Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

QUẬN BÌNH THẠNH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 2136/2023/HNGĐ-ST

Ngày 26 tháng 10 năm 2023

V/v: Tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Xuân Thức

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Bùi Thị Hòa Bình

2. Bà Hồ Thị Lang

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Ông Trần Xuân Trường - Cán bộ Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Thùy Linh - Kiểm sát viên

Ngày 26 tháng 10 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 1275/2023/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 7 năm 2023 về tranh chấp Ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 590/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 11/9/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 484/2023/QĐST-HNGĐ ngày 29/9/2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Huỳnh Thanh T, sinh năm 1991

Địa chỉ: F B, Khu phố C, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh

Bị đơn: Ông La Bảo Q, sinh năm 1991

Địa chỉ: A P, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh

(Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa; bị đơn vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, Biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và biên bản về việc không tiến hành hòa giải, nguyên đơn bà Nguyễn Huỳnh Thanh T trình bày:

Nguyễn Huỳnh Thanh T và ông La Bảo Q tự nguyện kết hôn và chung sống năm 2015, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 71/2015, đăng ký ngày 26/9/2015.

Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian ngắn. Tuy nhiên về sau phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân chính do bất đồng quan điểm sống, cách sống, về cách nuôi dạy con cái, bất đồng về tài chính, dẫn đến tính tình không còn hòa hợp, bà đã cố gắng nhẫn nhịn hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không có kết quả. Bà Nguyễn Huỳnh Thanh T và ông La Bảo Q đã ly thân từ năm 2021 cho đến nay. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề sau:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Huỳnh Thanh T yêu cầu được ly hôn với ông La Bảo Q.

Về con chung: Quá trình chung sống có hai con chung tên La Trí H, sinh ngày 12/9/2016 và La Ánh D, sinh ngày 21/11/2019. Sau khi ly hôn bà Nguyễn Huỳnh Thanh T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, giao dục, chăm sóc hai con chung. Về cấp dưỡng cho con: bà Nguyễn Huỳnh Thanh T không yêu cầu ông La Bảo Q cấp dưỡng cho con.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà Nguyễn Huỳnh Thanh T xác định không có và không yêu cầu tòa án giải quyết

Ngoài ra bà có đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải và đơn đề nghị xét xử vắng mặt bà theo quy định của pháp luật.

Sự vắng mặt của bị đơn ông La Bảo Q: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành xác minh nơi cư trú của ông La Bảo Q, đã tống đạt trực tiếp thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập đương sự, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và việc không tiến hành hòa giải được, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa theo đúng quy định của pháp luật cho ông La Bảo Q. Tuy nhiên bị đơn là ông La Bảo Q vắng mặt không có lý do và không có ý kiến phản hồi đến Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh tham gia phiên tòa sơ thẩm nhận xét:

  • Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48, Điều 198, Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án.
  • Việc thụ lý vụ án của Tòa là đúng thẩm quyền. Tòa án ra thông báo thụ lý vụ án; thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; Ban hành Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa cũng như thực hiện các thủ tục tống đạt đúng quy định của pháp luật. Đưa vụ án ra xét xử đúng thời hạn quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
  • Việc tuân thủ pháp luật của Hội đồng xét xử:

    Tại phiên Tòa hôm nay, Hội đồng xét xử đúng thành phần, thực hiện đúng quy định của pháp luật về phiên tòa sơ thẩm.

  • Việc tuân thủ pháp luật của người tham gia tố tụng:

    Đối với nguyên đơn, từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa ngày hôm nay, thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo đúng quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự.

    Đối với bị đơn, từ khi thụ lý đến phiên tòa ngày hôm nay, bị đơn đã không thực hiện đầy đủ các quyền, nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự, mặc dù Tòa án đã triệu tập và niêm yết hợp lệ.

  • Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Huỳnh Thanh T;
  • Về con chung: Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Huỳnh Thanh T, giao hai con chung tên La Trí H, sinh ngày 12/9/2016 và La Ánh D, sinh ngày 21/11/2019 cho bà Nguyễn Huỳnh Thanh T trực tiếp nuôi dưỡng, bà Nguyễn Huỳnh Thanh T không yêu cầu ông La Bảo Q cấp dưỡng cho con.
  • Về tài sản, nợ chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  • Về án phí: Bà Nguyễn Huỳnh Thanh T phải phịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về tố tụng:

    Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

    Nguyễn Huỳnh Tranh T1 yêu cầu ly hôn với ông La Bảo Q là tranh chấp Ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn là ông La Bảo Q đang cư trú tại quận B, nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân quận Bình Thạnh.

    Nguyên đơn bà Nguyễn Huỳnh Thanh T có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên toà, nên việc Toà án xét xử vắng mặt bà là phù hợp với quy định khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luất tố tụng dân sự.

    Bị đơn ông La Bảo Q đã được tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt tại phiên tòa, nên việc Toà án xét xử vắng mặt ông là phù hợp với quy định tại Điều 227 Bộ luất tố tụng dân sự.

  2. Về nội dung:

    Nguyễn Huỳnh Thanh T và ông La Bảo Q tự nguyện kết hôn vào năm 2015, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường A, quận B, theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 71/2015, đăng ký ngày 26/9/2015, nên hôn nhân giữa bà T và ông Q là hợp pháp.

    Xét yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Huỳnh Thanh T với ông La Bảo Q, Hội đồng xét xử nhận thấy:

    Sau khi Tòa án thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành xác minh nơi cư trú của ông La Bảo Q, đã triệu tập hợp lệ ông Q đến Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh lập bản tự khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Tòa án đã tống đạt thông báo kết quả phiên họp, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa cho ông Q nhưng ông Q vẫn vắng mặt, không có ý kiến phản hồi, không cung cấp các tài liệu, chứng cứ chứng minh cho mong muốn tiếp tục duy trì mối quan hệ hôn nhân với bà T. Điều này thể hiện ý thức chấp hành pháp luật không nghiêm, đồng thời ông Q cũng từ bỏ quyền trình bày, bảo vệ những yêu cầu của mình tại Tòa án, thể hiện việc không quan tâm tới cuộc sống hôn nhân với bà T.

    Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành hòa giải đoàn tụ nhưng bị đơn vắng mặt nên không tiến hành hòa giải được. Tòa án đã nhiều lần phân tích, động viên bà T trở về đoàn tụ, cùng nhau xây dựng cuộc sống vợ chồng hành phúc với ông Q. Tuy nhiên, bà T cương quyết giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn với ông Q vì nhận thấy tình cảm vợ chồng đã không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, bà và ông Q đã sống ly thân không còn quan tâm chăm sóc cho nhau, nên không thể hàn gắn.

    Xét thấy, quan hệ hôn nhân hạnh phúc vững bền cần phải được xây dựng trên cơ sở tình cảm tự nguyện, thiện chí của cả hai vợ chồng, cùng nhau xây dựng hạnh phúc gia đình. Tuy nhiên, giữa bà T và ông Q có nhiều mâu thuẫn, bất đồng trong cuộc sống, không có tiếng nói chung dẫn đến cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, cả hai ông bà cũng đã cố gắng hòa giải nhưng không thành, dẫn đến việc ông bà sống ly thân từ năm 2021 cho đến nay, không ai còn quan tâm lo lắng chăm sóc gì cho nhau, điều này thể hiện mâu thuẫn giữa bà T và ông Q là trầm trọng không thể hàn gắn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được.

    Từ những phân tích và chứng cứ nêu trên, căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Huỳnh Thanh T với ông La Bảo Q là có cơ sở để chấp nhận.

    Về con chung: Việc ông La Bảo Q vắng mặt tại Tòa án trong suốt quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa không có lý do, Tòa án không thể ghi nhận ý kiến của ông Q về thực hiện quyền, nghĩa vụ chăm sóc, giáo dục con chung. Nay bà T yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng hai con chung La Trí H, sinh ngày 12/9/2016 và La Ánh D, sinh ngày 21/11/2019. Hiện nay trẻ H và trẻ D đang do bà T trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc, có cuộc sống ổn định và các con có nguyện vọng sống với mẹ. Do đó việc bà Nguyễn Huỳnh Thanh T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung là có cơ sở để chấp nhận, căn cứ theo khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.

    Về cấp dưỡng cho con: Bà Nguyễn Huỳnh Thanh T không yêu cầu ông La Bảo Q cấp dưỡng cho con, do đó Hội đồng xét xử không xét.

    Về tài sản, nợ chung: Bà Nguyễn Huỳnh Thanh T xác định không có tài sản chung và không yêu cầu tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xét.

  3. Về án phí, Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bà Nguyễn Huỳnh Thanh T phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 228, 238, 266, 271, 273, 278, 280, 482 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng các Điều 51, 56, 57, 59, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình;

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Áp dụng Luật Thi hành án dân sự,

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của bà Nguyễn Huỳnh Thanh T;
    • - Về quan hệ hôn nhân:Nguyễn Huỳnh Thanh T được ly hôn với ông La Bảo Q.
    • - Về con chung: Giao cho bà Nguyễn Huỳnh Thanh T được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục hai con chung tên La Trí H, sinh ngày 12/9/2016 và La Ánh D, sinh ngày 21/11/2019.
    • Về cấp dưỡng cho con: Bà Nguyễn Huỳnh Thanh T không yêu cầu ông La Bảo Q cấp dưỡng cho con, nên Hội đồng xét xử không xét.
    • Ông La Bảo Q có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung. Vì lợi ích của con, khi có lý do chính đáng, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con.
    • - Về tài sản, nợ chung:Nguyễn Huỳnh Thanh T xác định không có tài sản chung và yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xét.
  2. Về án phí dân sự sơ thẩm:Nguyễn Huỳnh Thanh T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng, theo biên lai thu số AA/2023/0028099 ngày 03/7/2023 của Chi cục thi hành án dân sự quận Bình Thạnh, bà H1 đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

    Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

  3. Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND quận Bình Thạnh ;
  • - Chi cục THADS quận Bình Thạnh;
  • - UBND Phường 19, quận Bình Thạnh, Tỉnh Quảng Ngãi
  • - Lưu VP, Hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Xuân Thức

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 2136/2023/HNGĐ-ST ngày 26/10/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 2136/2023/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/10/2023
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vụ án ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger