Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẢO LỘC

TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 124/2024/HS-ST

Ngày: 09-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC - TỈNH LÂM ĐỒNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ninh Khắc Phong.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Tuyệt - Là giám đốc công ty TNHH Minh Tuấn.
  2. Bà Nguyễn Thị Kim Huế - Là hiệu trưởng Trường trung học cơ sở Hùng Vương.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bắc - Là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 123/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 131/2024/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Minh T, sinh ngày 22/8/2007, tại Lâm Đồng; HKTT: Thôn Đ, xã L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 08/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Trần Miên K, sinh năm 1969, hiện trú tại thôn Đ, xã L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng và con bà Phạm Thị Thanh H, sinh năm 1975, hiện trú tại huyện P, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu; gia đình có 04 anh em, lớn nhất sinh năm 1994, nhỏ nhất sinh năm 2015, bị cáo là con thứ 3; vợ, con: chưa có; tiền án: Không.

Tiền sự: Ngày 17/10/2023, bị Công an thành phố B xử phạt vi phạm hành chính (cảnh cáo) về hành vi “Gây rối trật tự công cộng”.

Nhân thân: Ngày 24/01/2024, bị Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc xử phạt 03 năm tù về tội “Cướp tài sản” theo Bản án số 11/2024/HS-ST.

Bị cáo hiện đang chấp hành án phạt tù tại Trại giam A2, xã D, huyện D, tỉnh Khánh Hòa nhưng được trích xuất về Nhà tạm giữ Công an thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.

Người đại diện hợp pháp cho bị cáo: Ông Nguyễn Trần Miên K, sinh năm 1969; nơi cư trú: Thôn Đ, xã L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng và bà Phạm Thị Thanh H, sinh năm 1975; nơi cư trú: huyện P, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu. Ông K vắng mặt nhưng có đơn xin vắng mặt, bà H vắng mặt không có lý do.

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Vũ Cát Đ và ông Lê Anh V - Là trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh L. Ông V vắng mặt nhưng có đơn xin vắng mặt, ông Đ có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Cháu Trần Minh M, sinh năm: 2008; nơi cư trú: Số F N, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Người đại diện hợp pháp cho cháu M: Bà Nguyễn Thị Hồng T1, sinh năm: 1986, ông Trần Minh C; nơi cư trú: Số F N, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng.

    Cháu M, bà T1 và ông C đều vắng mặt không có lý do.

  2. Cháu Nguyễn Cao T2, sinh năm: 2008; nơi cư trú: Số A L, xã L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng.

    Người đại diện hợp pháp cho cháu T2: Ông Nguyễn A, sinh năm: 1964, bà Mai Thị Mộng T3, sinh năm 1977; nơi cư trú: Số A L, xã L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng.

    Cháu T2, ông A và bà T3 đều vắng mặt không có lý do.

  3. Cháu Nguyễn Phước S, sinh năm: 2008; nơi cư trú: Số E Q, xã L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng.

    Người đại diện hợp pháp cho cháu S: Ông Nguyễn Quốc L, sinh năm: 1976 bà Vũ Thị Ngọc H1; nơi cư trú: Số E Q, xã L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng.

    Cháu S, bà H1 vắng mặt không có lý do, ông L vắng mặt nhưng có đơn xin vắng mặt.

  4. Cháu Đinh Trần Công L1, sinh ngày: 11/11/2007; nơi cư trú: Số G L, xã L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng.

    Người đại diện hợp pháp cho cháu L1: Ông Đinh Văn Â, sinh năm: 1971 bà Trần Thị V1; nơi cư trú: Số G L, xã L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng.

    Cháu L1, ông  và bà V1 đều vắng mặt nhưng có đơn xin vắng mặt.

  5. Cháu Lê Tuấn K1, sinh năm: 2008; nơi cư trú: Số E C, xã L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng.

    Người đại diện hợp pháp cho cháu K1: Ông Lê Bá S1, bà Trần Thị V1, sinh năm 1975; nơi cư trú: Số E C, xã L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng.

    Cháu K1, ông S1 và bà V1 đều vắng mặt nhưng có đơn xin vắng mặt.

Người làm chứng:

  1. Cháu Nguyễn Vi Chí A1, sinh năm: 2008; nơi cư trú: Số E, khu công nghiệp L, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng.

    Người đại diện hợp pháp cho cháu A1: Ông Nguyễn Văn H2, sinh năm: 1964; bà Vi Thị H3, sinh năm: 1972; nơi cư trú: Số E, khu công nghiệp L, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng.

    Cháu A1, ông H2 và bà H3 đều vắng mặt không có lý do.

  2. Cháu Nguyễn Mai Hoàng Anh K2, sinh năm: 2008; nơi cư trú: Thôn T, xã L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng.

    Người đại diện hợp pháp cho cháu K2: Ông Nguyễn Duy T4, sinh năm: 1980; bà Mai Thị H4, sinh năm: 1985; nơi cư trú: Số E C, xã L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng.

    Cháu K2, ông T4 và bà H4 đều vắng mặt nhưng có đơn xin vắng mặt.

  3. Cháu Nguyễn Hoàng M1, sinh năm: 2008; nơi cư trú: Số G Â, xã L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng.

    Người đại diện hợp pháp cho cháu M1: Bà Trịnh Thị Thanh H5, sinh năm: 1980; ông Nguyễn Đức T5; nơi cư trú: Số G Â, xã L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng.

    Cháu K2, ông T4 và bà H4 đều vắng mặt không có lý do.

  4. Cháu Trần Thanh S2, sinh năm: 2008; nơi cư trú: Số I M, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng.

    Người đại diện hợp pháp cho cháu S2: Bà Hứa Thị Hồng H6, sinh năm: 1991, ông Trần Chí Đ1; nơi cư trú: Số I M, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng.

    Cháu S2, ông Đ1 và bà H6 đều vắng mặt không có lý do.

  5. Cháu Nguyễn Vũ Hoàng L2, sinh năm: 2008; nơi cư trú: Thôn C, xã T, huyện B, tỉnh Lâm Đồng.

    Người đại diện hợp pháp cho cháu L2: Ông Nguyễn Văn C1, sinh năm: 1983, bà Vũ Thị N, sinh năm 1988; nơi cư trú: Thôn C, xã T, huyện B, tỉnh Lâm Đồng.

    Cháu L2 và bà N có mặt, ông C1 vắng mặt không có lý do.

  6. Cháu Nguyễn Tấn P, sinh năm: 2008; nơi cư trú: Số A T, xã L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng.

    Người đại diện hợp pháp cho cháu P: Ông Nguyễn Ngọc P1, bà Nguyễn Thị Thu H7, sinh năm 1988; nơi cư trú: Số A T, xã L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng.

    Cháu P, ông P1 và bà H7 đều vắng mặt không có lý do.

  7. Cháu Đinh Trần Công P2, sinh ngày: 11/11/2007; nơi cư trú: Số G L, xã L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng.

    Người đại diện hợp pháp cho cháu P2: Ông Đinh Văn Â, sinh năm: 1971 bà Trần Thị V1; nơi cư trú: Số G L, xã L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng.

    Cháu P2, ông  và bà V1 đều vắng mặt nhưng có đơn xin vắng mặt.

  8. Cháu Nguyễn Nhật T6, sinh năm: 2008; nơi cư trú: Số A L, xã L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng.

    Người đại diện hợp pháp cho cháu T6: Ông Nguyễn Duy T7, bà Trần Thị Bích N1, sinh năm 1973; nơi cư trú: Số A L, xã L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng.

    Cháu T6, ông T7 và bà N1 đều vắng mặt nhưng có đơn xin vắng mặt.

  9. Ông Hoàng Quốc K3, sinh năm: 1966; nơi cư trú: Số A L, xã L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt không có lý do
  10. Anh Phạm Phương N2, sinh năm: 1997; nơi cư trú: Số A L, xã L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt không có lý do.
  11. Bà Vũ Thị Ngọc D, sinh năm: 1979; nơi cư trú: Số A Đ, xã L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ 50 phút ngày 06/12/2023, Nguyễn Vi Chí A1 (sinh ngày 01/9/2008, cư trú tại số E khu công nghiệp L, phường L, thành phố B) đi vào khu vực nhà vệ sinh của trường Trung học phổ thông (THPT) Lộc Thanh, thành phố B thì gặp Nguyễn Mai Hoàng Anh K2 (sinh ngày 06/12/2008, thường trú thôn T, xã L, thành phố B), Nguyễn Hoàng M1 (sinh ngày 18/02/2008, thường trú tại thôn Đ, xã L, thành phố B), Trần Thanh S2 (sinh ngày 25/5/2008, trú tại số I M, phường L, thành phố B) là học sinh lớp 10 của trường THPT L. Tại đây K2 và Chí A1 xảy ra mâu thuẫn với nhau, K2 cùng S2 và M1 dùng tay chân đánh C, sau đó được các học sinh trong trường can ngăn nên K2, S2 và M1 bỏ đi về lớp học. Chí A1 đi về lớp kể việc bị đánh cho Trần Minh M (sinh ngày 30/01/2008, thường trú tại số F N, phường L, thành phố B), Nguyễn Cao T2 (sinh ngày 17/7/2008, thường trú tại số A L, xã L, thành phố B), Nguyễn Vũ Hoàng L2 (sinh ngày 02/10/2008, thường trú tại thôn C, xã T, huyện B), Nguyễn Tấn P (sinh ngày 11/01/2008, thường trú tại số A T, xã L, thành phố B) đồng thời nhờ M cùng T2 nói chuyện giải quyết mâu thuẫn giúp Chí A1 thì M và T2 đồng ý. Sau đó cả nhóm của Chí A1 đi đến lớp 10A6 gặp K2 và M1, hai bên nói chuyện thách thức nhau.

Khoảng 09 giờ ngày 06/12/2023, Nguyễn Hoàng M1 nhắn tin rủ Nguyễn Phước S (sinh ngày 07/9/2008, trú tại số E Quốc lộ B, thôn K, xã L, thành phố B) đến đánh nhóm M. Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 06/12/2023, Nguyễn Phước S gọi điện rủ Nguyễn Minh T và Đinh Trần Công P2 (sinh ngày 11/11/2007, trú tại số G L, thôn B T, xã L, thành phố B) đi đánh Trần Minh M ở trường THPT L thì T và P2 đồng ý. Khoảng 11 giờ cùng ngày S điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha biển số 49AK-040.30 đến đón T, khi đi T chuẩn bị 01 con dao dài 37,5cm cất trong áo khoác mặc trên người. Trên đường đi S và T gặp Đào Phạm Vĩ V2 (sinh năm 2008, cư trú tại hẻm G L, xã L, thành phố B) chở Đinh Trần Công P2, sau đó cả nhóm đi đến quán nước mía ở đối diện cổng trường THPT L đợi M tan học để đánh nhau. Tại quán còn có Nguyễn Tấn L3 (sinh năm 2007, cư trú tại xã L, thành phố B), Đặng Phi L4 (sinh năm 2007, cư trú tại thôn N, xã L, thành phố B) là bạn của P2, Lê Tuấn K1 (sinh ngày 31/8/2008, thường trú tại số E C, xã L, thành phố B) và Nguyễn Nhật T6 (sinh ngày 08/4/2008, thường trú số 131 L, xã L, thành phố B).

Sau khi tan học thì Chí A1 cùng M và T2, L4, Nguyễn Tấn P (sinh ngày 11/01/2008, thường trú tại số A T, xã L, thành phố B) đến khu vực để xe ở trước nhà số A L, xã L, thành phố B thì gặp nhóm của thanh niên trên. Lúc này Phước S điều khiển xe mô tô chở T đến vị trí của nhóm Chí A1 đang đứng, T xuống xe dùng tay nắm cổ áo của M và nói “thằng nào đòi đánh thằng S” nhưng không ai trả lời sau đó T dùng tay phải đấm vào mặt của M 01 cái thì M lấy 01 chiếc mũ bảo hiểm đang để trên yên xe Cub ngay chỗ M đứng đánh T trúng vào đầu. Thấy M bị đánh thì L4, T2, Chí A1 xông đến dùng tay đánh T. Thấy vậy Phước S xuống xe xông đến đánh nhau với Chí A1 và L4. Còn Lê Tuấn K1 lấy 01 cây gậy ba khúc ở trong cặp ra đập mạnh vào trán của M khiến M bị chảy máu, bị đánh nên M chạy đến ôm lấy người Kiệt khiến K1 làm rơi cây gậy ba khúc xuống đường. Lúc này Đinh Trần Công L1 (sinh ngày 11/11/2007, trú tại số G L, thôn B T, xã L, thành phố B) đi đến mua nước mía thấy có xảy ra đánh nhau nên chạy vào can ngăn K1 và M thì bị M nhặt cây gậy ba khúc khua qua lại trúng vào trán, M bị K1 ôm đẩy về phía tường nhà người dân xung quanh còn L1 dùng mũ bảo hiểm đánh 03 cái vào đầu của M rồi vứt mũ bảo hiểm tại đó. Nguyễn Nhật T6 chạy vào can ngăn K1 và M thì bị 01 người trong nhóm của Chí A1 đánh, còn Đinh Trần Công P2 tiến đến đánh nhau với Nguyễn Tấn P. Lúc này T xông đến thì bị Nguyễn Cao T2 dùng tay kẹp cổ từ phía sau rồi đè đầu T xuống vỉa hè dùng tay trái đấm 02 cái trúng vào đầu của T, sau đó Chí A1 và L4 lao vào đánh T, bị đánh nên T vùng dậy và rút 01 con dao trong người ra mũi dao hướng xuống vỉa hè và nói “chúng mày vào đây”, thấy vậy thì Chí A1 và L4 bỏ chạy. Tiếp đó Phước S dùng tay phải đấm 03 cái vào thái dương của T2, dùng chân phải đạp vào hông của T2 khiến T2 ngã ra đường, rồi P tiếp tục dùng chân phải đá 01 cái vào mặt của T2 khiến T2 bị ngất co giật ở đường. Sau đó, T cùng S, K1, K2 và M1 bỏ đi còn M và T2 được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện I.

Ngày 17/5/2024, UBND xã L, thành phố B ban hành công văn với nội dung kể từ khi xảy ra vụ việc UBND xã L không ghi nhận phản ánh, kiến nghị của thôn trưởng, người dân nào về việc đề nghị xử lý hình sự đối với 02 nhóm học sinh đánh nhau gây thương tích trên; hành vi của 02 nhóm học sinh không gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự an toàn xã hội tại địa phương, các đối tượng tham gia đánh nhau là người chưa thành niên, nhận thức về pháp luật còn hạn chế, chưa biết cách xử lý tình huống khi xảy ra xung đột.

Tại bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 72 ngày 30/01/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh L xác định: Trần Minh M bị sẹo trán đỉnh, tỷ lệ tổn thương cơ thể là 02%, tổn thương do vật tày gây nên.

Tại bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 71 ngày 30/01/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh L xác định: tỷ lệ tổn thương cơ thể của Nguyễn Cao T2 là 0%, tổn thương do vật tày gây nên.

Ngày 26/02/2023, Trần Minh M và người giám hộ của cháu M có đơn không yêu cầu khởi tố vụ án hình sự.

Về vật chứng: Cơ quan điều tra Công an thành phố B đã thu giữ: 01 con dao chất liệu bằng kim loại có chiều dài tổng cả cán dao và lưỡi dao là 37,5cm của Nguyễn Minh T sử dụng khi đánh nhau; 01 cây sắt (ba trắc) dài 63,5cm hình trụ có cán bằng cao su dài 21,5cm của Lê Tuấn K1 sử dụng khi đánh nhau; 01 nón bảo hiểm loại nửa đầu màu trắng, lưỡi nón màu đen, quai nón màu đen, phía sau nón ghi chữ napoly là hung khí Đinh Trần Công L1 sử dụng để đánh nhau; 01 nón bảo hiểm loại nửa đầu màu trắng, lưỡi nón màu đen, quai nón màu đen, phía sau nón ghi chữ nón sơn là hung khí Nguyễn Phước S sử dụng để đánh nhau; 01 nón bảo hiểm loại nửa đầu màu trắng, viền màu đen không có lưỡi, quai nón màu đen là hung khí Trần Minh M sử dụng để đánh nhau; 01 thẻ nhớ nhãn hiệu Micro SDHC màu đen ghi nhận diễn biến vụ việc xảy ra ngày 06/12/2023 tại trước nhà số A L, xã L, thành phố B.

Về trách nhiệm dân sự: Nguyễn Cao T2 và Trần Minh M là hai người bị đánh gây thương tích trong vụ án trên nhưng không có yêu cầu, đề nghị gì về bồi thường dân sự.

Cáo trạng số: 125/CT-VKSBL ngày 14/8/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc truy tố bị cáo Nguyễn Minh T về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại khoản 1 Điều 318 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo đồng ý xét xử vắng mặt người đại diện hợp pháp và người bào chữa (ông Lê Anh V), bị cáo không thắc mắc, khiếu nại bản cáo trạng, khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã nêu, thừa nhận Viện kiểm sát truy tố bị cáo như vậy là không oan. Bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Người bào chữa cho bị cáo trình bày lời bào chữa: Ông thống nhất tội danh, khung hình phạt theo truy tố của Viện kiểm sát. Tuy nhiên, bị cáo phạm tội khi chưa thành niên nên chưa nhận thức đầy đủ về pháp luật, chưa hình dung được hậu quả do hành vi của mình gây ra, bị cáo không phải là người khởi xướng, mục đích phạm tội là giúp bạn bè chứ không có động cơ vụ lợi hay trả thù cá nhân, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, không có tình tiết tăng nặng. Vì vậy, đề nghị xử phạt bị cáo mức khởi theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.

Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên bản cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh T phạm tội: “Gây rối trật tự công cộng”.

Áp dụng khoản 1 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; các Điều 38, 56, 90, 91, 101 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T từ 09 đến 12 tháng tù. Tổng hợp hình phạt 03 năm tù về tội “Cướp tài sản” tại Bản án số 11/2024/HS-ST ngày 24/01/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc; buộc bị cáo phải chấp hành chung là 45 đến 48 tháng tù.

Về vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy: 01 con dao chất liệu bằng kim loại có chiều dài tổng cả cán dao và lưỡi dao là 37,5cm ; 01 cây sắt (ba trắc) dài 63,5cm hình trụ có cán bằng cao su dài 21,5cm; 01 nón bảo hiểm loại nửa đầu màu trắng, lưỡi nón màu đen, quai nón màu đen, phía sau nón ghi chữ napoly; 01 nón bảo hiểm loại nửa đầu màu trắng, lưỡi nón màu đen, quai nón màu đen, phía sau nón ghi chữ nón sơn và 01 nón bảo hiểm loại nửa đầu màu trắng, viền màu đen không có lưỡi, quai nón màu đen là công cụ mà bị cáo và các đối tượng tham gia đánh nhau.

Lưu vào hồ sơ vụ án 01 thẻ nhớ nhãn hiệu Micro SDHC màu đen ghi nhận diễn biến vụ việc.

Về án phí:

Buộc bị cáo phải chịu tiền án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, Hội đồng xét xử nhận thấy các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra; phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng; phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử thấy đã có đủ căn cứ để xác định:

Nguyễn Minh T là người đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi gây mất trật tự công cộng chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính. Ngày 06/12/2023, Nguyễn Minh T được rủ đi đánh nhau để giải quyết mâu thuẫn với hai nhóm học sinh trường THPT L, thành phố B và T đã đồng ý. Tại khu vực phía trước nhà số A L, xã L, thành phố B, Nguyễn Minh T đã thực hiện hành vi cùng các đối tượng khác tụ tập tham gia đánh nhau tại khu vực công cộng đông dân cư, vào thời điểm học sinh trường Trung học phổ thông L tan học nên đã gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội tại địa phương.

Vì vậy, hành vi của Nguyễn Minh T đã phạm vào tội “Gây rối trật tự công cộng”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 318 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

  • Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
  • Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[4] Về hình phạt: Xét tính chất của vụ án là ít nghiêm trọng, tuy nhiên hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thể hiện thái độ coi thường pháp luật. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý đuổi đánh nhau tại đường giao thông, khu vực cổng trường học, lúc tan trường có nhiều học sinh ra về nên đã xâm phạm đến trật tự an toàn công cộng, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương và gây lo lắng đối với các em học sinh. Vì vậy, cần phải có mức án tương xứng với hành vi của bị cáo. Mặt khác, bị cáo đang phải chấp hành hình phạt 03 năm tù giam về tội “Cướp tài sản” nên cần phải xử phạt tù giam, tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để bị cáo có điều kiện tu dưỡng, rèn luyện thành công dân tốt, đồng thời nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Cháu Nguyễn Cao T2 và cháu Trần Minh M là hai người bị đánh gây thương tích trong vụ án trên nhưng các cháu và người đại diện hợp pháp không có yêu cầu, đề nghị gì về bồi thường dân sự nên không xem xét đến.

[6] Về vật chứng:

Đối với 01 con dao chất liệu bằng kim loại có chiều dài tổng cả cán dao và lưỡi dao là 37,5cm thu giữ của Nguyễn Minh T; 01 cây sắt (ba trắc) dài 63,5cm hình trụ có cán bằng cao su dài 21,5cm thu giữ của Lê Tuấn K1; 01 nón bảo hiểm loại nửa đầu màu trắng, lưỡi nón màu đen, quai nón màu đen, phía sau nón ghi chữ napoly thu giữ của Đinh Trần Công L1; 01 nón bảo hiểm loại nửa đầu màu trắng, lưỡi nón màu đen, quai nón màu đen, phía sau nón ghi chữ nón sơn thu giữ của Nguyễn Phước S; 01 nón bảo hiểm loại nửa đầu màu trắng, viền màu đen không có lưỡi, quai nón màu đen thu giữ của Trần Minh M. Xét thấy đây là hung khí mà bị cáo và các đối tượng liên quan dùng để đánh nhau, giá trị sử dụng còn lại không lớn nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 thẻ nhớ nhãn hiệu Micro SDHC màu đen ghi nhận diễn biến vụ việc xảy ra ngày 06/12/2023 tại trước nhà số A L, xã L, thành phố B. Xét thấy đây là chứng cứ của vụ án, Cơ quan điều tra đã lưu vào hồ sơ vụ án nên cần tiếp tục lưu vào hồ sơ của vụ án.

[7] Về các vấn đề khác:

  • Đối với Nguyễn Minh T, Lê Tuấn K1 và Đinh Trần Công L1 có hành vi đánh gây thương tích 02% cho Trần Minh M; Nguyễn Phước S có hành vi đánh gây thương tích cho Nguyễn Cao T2. Tuy nhiên hành vi chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm cố ý gây thương tích quy định tại Điều 134 Bộ luật Hình sự nên việc Cơ quan điều tra xử phạt vi phạm hành chính về hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự là có căn cứ.
  • Đối với Nguyễn Cao T2, Trần Minh M, Nguyễn Vũ Hoàng L2, Nguyễn Tấn P, Nguyễn Vi Chí A1, Nguyễn Phước S, Lê Tuấn K1, Nguyễn Nhật T6 có hành vi tham gia đánh nhau nhưng thời điểm thực hiện hành vi các đối tượng trên chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự về tội gây rối trật tự công cộng quy định tại Điều 318 Bộ luật Hình sự nên việc cơ quan điều tra xử phạt vi phạm hành chính về hành vi gây mất trật tự công cộng ở nơi công cộng khác là có căn cứ.
  • Đối với Đinh Trần Công P2 và Đinh Trần Công L1 là người tham gia đánh nhau nhưng chưa gây hậu quả nghiêm trọng, chưa gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội nên chưa đủ yếu tố cấu thành tội gây trật tự công cộng quy định tại Điều 318 Bộ luật Hình sự nên việc cơ quan điều tra xử phạt vi phạm hành chính về hành vi gây mất trật tự công cộng ở nơi công cộng khác là có căn cứ.
  • Đối với Nguyễn Hoàng M1, Nguyễn Mai Hoàng Anh K2 mặc dù không tham gia đánh nhau nhưng là người rủ các đối tượng khác tham gia đánh nhau nên cơ quan điều tra đã áp dụng biện pháp nhắc nhở về hành vi “tổ chức thuê, xúi giục, lôi kéo, dụ dỗ hoặc kích động người khác gây rối, làm mất trật tự công cộng” là có căn cứ.

[8] Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[9] Về ý kiến của người bào chữa và của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ nên cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Minh T phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.

    - Căn cứ khoản 1 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; các Điều 38, 90, 91, 101 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T 09 (Chín) tháng tù.

    - Căn cứ khoản 1 Điều 56 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt 03 (Ba) năm tù về tội “Cướp tài sản” tại Bản án số 11/2024/HS-ST ngày 24/01/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc; buộc bị cáo phải chấp hành chung là 03 (Ba) năm 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08/3/2024.

  2. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

    Tịch thu tiêu hủy:

    • - 01 cây sắt hình trụ, chiều dài 63,5cm, cán làm bằng cao su dài 21,5 cm.
    • - 01 con dao làm bằng kim loại, chiều dài 37,5 cm.
    • - 01 nón bảo hiểm, loại nửa đầu, màu trắng, lưỡi nón màu đen, quai nón màu đen, phía sau nón ghi chữ: "Napoli".
    • - 01 nón bảo hiểm, loại nửa đầu, màu trắng, lưỡi nón màu đen, quai nón màu đen, phía sau nón ghi chữ: "Nón sơn".
    • - 01 nón bảo hiểm, loại nửa đầu, màu trắng, viền màu đen, không có lưỡi, quai nón màu đen.

    (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 15/8/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bảo Lộc).

  3. Về án phí: Áp dụng các Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.

    Buộc bị cáo Nguyễn Minh T phải nộp 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm.

  4. Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo và người đại diện hợp pháp, người bào chữa có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người đại diện hợp pháp vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án ND tỉnh Lâm Đồng;
  • - VKSND tỉnh Lâm Đồng;
  • - VKSND TP. Bảo Lộc;
  • - Sở tư pháp tỉnh Lâm Đồng;
  • - Công an TP. Bảo Lộc;
  • - Chi cục THA dân sự TP. Bảo Lộc;
  • - Bị cáo; người đại diện hợp pháp;
  • - Người bào chữa;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ninh Khắc Phong

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 124/2024/HS-ST ngày 09/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC - TỈNH LÂM ĐỒNG về hình sự sơ thẩm về tội gây rối trật tự công cộng

  • Số bản án: 124/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Gây rối trật tự công cộng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC - TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Minh T phạm tội Gây rối trật tự công cộng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger