|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 213/2024/HS-ST
Ngày 24/10/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Dương Đình Hưng
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Bảng.
- Bà Nguyễn Thị Huệ
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Dung - Thư ký Tòa án thành phố Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Trần Ngọc Nam và ông Lê Đình Duy - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 10 năm 2024, tại điểm cầu Trung tâm Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang và điểm cầu thành phần Trại tạm giam công an tỉnh B. Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang xét xử phiên tòa trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 207/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 10 năm 2024. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 204/2024/HSST ngày 14 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Dương Văn H, sinh năm 1974; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Số nhà G, ngách I, ngõ H, đường L, phường D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 6/12; Bố: Dương Văn Í, (đã chết); Mẹ: Nguyễn Thị C, sinh năm 1941; Gia đình có 6 anh chị em, bị cáo là thứ sáu; Vợ, con: Không có.
Tiền án: Bản án hình sự sơ thẩm số 41 ngày 12/4/2022 của Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; chấp hành xong hình phạt tù ngày 15/9/2022.
Tiền sự: Không.
Nhân thân:
- + Ngày 16/3/2011 bị UBND thành phố B quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 24 tháng;
- + Ngày 03/7/2013 bị Công an phường H, thành phố B xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý;
- + Bản án hình sự sơ thẩm số 04 ngày 15/01/2018 của Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang xử phạt 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”; đã chấp hành xong toàn bộ bản án vào ngày 15/12/2018;
Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/8/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B.
Bị cáo Dương Văn H có mặt tại điểm cầu thành phần là Trại tạm giam Công an tỉnh B.
*Bị hại:
- - Bà Thân Thị C1, sinh năm 1981, (Vắng mặt).
- Địa chỉ: Số nhà A, ngõ H, đường L, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
*Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Ông Ngô Duy C2, sinh năm 1952, (Vắng mặt).
- Bà Vũ Thị B, sinh năm 1954, (Vắng mặt).
Đều địa chỉ: Số nhà A, đường V, phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ ngày 23/7/2024, Dương Văn H, sinh năm 1974, trú tại số nhà G, ngách I, ngõ H, đường L, phường D, thành phố B mặc áo mưa màu xanh, dạng áo mưa chùm đầu đi bộ từ nhà đến khu vực hồ B, phường D, thành phố B mục đích để bắt cá. Khi H đi đến nhà chị Thân Thị C1, sinh năm 1981 ở số nhà A, ngõ H đường L, phường D thì thấy cổng đang mở, bên trong sân có để 01 chiếc xe đạp địa hình nhãn hiệu Galaxy, màu sơn đen dựng phía bên phải từ ngoài vào, đầu xe hướng vào phía bên trong nhà, không có ai trông coi nên nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe trên. Chiếc xe này là của chị C1 để tại đây.
H tiếp tục đi bộ qua nhà chị C1 để quan sát. Khi H đi qua khoảng 5m thì quay lại đi vào phía trong sân nhà. H tiến lại gần vị trí chiếc xe, dùng hai tay dắt xe ra khỏi cổng rồi ngồi lên xe và đạp đi. H đi xe đến cửa hàng sửa chữa xe đạp của vợ chồng ông Ngô Duy C2, sinh năm 1952 và bà Vũ Thị B, sinh năm 1954 ở số nhà A, đường V, phường H, thành phố B. H gặp ông C2, bà B đang ở cửa hàng và đặt vấn đề muốn bán chiếc xe đạp nhưng ông C2 không mua. Lúc này, H bảo ông C2 cho vay 500.000 đồng và để lại chiếc xe đạp, hẹn sau 03 ngày sẽ quay lại lấy xe và trả lại tiền. Ông C2 đồng ý và đưa cho H số tiền 500.000 đồng (gồm 02 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng và 02 tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng), H khai sử dụng chi tiêu cá nhân hết.
Cùng ngày, chị Thân Thị C1 phát hiện bị mất trộm xe đạp nên trình báo. Công an phường D đã chuyển vụ việc đến Cơ quan CSĐT Công an thành phố B giải quyết. Ngày 25/7/2024, Cơ quan điều tra đã xác minh và thu giữ chiếc xe đạp địa hình, nhãn hiệu Galaxy, màu sơn đen tại cửa hàng của ông Ngô Duy C2 (bút lục 95).
Kết luận định giá tài sản số 184/KL-HĐ ngày 04/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận:
01 chiếc xe đạp, dạng xe địa hình, nhãn hiệu Galaxy, màu sơn đen, mua mới tháng 7/2023, đã qua sử dụng, có trị giá tại thời điểm ngày 23/7/2024 là 2.500.000 đồng (bút lục 26).
Ngày 01/8/2024, Cơ quan điều tra triệu tập Dương Văn H đến làm việc thì H xin đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội (bút lục 100-101).
Cơ quan điều tra đã thu giữ, trưng cầu giám định 05 đoạn video được trích xuất từ camera an ninh của các hộ dân khu vực ngõ H, đường L, phường D, thành phố B.
Kết luận giám định số 1810/KL-KTHS ngày 20/8/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:
- “1. Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong 05 (năm) file video được lưu trữ trong đĩa DVD-R gửi giám định
- 2. Trích xuất được 06 (sáu) hình ảnh liên quan đến vụ việc có trong các file video gửi giám định” (bút lục 31).
Cơ quan điều tra cho Dương Văn H quan sát 05 đoạn video trên. Kết quả H xác định có hình ảnh H mặc áo mưa chùm, màu xanh đi bộ chuẩn bị thực hiện hành vi trộm cắp và đạp xe vừa trộm cắp rời khỏi hiện trường (bút lục 104).
Cơ quan điều tra cho Dương Văn H xác định hiện trường và thực nghiệm điều tra. Kết quả H xác định sân nhà số A, ngõ H, đường L, phường D là nơi thực hiện hành vi trộm cắp vào ngày 23/7/2024 và thực hiện thuần thục các động tác tiếp cận vị trí chiếc xe đạp để trong sân, dùng tay dắt xe ra phía ngoài đường rồi ngồi lên yên xe, đạp xe rời đi (bút lục 48, 65-66).
Cơ quan điều tra cho Dương Văn H xác định vị trí tiêu thụ tài sản. Kết quả H xác định là tại cửa hàng S, địa chỉ: Số A, đường V, phường H, thành phố B (bút lục 58).
Cơ quan điều tra cho Dương Văn H, ông Ngô Duy C2, bà Vũ Thị B nhận dạng ảnh. Kết quả ông C2, bà B đều nhận đúng ảnh H và xác định đã đến vay số tiền 500.000 đồng và để lại chiếc xe đạp thể thao vào ngày 23/7/2024; H nhận đúng ảnh ông C2, bà B và xác định ông C2 là người đã nhận chiếc xe đạp và cho H mượn tiền vào ngày 23/7/2024, bà B là người chứng kiến sự việc tại quán S1 (bút lục E, 87, 93).
Đối với ông Ngô Duy C2 nhận chiếc xe đạp và cho H vay tiền nhưng không biết tài sản là do H phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra không xử lý.
Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị Thân Thị C1 chiếc xe đạp địa hình đã thu giữ (bút lục 29). Chị C1 không yêu cầu H bồi thường về dân sự; ông Ngô Duy C2 yêu cầu H bồi thường số tiền 500.000 đồng. Bị can H chưa bồi thường.
Tại Cáo trạng số 209/CT-VKS ngày 09/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang truy tố bị cáo Dương Văn H về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo Dương Văn H khai nhận toàn bộ hành vi của mình như đã nêu như bản cáo trạng. Bị cáo thừa nhận toàn bộ lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra là hoàn toàn tự nguyện, không bị bức cung, ép cung. Bị cáo được xác định hiện trường của các vụ trộm cắp tài sản mà bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo đã được nhận kết luận định giá tài sản bị cáo không có ý kiến gì. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội một mình. Ngoài bị cáo ra không có ai thực hiện cùng.
Hội đồng xét xử công bố lời khai của những người được Tòa án triệu tập nhưng vắng mặt tại phiên tòa, bị cáo nhất trí và không có ý kiến gì.
Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa sau khi phân tích tính chất, hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Dương Văn H từ 09 (Chín) tháng đến 12 (Mười hai) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 01/8/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584; Điều 589 Bộ luật dân sự: Buộc bị cáo Dương Văn H phải bồi thường cho ông Ngô Duy C2 số tiền 500.000 đồng.
- Vật chứng của vụ án: Không.
- Án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo: Không tranh luận.
Lời nói sau cùng: Bị cáo thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, cảm thấy rất hối hận về hành vi của mình, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
[2] Về sự có mặt của đương sự: Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được triệu tập hợp lệ nhưng đều vắng mặt. Tuy nhiên, trong hồ sơ vụ án đã có đầy đủ lời khai của những người này nên căn cứ vào Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự, xét xử vắng mặt họ.
[3] Về hành vi: Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, kết luận định giá tài sản và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 10 giờ ngày 23/7/2024, Dương Văn H trộm cắp 01 chiếc xe đạp địa hình trị giá 2.500.000 đồng của chị Thân Thị C1 ở số nhà A, ngõ H, đường L, phường D, thành phố B sau đó đem đến cửa hàng sửa chữa xe đạp của ông Ngô Duy C2 ở số A, đường V, phường H, thành phố B đặt lại để vay số tiền 500.000 đồng.
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình là sai, nhưng vẫn thực hiện, lỗi của bị cáo là cố ý. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm tới quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Do vậy, Bản cáo trạng số 209/CT-VKS ngày 09/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang truy tố bị cáo Dương Văn H về tội “Trộm cắp tài sản”, quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[4] Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân xấu.
[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Năm 2022, bị cáo bị Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang xét xử về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo chấp hành xong hình phạt ngày 15/9/2022 đến nay chưa được xóa án tích. Do vậy, bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
[6] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại phiên tòa hôm nay, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo đầu thú nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
[7] Về tính chất hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi của bị cáo không những trực tiếp xâm phạm tới quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ mà còn làm ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội tại địa phương, gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây tâm lý hoang mang cho quần chúng nhân dân. Bị cáo đã từng bị pháp luật hình sự xử phạt nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để trở thành công dân tốt có ích cho gia đình và xã hội mà bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý.
Chứng tỏ bị cáo là người coi thường pháp luật. Do vậy cần phải có một mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra và cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để có tác dụng giáo dục riêng, phòng ngừa chung như mức đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang là phù hợp.
[8] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
[9] Về trách nhiệm dân sự:
Ông Ngô Duy C2 yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền 500.000 đồng. Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo đã dùng chiếc xe trộm cắp được để vay số tiền 500.000 đồng của ông C2. Nay, ông C2 yêu cầu bị cáo phải trả lại ông số tiền 500.000 đồng là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.
[9] Về Vật chứng: Không.
[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
Ngoài ra, cần tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án và áp dụng các Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự tuyên quyền kháng cáo.
QUYẾT ĐỊNH:
Vì các lẽ trên,
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự; Điều 136; Điều 292; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
- Xử:
- Xử phạt bị cáo Dương Văn H 10 (M) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 01/8/2024.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
- Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584; Điều 589 Bộ luật dân sự.
- Về vật chứng: Không.
- Về án phí: Bị cáo Dương Văn H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo:
- - Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
- - Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết bản án.
- Về nghĩa vụ chậm thi hành án: Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.
Buộc bị cáo Dương Văn H phải bồi thường cho ông Ngô Duy C2 số tiền 500.000 đồng.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Đình Hưng |
Bản án số 213/2024/HS-ST ngày 24/10/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 213/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Dương Văn H phạm tội trộm cắp tài sản
