|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 213/2024/HS-ST Ngày: 29 – 8 – 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Phạm Anh Thi.
Các Hội thẩm nhân dân.
Ông Huỳnh Hoàng Thuận.
Ông Nguyễn Thanh Giàu.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Sao Mai, Thư ký Toà án nhân dân thành
phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham
gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Chiến - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 244/2024/TLST- HS ngày 07 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 275/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Lê Trung T, sinh năm 1986 tại tỉnh Bạc Liêu; Nơi thường trú: Ấp B, xã C, huyện V, tỉnh Bạc Liêu; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ văn hóa: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Hoàng K, sinh năm 1957 và bà Lâm Thị V, sinh năm 1957; Tiền sự: Không.
Tiền án:
- - Bản án số 11/2004/HSST ngày 02/3/2004 của Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố) Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu xử phạt 09 tháng tù, cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”.
- - Bản án số 199/2008/HSST ngày 12/8/2008 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 04 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Tổng hợp hình phạt 02 năm tù của Bản án hình sự sơ thẩm số 18/2008/HSST ngày 07/3/2008 của Tòa án thị xã (nay là thành phố) Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, buộc phải chấp hành hình phạt chung của 02 Bản án là 06 năm tù.
Nhân thân:
Ngày 24/01/2005, bị Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại bản án số 01/2005/HSST. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 31/01/2007 (đã xóa án tích).
1
Ngày 16/5/2023, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh ban hành khởi tố vụ án và khởi tố bị can về tội “Trộm cắp tài sản” và “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Ngày 08/4/2024 bị bắt theo quyết định truy nã nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh đã Quyết định phục hồi điều tra vụ án và phục hồi điều tra bị can. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị cáo có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Bị hại: Bà Tô Thị M, sinh năm: 1984; Nơi cư trú: Ấp E, phường T, thành phố C, tỉnh Cà Mau; Tạm trú: 123/2 khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Ông Hoàng Xuân S, sinh năm 1995; Nơi cư trú: Thôn P, xã B, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh; Tạm trú: 446 Bà H, Phường H, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Trung T và bà Tô Thị M có quan hệ tình cảm, sống chung với nhau từ tháng 11/2022 tại phòng trọ của bà M. Đầu tháng 12/2022, T thấy bà M bán hàng online nên T nói bà M hùn tiền mua trả góp 01 xe ô tô bán tải để chở hàng thì bà M đồng ý. Từ ngày 12/12/2022 đến ngày 15/12/2022, bà M đưa cho T tổng cộng 62.000.000 đồng và 02 chiếc nhẫn vàng 18K để mua xe ô tô trả góp, T bán 02 chiếc nhẫn được số tiền 5.000.000 đồng. Sau đó, T lên mạng xã hội tìm người cho vay tiền để mua xe ô tô trả góp, T được người đàn ông tên A (chưa rõ lai lịch quen qua mạng) hướng dẫn T vay tiền qua ứng dụng trực tuyến, do tin tưởng T đã chuyển cho người này 160.000.000 đồng. Tuy nhiên, T không nhận được tiền vay mà bị chiếm đoạt số tiền trên không trả.
Khoảng 07 giờ 00 phút ngày 15/12/2022, T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda SH Mode, màu đỏ, biển số: 69B1-431.85 chở bà M chạy đến Công ty Y địa chỉ đường C, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương để bà M làm việc. Sau khi chở M đến Công ty, T mượn xe mô tô biển số: 69B1-431.85 của bà M đi công chuyện. Do thiếu tiền tiêu xài nên T nảy sinh ý định chiếm đoạt xe mô tô này của bà M. Tiển điều khiển xe đến khu vực khu vực Thành phố Hồ Chí Minh trốn rồi chặn số điện thoại của bà M. Đến khoảng 10 giờ 00 phút ngày 01/01/2023, T điều khiển xe mô tô biển số 69B1-431.85 đến tiệm C, địa chỉ số D đường B, phường H, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh gặp ông Hoàng Xuân S cầm cố được 11.600.000 đồng.
Theo kết luận định giá tài sản ngày 23/02/2023 kết luận 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda SH mode, màu đỏ nâu, biển số: 69B1-431.85 trị giá 40.000.000 đồng.
Bản Cáo trạng số 221/CT-VKS -TA ngày 05/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương đã truy tố bị cáo Lê Trung T về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 175 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:
2
Về trách nhiệm hình sự:
Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 175; Điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự:
Buộc bị cáo có trách nhiệm trả lại cho bà M số tiền 67.000.000 đồng đã góp với bị cáo mua xe ô tô và bồi thường cho ông S số tiền 11.600.000 đồng cầm cố.
Bị cáo có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Nội dung đơn thể hiện bị cáo thống nhất nội dung bản Cáo trạng đã truy tố về tội danh, khung hình phạt, không có ý kiến gì thêm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của những người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Bị cáo có đơn đề nghị xét xử vắng mặt là tự nguyện, không trái pháp luật, việc vắng mặt của bị cáo không gây trở ngại cho việc xét xử nên Hội đồng xét xử chấp nhận theo điểm c, d khoản 2 Điều 290 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
[3] Lời khai nhận của bị cáo trong hồ sơ phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, kết luận định giá, có đủ cơ sở kết luận:
Ngày 15/12/2022, tại số A, khu phố B, phường B, thành phố T, sau khi mượn xe mô tô biển số 69B1-431.85 trị giá 40.000.000 đồng của bà Tô Thị M, bị cáo nảy sinh chiếm đoạt rồi mang đi cầm cố lấy tiền tiêu xài. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 175 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[4] Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An truy đã tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[5] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi, nhận thức được việc làm của mình là vi phạm, nhưng vì thỏa mãn nhu cầu của bản thân, sau khi mượn được tài sản của bị hại, bị cáo nảy sinh ý định chiếm đoạt nên mang đi cầm cố lấy tiền. Hành vi của bị cáo trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương, bản thân bị cáo nhiều lần bị Tòa án xử phạt, không lấy đó làm bài học cho bản thân mà tiếp tục phạm tội, thể hiện bản chất nguy hiểm cho xã hội, do đó cần xử phạt bị cáo mức án tương xứng, cách ly ra khỏi xã hội một thời gian nhằm đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
[7] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[8] Lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát có căn cứ nên chấp nhận.
3
[9] Về xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp và trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, Cơ quan Điều tra thu giữ:
01 xe mô tô biển số 69B1-431.85 của bị hại bà M, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong hồ sơ thể hiện không yêu cầu bồi thường gì về tải sản bị chiếm đoạt này. Tuy nhiên, bị hại yêu cầu bị cáo trả lại số tiền 67.000.000 đồng đã góp với bị cáo để mua xe ô tô, bị cáo đồng ý nên ghi nhận.
Ông Hoàng Xuân S nhận cầm cố xe mô tô biển số 69B1-431.85 của bị cáo, không biết tài sản do phạm tội mà có nên Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố T không xử lý hình sự ông S. Ông S vắng mặt nhưng yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 11.600.000 đồng cầm cố đã đưa bị cáo, bị cáo đồng ý nên chấp nhận.
[10] Đối với đối tượng tên Anh mà bị cáo khai đã chiếm đoạt tiền của bị cáo hiện chưa xác định nhân thân, lai lịch nên tiếp tục xác minh làm rõ, sẽ xử lý sau.
[11] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự và dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Điểm g khoản 2 Điều 175; Điểm s khoản 1 Điều 51; Các Điều 46, 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- - Điều 136; Điểm c khoản 2 Điều 290 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
- - Điều 584, 585, 586 và Điều 589 Bộ luật Dân sự năm 2015.
- - Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Về trách nhiệm hình sự:
Tuyên bố bị cáo Lê Trung T phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”;
Xử phạt bị cáo Lê Trung T 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
2. Về trách nhiệm dân sự:
Buộc bị cáo Lê Trung T có trách nhiệm bồi thường cho bà Tô Thị M số tiền 67.000.000 đồng và bồi thường cho ông Hoàng Xuân S số tiền 11.600.000 đồng
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
3. Về án phí:
Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự và 3.930.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo:
Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm
4
yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Anh Thi |
5
Bản án số 213/2024/HS-ST ngày 29/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 213/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Lê Trung T phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”;
