoàn tụ được nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Bích L
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
- [1] Về tố tụng: Nguyên đơn bà Lê Thị Bích L khởi kiện tranh chấp ly hôn đối với bị đơn ông Nguyễn Hữu L1 hiện nay đang tạm trú và sinh sống tại địa chỉ: số C, đường N, khu phố T, phường D, Thành phố Hồ Chí Minh nên căn cứ theo quy định tại các Điều 28, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền thụ lý, giải quyết của Tòa án Nhân dân Khu vực 16, Thành phố Hồ Chí Minh; quan hệ pháp luật là “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”.
- [2] Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn bà Lê Thị Bích L và bị đơn ông Nguyễn Hữu L1 vắng mặt và có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- [3] Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn bà Lê Thị Bích L với bị đơn ông Nguyễn Hữu L1 tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban Nhân dân thị trấn B, huyện P, tỉnh Bình Định (nay là xã B, tỉnh Gia Lai) theo Giấy chứng nhận kết hôn số 16, quyển số 01 do Ủy ban Nhân dân thị trấn B, huyện P, tỉnh Bình Định cấp ngày 31 tháng 5 năm 2007 nên đây là hôn nhân hợp pháp.
- [4] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Bích L và lời trình bày của bị đơn ông Nguyễn Hữu L1, Hội đồng xét xử xét thấy: Sau khi kết hôn thì vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, mâu thuẫn chủ yếu là tính tình vợ chồng không hợp nhau, vợ chồng thường xuyên xảy ra tranh cãi, bất đồng quan điểm sống. Hiện nay vợ chồng đã sống ly thân được 03 năm nay, ông L1 đang sống tại Thành phố Hồ Chí Minh còn chị L đang sống tại thôn C, xã M, tỉnh Gia Lai. Xét thấy, mục đích của hôn nhân là nhằm xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, hạnh phúc; để đạt được mục đích đó vợ chồng cần phải thương yêu, tin tưởng, quý trọng, chăm sóc, cùng nhau vun đắp, giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau phát triển về mọi mặt. Đây cũng là nghĩa vụ của vợ, chồng được quy định tại Điều 19, Điều 21 của Luật Hôn nhân và Gia đình. Từ những phân tích trên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định quan hệ hôn nhân giữa bà L và ông L1 đã trầm trọng nên việc bà L yêu cầu ly hôn với ông L1 là có cơ sở chấp nhận theo quy định tại Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình.
- [5] Về con chung: Quá trình chung sống bà L và ông L1 có 02 con chung là cháu Nguyễn Lê Hữu H, sinh ngày 24/4/2008 và cháu Nguyễn Lê Hữu H1, sinh ngày 05/6/2011. Bà L yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cả 02 con chung. Xét thấy, hiện nay các con đang sống chung với bà L, được bà L chăm sóc nuôi dưỡng phát triển bình thường. Đồng thời, ông L1 đồng ý giao các con chung cho bà L tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng để đảm bảo sự ổn định, phát triển bình thường của các con. Ngoài ra, hiện nay cháu Nguyễn Lê Hữu H và cháu Nguyễn Lê Hữu H1 đã trên 7 tuổi và có nguyện vọng sống cùng với bà L. Vì vậy, để đảm bảo sự phát triển bình thường của các con, Hội đồng xét xử giao các con chung là cháu Nguyễn Lê Hữu H và cháu Nguyễn Lê Hữu H1 cho bà Lê Thị Bích L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp.
- [6] Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ghi nhận sự tự nguyện của ông Nguyễn Hữu L1 thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung là cháu Nguyễn Lê Hữu H, sinh ngày 24/4/2008 và cháu Nguyễn Lê Hữu H1, sinh ngày 05/6/2011 mỗi cháu 1.500.000 đồng/tháng (tổng số tiền cấp dưỡng nuôi các con chung hàng tháng là 3.000.000 đồng/tháng) cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi.
- [7] Về tài sản chung, nợ chung: các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
- [8] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và chấp nhận đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát Nhân dân Khu vực 16, Thành phố Hồ Chí Minh.
- [9] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 và các Điều 228, 266, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
- - Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
- - Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Bích L đối với ông Nguyễn Hữu L1 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”.
- - Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Bích L được ly hôn với ông Nguyễn Hữu L1 (Giấy chứng nhận kết hôn số 16, quyển số 01 do Ủy ban Nhân dân thị trấn B, huyện P, tỉnh Bình Định (nay là xã B, tỉnh Gia Lai) cấp ngày 31 tháng 5 năm 2007).
- - Về con chung: Giao 02 con chung là cháu Nguyễn Lê Hữu H, sinh ngày 24/4/2008 và cháu Nguyễn Lê Hữu H1, sinh ngày 05/6/2011 cho bà Lê Thị Bích L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
Hai bên đều có quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con theo quy định pháp luật. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con nếu lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người đang trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người không trực tiếp nuôi con. Vì lợi ích của con chưa thành niên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con khi có đơn yêu cầu.
- - Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của ông Nguyễn Hữu L1 thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung là cháu Nguyễn Lê Hữu H, sinh ngày 24/4/2008 và cháu Nguyễn Lê Hữu H1, sinh ngày 05/6/2011 mỗi cháu 1.500.000 đồng/tháng (tổng số tiền cấp dưỡng nuôi các con chung hàng tháng là 3.000.000 đồng/tháng) cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm trả số tiền trên thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải trả cho người được thi hành án khoản tiền lãi theo mức lãi suất qui định tại Khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
- - Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Các đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
2. Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Lê Thị Bích L phải chịu 300.000 đồng, được khấu trừ 300.000 đồng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0026951 ngày 15 tháng 10 năm 2025 của Thi hành án Dân sự Thành phố H. Ông Nguyễn Hữu L1 phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng.
3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Văn Tuyên |
Bản án số 214/2025/HNGĐ-ST ngày 28/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 214/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/11/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vụ án về việc tranh chấp ly hôn nuôi con giữa nguyên đơn bà Lê Thị Bích L với bị đơn ông Nguyễn Hữu L1
