Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 213/2023/DS-PT

Ngày: 26 - 12 - 2023

V/v: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Văn Tâm

Các Thẩm phán: Ông Cao Minh Vỹ

Ông Trịnh Hoàng Anh

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Lê Thanh Hà – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu: Ông Vũ Duyên Trường - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 26 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 183/2023/TLPT-DS ngày 02 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 51/2023/DS-ST ngày 06 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 201/2023/QĐ-PT ngày 26/10/2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 212/2023/QĐ-PT ngày 13/11/2023, quyết định hoãn phiên tòa số 235/2023/QĐ-PT ngày 27/11/2023, quyết định thay đổi người tiến hành tố tụng, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn:

  1. Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1964; Địa chỉ: Tổ A, khu phố P, thị trấn P, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (Vắng mặt).
  2. Bà Hà Thị H, sinh năm 1970; Địa chỉ: Tổ G, khu phố P, thị trấn P, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (Có mặt).
  3. Bà Phạm Thị T1, sinh năm 1973; Địa chỉ: Số H, đường B, khu phố P, thị trấn P, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (Có mặt).

2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1982; Địa chỉ: Tổ B, ấp E, xã H, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (Vắng mặt).

Người đại diện theo ủy quyền của bà N: Ông Vũ Xuân Đ, sinh năm 1963; Địa chỉ: 2, khu phố C, phường T, quận A, TP Hồ Chí Minh. (Có mặt).

3. Người kháng cáo: Bà Nguyễn Thị N là bị đơn trong vụ án.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1

* Theo đơn khởi kiện và quá trình tố tụng giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị T trình bày: Ngày 29/8/2022 bà T có cho bà Nguyễn Thị N vay 278.333.000 đồng để bà N kinh doanh bất động sản, thời hạn vay 03 tháng, lãi suất thỏa thuận 2%/tháng.

Khi vay bà N có viết giấy tay ghi chung số nợ của 03 người là bà T, bà T1 và bà H với số tiền của ba người là 835.000.000 đồng.

Sau khi vay đến hạn bà N không trả vốn và lãi cho bà T theo thỏa thuận, vì vậy bà T yêu cầu bà N trả cho bà T số tiền gốc là 278.333.000 đồng và lãi suất theo thỏa thuận theo quy định của pháp luật.

Ngày 26/5/2023, bà T có đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện đối với bà Nguyễn Thị N.

* Theo đơn khởi kiện và quá trình tố tụng giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Phạm Thị T1 trình bày: Ngày 29/8/2022 bà T1 có cho bà Nguyễn Thị N vay 278.333.000 đồng để bà N kinh doanh bất động sản, thời hạn vay 03 tháng, lãi suất thỏa thuận 2%/tháng.

Khi vay bà N có viết và ký giấy tay ghi chung số nợ của 03 người là bà T1, bà H và bà T với số tiền của ba người là 835.000.000 đồng.

Sau khi vay đến hạn bà N không trả vốn và lãi cho bà T1 theo thỏa thuận, vì vậy bà T1 yêu cầu bà N trả cho bà T1 số tiền gốc là 278.333.000 đồng và lãi suất theo thỏa thuận từ ngày vay cho đến nay.

* Theo đơn khởi kiện và quá trình tố tụng giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Hà Thị H trình bày: Ngày 29/8/2022 bà H có cho bà Nguyễn Thị N vay 278.333.000 đồng để bà N kinh doanh bất động sản, thời hạn vay 03 tháng, lãi suất thỏa thuận 2%/tháng.

Khi vay bà N có viết và ký giấy tay, trong giấy tay ghi chung số nợ của 03 người là bà H, bà T1 và bà T với số tiền của ba người là 835.000.000 đồng.

Sau khi vay đến hạn bà N không trả vốn và lãi cho bà H theo thỏa thuận, vì vậy bà H khởi yêu cầu bà N trả cho bà Hằng số tiền gốc là 278.333.000 đồng và lãi suất theo thỏa thuận từ ngày vay cho đến nay.

* Quá trình tố tụng giải quyết vụ án, bị đơn, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn trình bày: Vào khoảng đầu năm 2021, bà T, bà H và bà T1 cùng góp vốn buôn bán đất chung với bà N. Sau một thời gian làm ăn chung thì do dịch COVID 19 nên việc chuyển nhượng đất gặp khó khăn, việc làm thủ tục chuyển nhượng không thực hiện được. Vì vậy, bà N có trả tiền cho bà T, bà H và bà T1 được một ít tiền, còn lại 835.000.000 đồng thì chưa trả nên có viết giấy nhận nợ ngày 29/8/2022, nhưng trước đó, ngày 26/7/2022 bà T đại diện cho bà H, bà T1 có ký thỏa thuận với bà N về việc để 610.000.000 đồng góp vốn đặt cọc mua thửa đất số 282 tờ bản đồ số 15. Như vậy, bà N chỉ còn nợ bà T, bà H và bà T1 số tiền 225.000.000 đồng. Do điều kiện khó khăn nên bà N chưa trả được, bà N xin trả dần hàng tháng số tiền 225.000.000 đồng. Còn số tiền 610.000.000 đồng khi nào bán được đất bà N trả.

* Tại bản án dân sự sơ thẩm số 51/2023/DS-ST ngày 06/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã quyết định:

2

- Đình chỉ giải quyết yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T đối với bà Nguyễn Thị N.

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hà Thị H, bà Phạm Thị T1 đối với bà Nguyễn Thị N.

+ Buộc bà Nguyễn Thị N trả cho bà Hà Thị H 278.333.000 đồng tiền gốc và 47.471.239 đồng tiền lãi. Cộng cả vốn và lãi bà N phải trả cho bà H là 325.804.239 đồng.

+ Buộc bà Nguyễn Thị N trả cho bà Phạm Thị T1 278.333.000 đồng tiền gốc và 47.471.239 đồng tiền lãi. Cộng cả vốn và lãi bà N phải trả cho bà T1 là 325.804.239 đồng.

Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về án phí, nghĩa vụ do chậm thi hành án và quyền kháng cáo theo luật định.

* Ngày 12/7/2023 bà N kháng cáo bản án sơ thẩm. Yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết: Hủy bản án sơ thẩm để giải quyết sơ thẩm lại hoặc sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận số tiền 610.000.000 đồng để bà N bán đất sẽ trả 1 lần và xem xét số tiền còn nợ của nhóm bà T, T1, H là 225.000.000 đồng được trả dần hàng tháng là 10.000.000 đồng cho đến hết.

* Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn bà Hà Thị H, bà Phạm Thị T1 và bị đơn bà Nguyễn Thị N (người đại diện hợp pháp là ông Vũ Xuân Đ1) đã thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án như sau:

- Bà Nguyễn Thị N có nghĩa vụ trả cho bà Hà Thị Hằng s tiền 278.333.000 đồng tiền nợ gốc và 30.000.000 đồng tiền lãi. Tổng cộng là 308.333.000 đồng.

- Bà Nguyễn Thị N có nghĩa vụ trả cho bà Phạm Thị T1 số tiền 278.333.000 đồng tiền nợ gốc và 30.000.000 đồng tiền lãi. Tổng cộng là 308.333.000 đồng.

- Bà Nguyễn Thị N phải chịu án phí theo quy định.

* Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Tại Tòa án cấp sơ thẩm, nguyên đơn bà Nguyễn Thị T rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà T đối với bị đơn bà Nguyễn Thị N. Việc rút yêu cầu khởi kiện của bà T là tự nguyện, phù hợp quy định của pháp luật. Án sơ thẩm đình chỉ xét xử yêu cầu khởi kiện của T đối với bà N là đúng quy định. Đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên phần này của bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn bà Hà Thị H, bà Phạm Thị T1 và bị đơn bà Nguyễn Thị N (người đại diện hợp pháp là ông Vũ Xuân Đ1) đã thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, công nhận sự thỏa thuận của đương sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:

[1] Ngày 26/5/2023, bà Nguyễn Thị T có đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà T đối với bà Nguyễn Thị N. Việc rút yêu cầu khởi kiện của bà T là tự nguyện, phù

3

hợp quy định của pháp luật. Án sơ thẩm đình chỉ xét xử yêu cầu khởi kiện của T đối với bà N là đúng quy định. Giữ nguyên phần này của bản án sơ thẩm.

[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn bà Hà Thị H, bà Phạm Thị T1 và bị đơn bà Nguyễn Thị N (người đại diện hợp pháp là ông Vũ Xuân Đ1) đã thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án, cụ thể như sau:

[2.1] Bà Nguyễn Thị N có nghĩa vụ trả cho bà Hà Thị Hằng s tiền 278.333.000 đồng tiền nợ gốc và 30.000.000 đồng tiền lãi. Tổng cộng là 308.333.000 đồng.

[2.2] Bà Nguyễn Thị N có nghĩa vụ trả cho bà Phạm Thị T1 số tiền 278.333.000 đồng tiền nợ gốc và 30.000.000 đồng tiền lãi. Tổng cộng là 308.333.000 đồng.

[2.3] Án phí: Bà Nguyễn Thị N phải chịu theo quy định.

[3] Xét thấy sự thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội nên công nhận.

[4] Từ nhận định trên, sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm số 51/2023/DS-ST ngày 06/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.

[5] Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị N phải chịu.

[6] Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị N phải chịu.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 244, 300 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 51/2023/DS-ST ngày 06/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Đình chỉ xét xử yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T đối với bà Nguyễn Thị N; Công nhận sự thỏa thuận của bà Hà Thị H, bà Phạm Thị T1 và bà Nguyễn Thị N, như sau:

  1. Đình chỉ xét xử yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T đối với bà Nguyễn Thị N.
  2. Công nhận sự thỏa thuận của bà Hà Thị H và bà Phạm Thị T1 đối với bà Nguyễn Thị N, như sau:

    2.1. Bà Nguyễn Thị N có nghĩa vụ trả cho bà Hà Thị Hằng s tiền 278.333.000 đồng tiền nợ gốc và 30.000.000 đồng tiền lãi. Tổng cộng là 308.333.000 (ba trăm lẻ tám triệu, ba trăm ba mươi ba nghìn) đồng.

    2.2. Bà Nguyễn Thị N có nghĩa vụ trả cho bà Phạm Thị T1 số tiền 278.333.000 đồng tiền nợ gốc và 30.000.000 đồng tiền lãi. Tổng cộng là 308.333.000 (ba trăm lẻ tám triệu, ba trăm ba mươi ba nghìn) đồng.

  3. Kể từ ngày bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải trả cho bên được thi hành án khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

4

  1. Án phí dân sự sơ thẩm:

    4.1. Bà Nguyễn Thị N phải chịu 15.416.000 đồng đối với số tiền phải trả cho bà H và 15.416.000 đồng đối với số tiền phải trả cho bà T1. Tổng cộng bà N phải chịu 30.832.000 (ba mươi triệu, tám trăm ba mươi hai nghìn) đồng.

    4.2. Hoàn trả cho bà Nguyễn Thị T, bà Hà Thị H và bà Phạm Thị T1 số tiền 18.525.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0011654 ngày 14/02/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Xuyên Mộc.

  2. Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị N phải chịu 300.000 đồng, trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà N đã nộp 300.000 đồng theo biên lại thu số 0005262 ngày 12/7/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Xuyên Mộc. Đã nộp đủ.
  3. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
  4. Bản án có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKS nhân dân tỉnh BR-VT;
  • - Chi cục THADS H.Xuyên Mộc;
  • - TAND H.Xuyên Mộc;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trương Văn Tâm

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 213/2023/DS-PT ngày 26/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 213/2023/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 26/12/2023
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: + Buộc bà N trả cho bà H 278.333.000 đồng tiền gốc và 47.471.239 đồng tiền lãi. Cộng cả vốn và lãi bà Nhâm phải trả cho bà H là 325.804.239 đồng. + Buộc bà N trả cho bà T 278.333.000 đồng tiền gốc và 47.471.239 đồng tiền lãi.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger