TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM THÀNH PHỐ HÀ NỘI ---------- | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ---------- |
Bản án số: 213/2024/HS-ST
Ngày 07 tháng 11 năm 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Văn Thắng
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lê Hổ Bình
- Ông Nguyễn Anh Dũng
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thảo – Thư ký Toà án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm tham gia phiên tòa:
Bà Trương Thuỳ Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 11 năm 2024 tại điểm cầu trụ sở Toà án nhân dân quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội và điểm cầu Trại tạm giam số 1 Hà Nội xét xử trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 227/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 227/2024/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:
Phạm Văn N
- Sinh năm 1991; Nơi ĐKHKTT: Tổ dân phố C, thị trấn Q, huyện G, tỉnh Nam Định; Nơi cư trú: Không nơi ở cố định; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Văn H; Con bà Nguyễn Thị L;
Tiền án: Không;
Tiền sự: Ngày 25/12/2023, bị Công an thị trấn Q, huyện G, tỉnh Nam Định xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy;
Bị cáo bị tạm giữ ngày: 03/7/2024; Tạm giam ngày: 09/7/2024; Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 – Công an Thành phố H; có mặt tại phiên toà;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ 15 phút ngày 02/7/2024, Tổ công tác công an phường C trong khi làm nhiệm vụ trên địa bàn, phát hiện Phạm Văn N đang đứng tại trước cửa số nhà B Ấ, phường H, quận H, Thành phố Hà Nội có biểu hiện nghi vấn nên đã yêu cầu kiểm tra. Quá trình kiểm tra, Phạm Văn N tự nguyện giao nộp từ trong lòng bàn tay trái 01 túi ni lông màu trắng kích thước 5x8 cm bên trong 03 gói giấy bạc chứa chất bột màu trắng, N khai là ma túy Heroine mua về để sử dụng. Tổ công tác đã tạm giữ và niêm phong tang vật, đưa N cùng toàn bộ tang vật về trụ sở Công an phường H để giải quyết. Ngoài ra, còn thu giữ của Phạm Văn N: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus kèm sim số 0988404891 đã qua sử dụng.
Tại Kết luận giám định số 5067/KLGĐ-PC09 ngày 11/7/2024 của Phòng K - Công an Thành phố H kết luận: 01 túi ni lông bên trong có: Chất bột màu trắng bên trong 03 gói giấy (bên ngoài đều được gói bằng giấy bạc) đều là ma túy loại Heroin, tổng khối lượng: 0,223 gam (BL số: 28).
Tại cơ quan điều tra, Phạm Văn N khai nhận: Bản thân N sử dụng ma túy H1 từ năm 2018 và thỉnh thoảng có sử dụng ma túy. Khoảng 13 giờ 00 phút ngày 02/7/2024, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên N đã đi xe ôm đến khu vực cổng Bệnh viện V để tìm mua ma túy. Tại đây, N mua 300.000 đồng ma túy Heroin từ 01 người đàn ông không quen biết (không rõ nhân thân, lai lịch). Sau khi mua được ma túy, N cất giấu trong lòng bàn tay trái và tìm nơi để sử dụng. Khi đến trước cửa số nhà B Ấ thì bị kiểm tra, bắt giữ như đã nêu trên. Chiếc điện thoại di động Iphone 6 Plus kèm sim số 0988404891 là tài sản cá nhân của N, sử dụng để liên lạc với gia đình và bạn bè.
Về đối tượng bán ma túy cho Phạm Văn N, do N khai không biết nhân thân, việc mua bán là trực tiếp, Cơ quan điều tra đã dẫn giải N chỉ địa điểm nhưng không xác định được nên không đủ điều kiện xác minh, làm rõ để xử lý.
Tại Bản cáo trạng số 223/CT-VKS ngày 15/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm truy tố Phạm Văn N về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Phạm Văn N từ 16 đến 20 tháng tù; Không áp dụng hình phạt tiền bổ sung; Đề nghị tịch thu tiêu hủy số ma túy thu giữ của bị cáo + 01 sim điện thoại; Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại Iphone 6 Plus; Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra - Công an quận H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên toà, bị cáo Phạm Văn N đã khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người làm chứng, vật chứng, kết luận giám định cũng như các tài liệu, chứng cứ khác của vụ án, từ đó có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 14 giờ 15 phút ngày 02/7/2024, Phạm Văn N đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,223 gam ma túy loại Herion nhằm mục đích sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang thu giữ cùng tang vật tại trước cửa nhà số B Ấ, phường H, quận H, Thành phố Hà Nội.
Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm truy tố bị cáo về tội danh và điều luật như trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của nhà nước đối với các chất ma tuý, xâm phạm đến trật tự công cộng. Tệ nạn ma tuý đã và đang huỷ hoại sức khoẻ, nhân cách của nhiều người, là hiểm họa, đe dọa đến cuộc sống bình yên của mọi người, mọi nhà và toàn xã hội, là một trong những nguyên nhân gây mất trật tự an toàn xã hội, là nguồn gốc của nhiều loại tội phạm hình sự. Bị cáo nhận thức rõ việc tàng trữ, sử dụng các chất ma túy bị pháp luật nghiêm cấm, nhân thân bị cáo có 01 tiền sự bị xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, do đó cần phải xử phạt bị cáo một hình phạt tù nghiêm, cách ly với xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo đồng thời đáp ứng yêu cầu phòng ngừa tội phạm nói chung.
[3] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo bị truy tố theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, ngoài ra không có tình tiết tăng nặng nào theo khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xét bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên Tòa không áp dụng hình phạt tiền bổ sung.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ: Xét thấy tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo đã có phần khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
[5] Về các biện pháp tư pháp: Xét thấy, đối với số ma túy thu giữ là vật nhà nước cấm lưu hành + 01 sim điện thoại đã cũ cần tịch thu tiêu hủy; Đối với 01 điện thoại Iphone 6 Plus thu giữ của bị cáo, xét không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo.
[6] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định;
Vì các lẽ trên!
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Tuyên bố bị cáo Phạm Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
[2] Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015:
Xử phạt bị cáo Phạm Văn N 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 03/7/2024.
[3] Về biện pháp tư pháp: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015:
* Tịch thu tiêu huỷ:
- 01 phong bì màu trắng được niêm phong còn nguyên vẹn, dán kín các mép. Trên các mép dán có chữ ký của đương sự Phạm Văn N, người chứng kiến, Giám định viên Trần Ngọc C và cán bộ Công an Nguyễn Trung T và hình dấu của Công an phường C. Bên trong có 0,223 gam ma túy loại Heroin (PC09 trích mẫu 0,016 gam, còn lại 0,207 gam ma tuý Hêroin); Theo Kết luận giám định số 5067/KL-KTHS ngày 11/7/2024 của Phòng K - Công an Thành phố H và các biên bản tạm giữ, niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ, Biên bản mở niêm phong và giao nhận đối tượng giám định, Biên bản đóng gói niêm phong và giao nhận lại đối tượng giám định.
- 01 sim điện thoại đã cũ;
* Trả lại cho bị cáo:
01 điện thoại di động nhãn hiệu, kiểu dáng Iphone 6Plus màu vàng đã qua sử dụng; màn hình có nhiều vết nứt vỡ, vỏ trầy xước. Tại thời điểm bàn giao không mở máy được để kiểm tra Imei, chất lượng hiện trạng, nguồn gốc xuất xứ không rõ;
Số vật chứng trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án Dân sự quận Hoàn Kiếm theo biên bản giao nhận tang vật, vật chứng ngày 05/11/2024.
[4] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Buộc bị cáo Phạm Văn N phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[5] Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Cao Văn Thắng |
Bản án số 213/2024/HS-ST ngày 07/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tàng trữ trái phép chất ma tuý (vụ án hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 213/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý (Vụ án hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Văn N-Tàng trữ trái phép chất ma tuý
