|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 214/2024/HS-ST
Ngày 05-9-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Đào Thị Hồng Phương
Các Hội thẩm nhân dân.
Bà Nguyễn Thị Tư
Ông Vũ Văn Khang
- Thư ký phiên toà: Ông Vũ Trọng Kiên – Thư ký Toà án nhân dân Quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Đoàn Quảng Hưng - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 207/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 535/2024/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Lê Văn H, sinh ngày 28 tháng 11 năm 1977 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn Đ, xã D, huyện T, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn Q và bà Nguyễn Thị T; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; tạm giữ từ ngày 15/5/2024, tạm giam từ ngày 17/5/2024; có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị Hồng T1, Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố H; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 07 giờ 20 phút ngày 15/5/2024, Lê Văn H điều khiển xe mô tô Wave biển kiểm soát 16L1-9250 đến khu vực đường T tìm mua ma túy về sử dụng. Tại đây H gặp và hỏi mua của 01 người đàn ông không quen biết 01 gói ma túy Heroine với giá 100.000 đồng. Người đàn ông đồng ý, điều khiển xe mô tô dẫn H đến khu vực ngõ G đường L, phường L, quận N, Hải Phòng thì dừng xe, đồng thời đưa cho H 01 gói ma túy. Hiệp kiểm tra thấy đúng loại ma túy cần mua nên đưa 300.000 đồng cho người đàn ông và nói mua thêm 200.000 đồng ma túy, người này đồng ý và bảo H đứng chờ. H cầm gói ma túy vừa mua được ở lòng bàn tay đứng chờ ở khu vực ngõ G đường L đến khoảng 08 giờ cùng ngày thì bị Công an quận N phát hiện, bắt quả tang, thu giữ 01 gói nilon kích thước 1,5 x 1,5 cm bên trong chứa chất bột màu trắng dưới đất vị trí H đứng và 01 xe mô tô Wave biển kiểm soát 16L1-9250.
Tại Kết luận giám định số 598/KL-KTHS ngày 17/5/2024 của Phòng K - Công an thành phố H kết luận: Chất bột màu trắng gửi giám định là ma tuý, có khối lượng 0,14 gam, loại: Heroine.
Tại Cáo trạng số 209/CT-VKSNQ ngày 15 tháng 8 năm 2024, Viện Kiểm sát nhân dân Quận Ngô Quyền truy tố bị cáo Lê Văn H về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận Ngô Quyền luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm p, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 12 tháng đến 15 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- - Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong số 598MT/PC09 bên trong chứa 0,06 gam chất bột Heroine cùng vỏ bao gói hoàn lại sau giám định.
- - Về án phí: Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi như nội dung nêu trên và bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Người bào chữa cho bị cáo đồng ý với luận tội của Kiểm sát viên về tội danh, mức hình phạt, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng cho bị cáo; đề nghị Hội đồng xét xử khi quyết định hình phạt thì căn cứ nguyên nhân phạm tội của bị cáo, bị cáo là người bị lệ thuộc vào ma túy, việc tàng trữ ma túy để sử dụng cho bản thân chứ không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển ma túy; trình độ văn hóa của bị cáo 02/12 nên nhận thức pháp luật của bị cáo hạn chế; hơn nữa bị cáo là người khuyết tật nặng, đang được hưởng trợ cấp xã hội của Nhà nước. Ngoài 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ “phạm tội lần đầu” theo khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng mức án thấp nhất theo đề nghị của Kiểm sát viên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận N, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân Quận Ngô Quyền, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về tội danh:
[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa và tại cơ quan điều tra phù hợp với nhau, phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang được lập vào hồi 08 giờ 30 phút ngày 15/5/2024, phù hợp với nội dung kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xét có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 08 giờ ngày 15/5/2024, tại khu vực ngõ G đường L, phường L, quận N, thành phố Hải Phòng, bị cáo Lê Văn H đã có hành vi cất giấu bất hợp pháp 0,14 gam Heroine để sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về ma túy, gây mất trật tự, trị an ở địa phương. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của bị cáo đã có đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
- Về hình phạt:
[3] Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[4] Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình giải quyết vụ án, bị cáo thành khẩn khai báo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo là người khuyết tật nặng nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ “người phạm tội là người khuyết tật nặng” theo quy định tại điểm p khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đối với đề nghị của người bào chữa áp dụng tình tiết “phạm tội lần đầu” theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy: Theo quy định Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự quy định “Khi quyết định hình phạt, Toà án có thể coi đầu thú hoặc tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ, nhưng phải ghi rõ lý do giảm nhẹ trong bản án”. Tuy nhiên, tình tiết “phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do đó tình tiết phạm tội lần đầu không được xác định là tình tiết khác theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Tội phạm ma túy đang có diễn biễn phức tạp và chiều hướng gia tăng. Ma túy đã gây tác hại to lớn đối với con người và cộng đồng, là nguyên nhân làm mất trật tự, an toàn xã hội, là nguồn gốc phát sinh các tệ nạn xã hội, gia tăng các loại tội phạm nên hình phạt đối với tội phạm ma túy cần phải nghiêm khắc mới đáp ứng được yêu cầu đấu tranh, phòng chống loại tội phạm này. Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, xét tội phạm mà bị cáo thực hiện là nghiêm trọng. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.
[6] Theo khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Xét bị cáo nghề nghiệp không ổn định, bị cáo là người khuyết tật nặng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng:
[7] Số ma túy thu giữ của bị cáo sau khi giám định còn lại, liên quan đến tội phạm, thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy theo điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Về án phí:
[8] Bị cáo được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Những vấn đề khác:
[9] Đối với xe mô tô Wave biển kiểm soát 16L1-9250 có số khung, số máy là số nguyên thủy, không bị tẩy xóa hoặc sữa chữa các ký tự. Đăng ký xe mang tên anh Đào Văn T2 (đã chết). Chị Nguyễn Thị H1 (vợ anh T2) cho biết năm 2010 gia đình chị đã bán chiếc xe này cho anh Lê Văn B. Quá trình điều tra, anh B đã giao nộp giấy đăng ký xe mô tô biển kiểm soát 16L1-9250 và trình bày anh mua lại chiếc xe của anh T2 và cho bị cáo H mượn xe để đi lại, không biết H dùng để đi mua ma túy sử dụng nên Cơ quan điều tra đã trả chiếc xe mô tô Wave biển kiểm soát 16L1-9250 cho anh B quản lý. Việc xử lý của Cơ quan cảnh sát Công an quận N là phù hợp với quy định của pháp luật.
[10] Đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo, Cơ quan điều tra chưa xác định được lai lịch, địa chỉ nên chưa có căn cứ xử lý.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm p, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Lê Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Lê Văn H 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15 tháng 5 năm 2024.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự,
Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong số 598MT/PC09 bên trong chứa 0,06 gam chất bột Heroine cùng vỏ bao gói hoàn lại sau giám định.
(Theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 16/8/2024 tại Chi Cục Thi hành án dân sự Quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng).
Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội, bị cáo Lê Văn H được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Căn cứ các điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo Lê Văn H; người bào chữa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đào Thị Hồng Phương |
5
Bản án số 214/2024/HS-ST ngày 05/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về hình sự sơ thẩm (tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 214/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: thụ lý 207
