Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH LÂM ĐỒNG

Bản án số: 218/2024/HS-PT

Ngày: 11 - 12 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Công Hoàn
Các Thẩm phán: Ông Đặng Ngọc Bình
Ông Đỗ Mạnh Hùng

- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Quốc Huy - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Tân - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 200/2024/TLPT-HS ngày 16 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Văn Đức và Nguyễn Thanh Quang do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 72/2024/HS-ST ngày 11 tháng 9 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng.

Bị cáo kháng cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Văn Đức, sinh năm 1981 tại: Nam Định; nơi đăng ký thường trú: Đường TC1 khu phố 6, phường Thới Hòa, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương; nơi ở hiện tại: Số nhà 72, Thôn 10, xã Liên Đầm, huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Làm nông; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 09/12; con ông: Nguyễn Văn Ngoạn và bà Nguyễn Thị Nở (Cả hai đều đã chết); vợ: Nguyễn Thị Thanh Vân; con: Có 02 con, lớn sinh năm 2004, nhỏ sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

Tại Bản án số 11/2015/HSST ngày 11-02-2015 bị Toà án nhân dân huyện Di Linh xử phạt 15.00.000đ về tội “Đánh bạc”.

Tại Bản án số 133/2021/HS-PT ngày 17-11-2021 bị Tòa án nhân tỉnh Lâm Đồng xử phạt 15 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc”.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Nguyễn Thanh Quang, sinh năm: 1983, tại: Thái Bình; nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: Thôn 13, xã Hòa Ninh, huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Làm nông; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 11/12; con ông Nguyễn Chí Vinh (Đã chết) và bà Lê Minh Phương; vợ Trần Thị Tuyết (Đã ly hôn); có 02 người con, lớn sinh năm 2009, nhỏ sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

Tại Bản án số 12/HSST ngày 26-11-2004 bị Toà án nhân dân thành phố Bảo Lộc xử phạt 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”,

Tại Bản án số 21/HSST ngày 16-3-2005 bị Tòa án nhân dân huyện Di Linh xử phạt 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tổng hợp hình phạt 30 tháng tù của Bản án số 12/HSST ngày 26/11/2004 của Toà án nhân dân thành phố Bảo Lộc, buộc bị cáo phải chấp hành 54 tháng tù.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 15-01-2024 đến ngày 18-01-2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.

Trong vụ án này, còn có các bị cáo khác không kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo, vụ án không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ 00 phút ngày 15-01-2024, các bị cáo Nguyễn Văn Đức, Trần Văn Thái, Nguyễn Hồng Vân, Nguyễn Thanh Quang, Tô Đình Du, Chu Đức Tiến đến uống rượu tại quán nhậu “Cao Cường” của bị cáo Nguyễn Thanh Long thuộc thôn 13, xã Hòa Ninh, huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng. Đến 14 giờ cùng ngày, bị cáo Đức, bị cáo Vân, bị cáo Quang, bị cáo Du, bị cáo Tiến và bị cáo Thái rủ nhau đánh bạc được thua bằng tiền hình thức đánh bài “Liêng”. Mục đích để có tiền “Xâu” mua nước, thuốc của quán mình nên bị cáo Long đồng ý cho các bị cáo đánh bài tại phòng ngủ phía sau nhà bị cáo Long. Bị cáo Vân là người lấy 02 bộ bài tây 52 lá ở quầy bán hàng của quán của bị cáo Long, rồi tất cả cùng đánh bạc trái phép thắng thua bằng tiền hình thức đánh bài “Liêng”.

Hình thức đánh bài như sau: Không quy định phải bỏ ra bao nhiêu tiền làm mốc để đánh bạc. Các bị cáo sử dụng bộ bài tây gồm 52 lá, mỗi người chơi được chia 03 lá bài và lật ra so sánh với nhau. mỗi người bỏ ra giữa chiếu 50.000đ, rồi chia cho mỗi người chơi 3 quân bài. Sau đó bắt đầu từ người chia bài xem bài và bỏ thêm tiền ra giữa chiếu để “Tố”, ai muốn theo ván bạc thì bỏ tiền ra như người đã “Tố”, hoặc “Tố” thêm tiền, ai không theo thì úp bài vào số bài còn dư chưa chia ở chiếu và bị thua toàn bộ số tiền đã bỏ ra trước đó. Nếu không còn ai tố thêm nữa thì so bài, người nào có bài lớn hơn thì thắng toàn bộ tiền đã “Tố”. Quy định tiền “Tố” nhỏ nhất 50.000 đồng, lớn nhất 200.000 đồng. Phân định thắng thua từ lớn đến nhỏ như sau: Sáp là 3 lá bài cùng quân nhưng khác chất (Bích, chuồn, rô, cơ), Liêng là 3 lá bài liên tiếp nhau, Ba tiên là 3 lá bài thuộc các quân J, Q, K, tính điểm thì bằng cách cộng tất cả các nút của 3 lá bài, lấy số đơn vị của tổng các nút làm điểm, quân A là 1 nút, J, Q, K là 10 nút, nếu bằng điểm nhau thì người nào có đôi hoặc lá bài lớn hơn thì thắng. Nếu ai có thắng số tiền trong một ván trên 500.000đ thì bỏ ra 50.000đ tiền “Xâu” để trả tiền bia, nước ngọt, thuốc lá và trả tiền mua bài tây cho bị cáo Nguyễn Thanh Long.

Các bị cáo đánh bạc đến khoảng 17 giờ 00 phút cùng ngày thì bị Cơ quan Công an kiểm tra bắt quả tang, thu giữ trên chiếu bạc 15.400.000 đồng, thu 800.000 đồng là tiền xâu để trong hộp giấy, thu giữ trên người bị cáo Tiến 2.900.000 đồng, tổng cộng là 19.100.000 đồng. Các bị cáo khai nhận: Bị cáo Nguyễn Thanh Quang không mang theo tiền, mượn của bị cáo Tiến 1.000.000 đồng để đánh bạc; bị cáo Nguyễn Hồng Vân mang theo 1.750.000 đồng dùng vào việc đánh bạc; bị cáo Tô Đình Du mang theo 3.000.000 đồng sử dụng vào việc đánh bạc; bị cáo Trần Văn Thái không mang theo tiền nên mượn của bị cáo Du 2.000.000 đồng để tham gia đánh bạc, bị cáo Chu Đức Tiến bỏ ra 3.100.000 đồng để đánh bạc, tổng số tiền các bị cáo Quang, Vân, Tiến, Du, Thái dùng để đánh bạc là 10.850.000 đồng.

Ngoài ra, còn có bị cáo Nguyễn Văn Đức tham gia đánh bạc cùng các bị cáo. Trong quá trình đánh bạc, không ai sử dụng số tiền dùng đánh bạc vào việc gì, như vậy số tiền bị cáo Nguyễn Văn Đức bỏ ra dùng để đánh bạc là 5.350.000 đồng. Bị cáo Nguyễn Văn Đức không thừa nhận hành vi tham gia đánh bạc trái phép được thua bằng tiền của mình. Tuy nhiên căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ kết luận vào ngày 15-01-2024, bị cáo Nguyễn Văn Đức có sử dụng số tiền 5.350.000 đồng để tham gia đánh bạc trái phép thắng thua bằng tiền dưới hình thức “Liêng” cùng các bị cáo Quang, Vân, Du, Tiến và Thái tại nhà của bị cáo Nguyễn Thanh Long thuộc Thôn 13, xã Hòa Ninh, huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng.

Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Di Linh đã thu giữ: 02 bộ bài tây 52 lá đang dùng đánh bạc. Hiện đang do Chi cục thi hành án dân sự huyện Di Linh quản lý; số tiền thu giữ trên chiếu bạc 15.400.000 đồng, 800.000 đồng tiền “Xâu” và 2.900.000 đồng tiền thu trong túi của bị cáo Tiến, tổng cộng 19.100.000 đồng, đã nộp vào tài khoản tạm gửi Kho bạc nhà nước theo giấy nộp tiền số 10168241 ngày 05-3-2024 tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam; 01 điện thoại NOKIA 01 điện thoại SAMSUNG của Nguyễn Hồng Vân; 01 điện thoại IPHONE 14 của Chu Đức Tiến; 01 điện thoại Iphone 14 của Nguyễn Thanh Quang; 01 điện thoại OPPO của Trần Văn Thái. (Đã trả lại cho chủ sở hữu) và 04 xe mô tô BKS: 49K1- 220.26; 49M7- 6283; 49G1- 608.39; 49G1- 104.41. (Đã trả lại cho chủ sở hữu)

Bản cáo trạng số 59/CT-VKS ngày 15-7-2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh đã truy tố các bị cáo Nguyễn Văn Đức, Trần Văn Thái, Nguyễn Hồng Vân, Nguyễn Thanh Quang, Tô Đình Du, Chu Đức Tiến và Nguyễn Thanh Long về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự

Tại bản án Hình sự sơ thẩm số 72/2024/HS-ST ngày 11-9-2024 của Tòa án nhân dân huyện Di Linh đã xử;

Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Văn Đức, Nguyễn Hồng Vân, Nguyễn Thanh Quang, Tô Đình Du, Chu Đức Tiến, Trần Văn Thái và Nguyễn Thanh Long phạm tội “ Đánh bạc".

Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 17, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 50, Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đức 08 (Tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt để thi hành án.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 17, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 50, Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Văn Thái 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bặt để thi hành án, được thời gian tạm giữ từ ngày 15-01-2024 đến ngày 18-01-2024 vào thời gian chấp hành án.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 17, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Điều 50, Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Quang, bị cáo Nguyễn Hồng Vân mỗi bị cáo 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt để thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 15-01-2024 đến ngày 18-01-2024 vào thời gian chấp hành án.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 17, Điều 38, điểm i, s khoản 1 Điều 51 Điều 50, Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt Nguyễn Thanh Long 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt để thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 15-01-2024 đến ngày 18-01-2024 vào thời gian chấp hành án.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 17, Điều 35, Điểm i, s khoản 1 Điều 51 Điều 50, Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Tô Đình Du, Chu Đức Tiến mỗi bị cáo số tiền 40.00.000 đồng, không khấu trừ thu nhập cá nhân.

Ngoài ra, bản án còn xử lý vật chứng, tuyên án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 11-9-2024, các bị cáo Nguyễn Văn Đức, Nguyễn Thanh Quang kháng cáo xin hưởng án treo hoặc phạt tiền.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Văn Đức thay đổi kháng cáo đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt vì bị cáo giữ vai trò như các bị cáo khác trong vụ án; bị cáo Nguyễn Thanh Quang giữ nguyên kháng cáo xin hưởng án treo hoặc phạt tiền.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau: đề nghị căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự; không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Cơ quan tiến hành tố tụng tại giai đoạn sơ thẩm đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Đơn kháng cáo của bị cáo đúng về hình thức, nội dung, trong thời hạn kháng cáo nên hợp lệ, đủ cơ sở để xem xét theo trình tự, thủ tục phúc thẩm.

[3] Về tội danh: Tại phiên tòa, 02 bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi như nội dung bản án sơ thẩm đã đề cập. Lời khai nhận của 02 bị cáo thống nhất với nhau, phù hợp với lời khai của 02 bị cáo và các bị cáo khác tại giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử sơ thẩm; biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 12 giờ 00 phút ngày 15-01-2024, tại quán nhậu “Cao Cường” của bị cáo Nguyễn Thanh Long thuộc thôn 13, xã Hòa Ninh, huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng, các bị cáo Nguyễn Văn Đức, Trần Văn Thái, Nguyễn Hồng Vân, Nguyễn Thanh Quang, Tô Đình Du, Chu Đức Tiến đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức đánh bài “Liêng” với tổng số tiền là 19.100.000 đồng. Các bị cáo có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi đánh bạc được thua bằng tiền bị pháp luật cấm nhưng cố ý thực hiện nên cấp sơ thẩm kết án các bị cáo Nguyễn Văn Đức, Trần Văn Thái, Nguyễn Hồng Vân, Nguyễn Thanh Quang, Tô Đình Du, Chu Đức Tiến và Nguyễn Thanh Long phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng tội danh.

[4] Về hình phạt và kháng cáo:

Hành vi của các bị cáo xâm phạm trực tiếp đến khách thể là trật tự công cộng. Khi quyết định hình phạt, cấp sơ thẩm đánh giá bị cáo Nguyễn Văn Đức, Nguyễn Thanh Quang thuộc trường hợp có nhân thân hợp xấu vì từng nhiều lần bị xử lý trách nhiệm hình sự, đã áp dụng tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải cho cho 02 bị cáo là đầy đủ; 02 bị cáo không đủ điều kiện hưởng án treo nên cấp sơ thẩm xử hình phạt tù là nghiêm, đáp ứng được công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm.

Xét thấy, bị cáo Đức tham gia vụ án có vai trò như những bị cáo khác trong vụ án, bên cạnh đó thời điểm bắt quả tang bị cáo đã nghỉ, không tham gia đánh bạc nữa, do đó Tòa án cấp sơ thẩm đánh giá vai trò của bị cáo cao hơn các bị cáo khác trong vụ án có đồng phạm là chưa phù hợp, nên cần chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đức, giảm mức hình phạt xuống ngang bằng với các bị cáo khác nhằm bảo đảm nguyên tắc công bằng, bình đẳng; phân hóa vai trò và cá thể hóa trách nhiệm hình sự trong vụ án có đồng phạm. Đối với bị cáo Quang, như phân tích thì bị cáo không đủ điều kiện hưởng án treo, trong khi cấp sơ thẩm đã xem xét và xử bị cáo mức án ở mức khởi điểm của khung hình phạt, tại giai đoạn phúc thẩm bị cáo không xuất trình thêm tình tiết giảm nhẹ nào mới, do đó không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo của bị cáo, cần giữ nguyên mức hình phạt.

[5] Về án phí: Do kháng cáo được được chấp nhận nên bị cáo Nguyễn Văn Đức không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm; do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo Nguyễn Thanh Quang phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[6] Về các vấn đề khác: Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không xét và có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 355; Điều 356; điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

  1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thanh Quang; chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn Đức, sửa bản án sơ thẩm về phần hình phạt
  2. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn Đức, Nguyễn Thanh Quang phạm tội “Đánh bạc”.

    1.1. Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 17, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 50, Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đức 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt để thi hành án.

    1.2. Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 17, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Điều 50, Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh Quang 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt để thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 15-01-2024 đến ngày 18-01-2024 vào thời gian chấp hành án.

  3. Về án phí: Áp dụng Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Nguyễn Thanh Quang phải chịu 200.000đ án phí hình sự phúc thẩm; bị cáo Nguyễn Văn Đức không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
  4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Lâm Đồng (01);
  • - Vụ GĐKT I - TANDTC (01);
  • - Phòng KTNV&THA (02);
  • - Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng (01);
  • - TAND huyện Di Linh (04);
  • - VKSND huyện Di Linh (01);
  • - Cơ quan CSĐT CA huyện Di Linh (01);
  • - Cơ quan THAHS huyện Di Linh (01);
  • - Phòng PV 06 - Công an tỉnh Lâm Đồng (01);
  • - Bị cáo (02);
  • - Hồ sơ THAHS (01);
  • - Văn phòng TAND tỉnh Lâm Đồng (01);
  • - Lưu hồ sơ; Án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký và đóng dấu)

Nguyễn Công Hoàn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 218/2024/HS-PT ngày 11/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG về hình sự phúc thẩm về tội "đánh bạc"

  • Số bản án: 218/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm về tội "Đánh bạc"
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 11/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận kháng cáo 01 bị cáo
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger