TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 213/2024/DS-ST Ngày 26-7-2024 | V/v tranh chấp hụi, Hợp đồng vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Len
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Việt Thắng
Ông Duyên Văn Hiền
- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Nga Muội – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời: Bà Trần Hồng Cẩm – Kiểm sát viên.
Trong các ngày 24/6/2024 và 26/7/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 1060/2023/TLST-DS ngày 27 tháng 12 năm 2023 về việc “Tranh chấp hụi, Hợp đồng vay tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 170/2024/QĐXXST-DS ngày 10 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Lê Chí D, Sinh năm 1983 (có mặt)
Địa chỉ cư trú: Ấp S, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.
Chỗ ở hiện nay: Ấp Đ, xã K, huyện T, Cà Mau.
- Bị đơn: 1. Ông Vũ Đức L, Sinh năm 1969 (vắng mặt)
2. Bà Trần Thị T, Sinh năm 1967 (vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Ấp T, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, ông D trình bày:
Vợ chồng ông L, bà T vay của ông số tiền 106.500.000 đồng cụ thể các lần:
- Lần 1: Ngày 31/9/2022 vay 50.000.000 đồng, lãi suất 5%/tháng
- Lần 2: Ngày 17/10/2022 vay 10.000.000 đồng lãi 5%/tháng
- Lần 3: Ngày 20/10/2022 vay 40.000.000 đồng lãi 5%/tháng
- Lần 4: Ngày 30/3/2023 vay 6.500.000 đồng lãi 5%/tháng.
Phía ông L, bà T đã trả tiền lãi hàng tháng chưa đầy đủ cho ông đến ngày 21/7/2023 đã đóng lãi được 27.500.000 đồng và sau đó thõa thuận lại lãi suất 3%/tháng và không đóng lãi cho ông đến nay.
Ngoài ra ông L, bà T có tham gia dây hụi mở ngày 02/6/2022, loại hụi 2.000.000 đồng, bà T, ông L tham gia 01 chưng ở vị trí số 14 tên “Trần Thị T”, bà T, ông L đã hốt kỳ đầu bỏ hụi, số tiền hốt hụi 35.000.000 đồng, ông đã giao hụi đầy đủ cho bà T, ông L, còn lại 09 kỳ hụi chết chưa đóng. Như vậy số tiền hụi còn thiếu ông 18.000.000 đồng.
Yêu cầu ông L, bà T trả tổng tiền vay và tiền hụi ông L, bà T còn thiếu tiền 124.500.000 đồng (tiền vay 106.500.000 đồng và tiền hụi 18.000.000 đồng) và tiền lãi trên số tiền vay gốc 106.500.000 đồng bằng số tiền 28.701.000 đồng (lãi 3%/tháng, tính từ ngày 21/7/2023 đến ngày 24/4/2024).
Bà Trần Thị T, ông Vũ Đức L đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng và đã được triệu tập để tham gia phiên tòa sơ thẩm nhưng không có mặt cũng như có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của ông D.
Tranh luận tại phiên tòa:
Ông D trình bày: Yêu cầu Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của ông buộc vợ chồng bà T, ông L trả tiền 124.500.000 đồng (tiền vay 106.500.000 đồng và tiền hụi 18.000.000 đồng) và tiền lãi trên số tiền vay gốc 106.500.000 đồng bằng lãi suất theo quy định và đồng ý đối trừ số tiền lãi bà T, ông L đã đóng cho 27.500.000 đồng.
Ý kiến phát biểu của Viện kiểm sát như sau:
Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm và đảm bảo đúng nguyên tắc xét xử. Đương sự ông L, bà T không đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự không có mặt theo triệu tập của Tòa án.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông D. Buộc bà T, ông L trả cho ông D số tiền hụi thiểu 134.472.000 đồng (vốn gốc vay 106.500.000 đồng, hụi 18.000.000 đồng, lãi 9.972.000 đồng).
Án phí sơ thẩm, chi phí tố tụng các đương sự phải chịu theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, qua kết quả tranh luận công khai tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét toàn diện tài liệu, chứng cứ, phần tranh luận, Hội đồng xét xử thấy rằng:
- Về tố tụng:
[1] Xét về thẩm quyền và quan hệ pháp luật tranh chấp: Ông Lê Chí D khởi kiện yêu cầu bà Trần Thị T, ông Vũ Đức L trả tiền hụi, vay, bị đơn có nơi cư trú tại huyện T, do đó xác định mối quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các đương sự là “Tranh chấp hụi, Hợp đồng vay tài sản” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời theo quy định tại Điều, 463, 471 Bộ luật dân sự; khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Vắng mặt đương sự: Ông Vũ Đức L, bà Trần Thị T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt. Do đó Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đương sự là đúng quy định.
- Về nội dung:
[2] Tại phiên tòa ông D xác định vợ chồng ông L, bà T vay của ông nhiều lần tổng số tiền 106.500.000 đồng cụ thể các lần: Lần 1: Ngày 31/9/2022 vay 50.000.000 đồng; Lần 2: Ngày 17/10/2022 vay 10.000.000 đồng; Lần 3: Ngày 20/10/2022 vay 40.000.000 đồng; Lần 4: Ngày 30/3/2023 vay 6.500.000 đồng tất cả lãi 5%/tháng. Phía ông L, bà T đã trả tiền lãi hàng tháng cho ông chưa đầy đến ngày 21/7/2023 đã trả số tiền 27.500.000 đồng và thỏa thuận lại lãi suất 3%/tháng, sau đó không đóng lãi cho ông đến nay.
Ông L, bà T có tham gia dây hụi mở ngày 02/6/2022, loại hụi 2.000.000 đồng, tham gia 01 chuưng, bà T, ông L đã hốt kỳ đầu bỏ hụi, số tiền hốt hụi 35.000.000 đồng, ông đã giao hụi đầy đủ cho bà T, ông L, còn lại 09 kỳ hụi chết chưa đóng. Như vậy số tiền hụi còn thiếu ông 18.000.000 đồng.
Ông yêu cầu ông L, bà T trả 124.500.000 đồng (tiền vay 106.500.000 đồng và tiền hụi 18.000.000 đồng) và tiền lãi trên số tiền vay gốc 106.500.000 đồng theo lãi xuất quy định và đồng ý đối trừ số tiền lãi vợ chồng ông L bà T đã đóng cho ông 27.500.000 đồng.
Bà Trần Thị T, ông Vũ Đức L đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng và đã được triệu tập để tham gia phiên tòa sơ thẩm nhưng không có mặt cũng như có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của ông D.
[3] Hội đồng xét xử thấy rằng: Tại kết luận giám định số 378/KL-KTHS ngày 09/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh C kết luận “Chữ ký, chữ viết trên 04 biên nhận ngày 31/9/2022; 17/10/2022 (dl); 30/3/2023; 20/10/2022; chữ viết “đã nhận đủ số tiền 35 triệu” và chữ ký phía dưới có họ tên Trần Thị T trên DANH SÁCH HỤI 2.000.000 CHỦ HỤI LÊ CHÍ DŨNG” ngày 12/6/2022 so với chữ viết, chữ ký Trần Thị T là do cùng một người ký ra”. Như vậy việc bà T vay tiền và tham gia hụi của ông D là thực tế có xãy ra.
Việc bà T và ông D thỏa lãi suất 5%/tháng sau đó thỏa thuận lại 3%/tháng lá đúng quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự, do đó cần điều chỉ lại lãi suất theo quy định cụ thể:
- Số tiền vay 50.000.000 đồng, lãi = 18.149.000 đồng (tròn) = 50.000.000 đồng x 1,66%/tháng x 21 tháng 26 ngày.
- Số tiền vay 10.000.000 đồng, lãi = 3.535.000 đồng (tròn) = 10.000.000 đồng x 1,66%/tháng x 21 tháng 9 ngày.
- Số tiền vay 40.000.000 đồng, lãi = 14.076.000 đồng (tròn) = 40.000.000 đồng x 1,66%/tháng x 21 tháng 6 ngày.
- Số tiền vay 6.500.000 đồng, lãi = 1.712.000 đồng (tròn) = 6.500.000 đồng x 1,66%/tháng x 15 tháng 26 ngày.
Tổng số tiền lãi 37.472.000 đồng, đối trừ số tiền lãi vợ chồng ông L, bà T đã trả 27.500.000 đồng còn lại 9.972.000 đồng.
Như vậy số tiền phải trả 134.472.000 đồng (vốn gốc vay 106.500.000 đồng, hụi 18.000.000 đồng, lãi 9.972.000 đồng).
Trách nhiệm trả nợ, mặt dù biên nhận chỉ có bà T ký vay nợ và tham gia hụi tuy nhiên khoảng nợ này trong thời kỳ hôn nhân nên ông L phải có trách nhiệm trả khoảng nợ này.
[5] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông D, buộc bà T, ông L trả cho ông D tiền vay, hụi là 134.472.000 đồng (vốn gốc vay 106.500.000 đồng, hụi 18.000.000 đồng, lãi 9.972.000 đồng) là phù hợp.
Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời phù hợp một phần được chấp nhận.
[7] Chi phí tố tụng và án phí dân sự sơ thẩm:
Chi phí tố tụng (chi phí giám định) do chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn nên bị đơn phải chịu 5.870.000 đồng, do nguyên đơn đã tạm ứng trước, bị đơn phải hoàn lại cho nguyên đơn.
Án phí sơ thẩm nguyên đơn không phải chịu, được nhận lại tiền tạm ứng án phí, lệ phí. Bị đơn phải chịu theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 463, 466, 468 và 471 Bộ luật dân sự; Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ quy định về họ, hụi, biêu, phường và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Chí D đối với bà Trần Thị T, ông Vũ Đức L. Buộc bà Trần Thị T, ông Vũ Đức L trả cho ông Lê Chí D số tiền 134.472.000 đồng (Một trăm ba mươi bốn triệu, bốn trăm bảy mươi hai ngàn đồng).
- Chi phí tố tụng: Buộc ông Vũ Đức L, bà Trần Thị T phải chịu 5.870.000 đồng, ông Lê Chí D đã tạm ứng trước, buộc ông Vũ Đức L, bà Trần Thị T trả lại cho ông Lê Chí D 5.870.000 đồng.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người bị thi hành án không tự nguyện thi hành xong thì phải trả thêm khoản lãi phát sinh theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm trả.
- Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Ông Lê Chí D không phải chịu, ngày 21/12/2023 ông D đã dự nộp tiền tạm ứng án phí lệ phí Tòa án số tiền 3.113.000 đồng biên lai thu số 0004302 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời được nhận lại.
Ông Vũ Đức L, bà Trần Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 6.723.000 đồng (Làm tròn, chưa nộp).
- Án xử sơ thẩm, đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết theo quy định, Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo luật định.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Len |
Bản án số 213/2024/DS-ST ngày 26/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hụi, hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 213/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hụi, Hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Chí D yêu cầu ông Vũ Đức L trả tiền hụi, vay
