Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PLEIKU

TỈNH GIA LAI

Bản án số: 213/2024/HSST

Ngày: 18-10-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU, TỈNH GIA LAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Nhàn.

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Hữu Nghĩa và bà Nguyễn Thị Bắc

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Hải - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Hoài Phương - Kiểm sát viên.

Trong ngày 18 tháng 10 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 194/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 207/2024/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 10 năm 2024, đối với bị cáo:

LƯƠNG VŨ THÀNH (tên gọi khác: Không), sinh ngày 29-9-1984 tại Gia Lai; nơi cư trú: Số B L, phường I, thành phố P, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lương Huỳnh Đ, sinh năm 1953 và bà Đỗ Thị C, sinh năm 1955; bị cáo có vợ là Trần Thị Thu N, sinh năm 1988; bị cáo có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2011, nhỏ nhất sinh năm 2017; Hiện vợ và các con của bị cáo trú tại: Số B L, phường I, thành phố P, tỉnh Gia Lai

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo Lương Vũ T bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 10/6/2024 cho đến nay. Hiện bị cáo đang tại ngoại- Có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Cháu Phạm Bảo T1, sinh ngày 27-12-2021; địa chỉ: Tổ B, phường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Đã chết.

Đại diện hợp pháp của bị hại:

- Ông Phạm Văn T2, sinh năm 1984 và bà Sỹ Thị Ngọc H, sinh năm 1990; địa chỉ: Tổ B, phường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Ông Đặng Đức L, sinh năm 1985; địa chỉ: Tổ B, phường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.

Bà Trần Thị Anh Đ1, sinh năm 1989; địa chỉ: Tổ D, phường P, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.

1

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

1. Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Trên cơ sở kết quả điều tra, xác định được như sau:

Lương Vũ T là người đã được cấp Giấy phép lái xe hạng B2. Khoảng hơn 12 giờ ngày 09/02/2024, T điều khiển xe ô tô bán tải biển số 77C- 233.93 lưu thông trên phần đường phải của đường N theo hướng từ đường L đi đường H, TP ., tỉnh Gia Lai; trên xe ô tô 77C- 233.93 có ông Đặng Đức L (sinh năm 1985, trú Tổ B, phường H, TP .) ngồi ở ghế trước bên phải. Lúc này, trên đường N đoạn trước số nhà B, thuộc Tổ B, phường H, TP . có xảy ra một vụ va chạm giao thông; vụ va chạm xảy ra trên phần đường ngược chiều của xe ô tô 77C-233.93 do T điều khiển. Thấy có nhiều người dân tập trung lại xung quanh vụ va chạm giao thông, nên T giảm tốc độ xe ô tô 77C-233.93 còn khoảng từ 05 km/h đến 10 km/h (theo lời khai của T), quan sát bên trái hướng về vị trí vụ va chạm giao thông đồng thời điều khiển xe đi thẳng, mà không tập trung quan sát chướng ngại vật phía trước. Cùng lúc này, trên lề đường phải của đường N (theo hướng lưu thông của xe ô tô 77C-233.93) có cháu cháu Phạm Bảo T1 (sinh năm 2021, trú Tổ B, phường H, TP .) đang đi bộ một mình từ lề đường xuống lòng đường. Khi cháu T1 đi xuống lòng đường được hơn 02 mét, thì xe ô tô 77C-233.93 do T điều khiển cũng vừa đi đến. Lúc này khoảng 12 giờ 15 phút cùng ngày, do T đang nhìn về phía vụ va chạm giao thông bên trái đường, không tập trung quan sát phía trước, không nhìn thấy cháu T1 đang đi bộ qua đường, nên phía trước bên phải xe ô tô 77C-233.93 va chạm vào người cháu T1, làm cháu T1 ngã xuống mặt đường; tiếp đó lốp trước bên phải xe ô tô 77C-233.93 cán qua người cháu T1. Có nhiều người dân đập cửa xe ô tô gọi T dừng xe lại, đồng thời T nhận thấy lốp xe trước bên phải vừa cán qua chướng ngại vật, nên T dừng và lùi xe lại khoảng 50cm. Cháu T1 được đưa ra khỏi gầm xe ô tô 77C-233.93, nhưng đã tử vong. Ngay sau khi xảy ra vụ tai nạn, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TP.Pleiku đã tổ chức khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi đối với cháu T1 theo quy định và tạm giữ xe ô tô 77C-233.93 để xử lý. Lực lượng Cảnh sát giao thông Công an T3 tiến hành kiểm tra nồng độ cồn đối với T, thì xác định trong khí thở của T không có nồng độ cồn.

Qua giám định, tại Kết luận giám định tử thi số 237/KLGĐTT–KTHS ngày 09/3/2024 của Phòng K, Công an tỉnh G kết luận cháu Phạm Bảo T1 tử vong là do: Chấn thương sọ não.

Qua khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn giao thông, xác định:

Hiện trường chung nơi xảy ra tai nạn tại trước số nhà B đường N, Tổ B, phường H, TP ., tỉnh Gia Lai, là đoạn đường thẳng có mặt đường rộng 10,35m, được thảm bê tông nhựa bằng phẳng. Trên mặt đường có vạch kẻ sơn màu vàng dạng đơn, nét đứt ở giữa phân chia thành hai chiều đi ngược chiều nhau. Tại nơi xảy ra tai nạn không có biển báo hiệu và đèn tín hiệu giao thông.

2

Xác định điểm mốc cố định là trụ điện số 478/E42/116 được dựng ở vỉa hè bên trái đường N từ đường L đi H. Lấy mép đường bên phải theo hướng từ đường L đi H làm mép đường chuẩn.

Vị trí dấu vết, phương tiện được xác định, ghi nhận và mô tả như sau: Vị trí số (04) là xe ô tô 77C-233.93 đỗ trên mặt đường, đầu xe hướng về đường H, đuôi xe hướng về đường L, mép ngoài lốp bánh xe trước bên phải đo vào mép đường chuẩn là 2,40m, mép ngoài lốp bánh xe sau bên phải đo vào mép đường chuẩn là 2,10m; từ tâm trục bánh xe trước bên phải xe ô tô 77C- 233.93 cách 0,40m về hướng đi đường L là vết màu nâu đỏ nghi là máu kích thước (0,28x0,40)m được đánh số thứ tự là (05) để lại trên mặt đường không rõ hình dạng, đo từ tâm vết (05) vào mép đường chuẩn là 2,45m. Đo từ tâm vết (05) cách 1,2m về phía mép đường chuẩn là tâm vết màu nâu đỏ nghĩ là máu, không rõ hình dạng kích thước (0,50x0,35)m được đánh số thứ tự là (06) đo vào mép đường chuẩn là 1,8m. Đo từ tâm vết (06) cách 0,35m về phía bên trái mép đường chuẩn là dép có hai chiếc, kích thước (0,55x0,20)m trên mặt đường được đánh số thứ tự (07), tâm (07) do vào mép đường chuẩn là 2,10m. Đo từ mép lốp bánh xe trước bên trái của xe: (04) vào mốc cố định là 5,30m.

Ngoài ra vị trí các dấu vết, phương tiện được đánh số từ (01) đến (03) và (08) thuộc vụ tai nạn giao thông giữa xe mô tô 81B1-049.63 với xe đạp xảy ra liền trước đó; không liên quan, ảnh hưởng đến vị trí các dấu vết, phương tiện của vụ tai nạn giao thông xảy ra giữa xe ô tô 77C-233.93 và cháu Phạm Bảo T1 nên đã chuyển cho đội Cảnh sát giao thông trật tự tiếp nhận giải quyết theo quy định.

Qua khám nghiệm các dấu vết liên quan đến tai nạn trên xe ô tô 77C-233.93, thì không ghi nhận dấu vết va chạm hoặc dấu vết gì khác để lại trên xe ô tô 77C-233.93.

Qua khám nghiệm kỹ thuật an toàn của xe ô tô 77C-233.93, xác định:

Số khung, số máy, kích thước xe, thùng xe đúng với giấy đăng ký, giấy chứng nhận an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường xe cơ giới đường bộ; xe đảm bảo an toàn kỹ thuật.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại gì về các kết luận nêu trên.

3. Cáo trạng của Viện kiểm sát:

Bản cáo trạng số: 209/CT-VKS ngày 16-9-2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai đã truy tố bị cáo Lương Vũ T về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Lương Vũ T và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về hình sự:

Tuyên bố bị cáo Lương Vũ T phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 Điều 51;

3

khoản 2 Điều 51; Điều 36 và Điều 50 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Lương Vũ T với mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng cải tạo không giam giữ. Thời gian cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an thành phố T3, tỉnh Gia Lai nhận được Quyết định thi hành án hình sự.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng của bị cáo trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án: Bị cáo thấy việc làm của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo rất hối hận vì việc làm của mình, kính mong Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T3, tỉnh Gia Lai; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc có khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi bị truy tố của bị cáo:

Xét thấy lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên toà hôm nay, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ căn cứ để kết luận bị cáo Lương Vũ T phạm tội như sau:

Lương Vũ T là người đã được cấp giấy phép lái xe hạng B2. Khoảng hơn 12 giờ ngày 09/02/2024, T điều khiển xe ô tô bán tải biển số 77C-233.93 chở ông Đặng Đức L (sinh năm 1985, trú Tổ B, phường H, TP ., tỉnh Gia Lai) lưu thông trên phần đường phải của đường N theo hướng từ đường L đi đường H, TP .. Đến khoảng 12 giờ 15 phút cùng ngày, khi đi đến đoạn trước số nhà B đường N, thì phía trước bên phải của xe ô tô 77C-233.93 va chạm vào cháu Phạm Bảo T1 (sinh năm 2021, trú Tổ B, phường H, TP .) đang đi bộ qua đường từ phải sang trái theo hướng lưu thông của T, làm cháu T1 ngã xuống đường và bị lốp trước bên phải của xe ô tô cán qua người. Hậu quả: Cháu T1 tử vong tại chỗ do chấn thương sọ não.

Tại khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

4

a) Làm chết người;

...".

Phương tiện giao thông cơ giới khi tham gia giao thông là nguồn nguy hiểm cao độ. Vì vậy, đòi hỏi mọi công dân khi cho xe lưu thông đều phải tuân thủ đúng các quy định của pháp luật về giao thông đường bộ, nhằm đảm bảo an toàn về tính mạng, sức khỏe cho chủ sỡ hữu cũng như mọi người xung quanh.

Bị cáo Lương Vũ T có giấy phép lái xe hạng B2 theo quy định, khi điều khiển xe ô tô biển số 77C-233.93 tham gia giao thông đường bộ nhưng không đảm bảo nguyên tắc an toàn giao thông, không tập trung, chú ý quan sát chướng ngại vật phía trước, nên không nhìn thấy có người đi bộ qua đường, đã vi phạm vào khoản 23 Điều 8 Luật giao thông đường bộ năm 2008. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo Lương Vũ T gây ra là làm chết 01 người nên đã phạm vào tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku đã truy tố là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Vì vậy, Hội đồng xét xử cần xử phạt bị cáo một mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, nhằm giáo dục bị cáo cải tạo bản thân tiến bộ là cần thiết.

[3] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo và tỏ thái độ ăn năn hối cải; bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại để khắc phục hậu quả cho người đại diện hợp pháp của bị hại; quá trình điều tra người đại diện hợp pháp của người bị hại có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo đã được chính quyền địa phương xác nhận. Bên cạnh đó, bị hại còn nhỏ tuổi nhưng khi đi qua đường không có người lớn dắt. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Vì vậy, Hội đồng xét xử sẽ xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi quyết định hình phạt.

Để quyết định mức hình phạt chính xác, phù hợp, vừa đảm bảo tác dụng cải tạo, răn đe và phòng ngừa chung. Đồng thời nêu cao tính nhân đạo và khoan hồng của pháp luật. Qua xem xét, bị cáo T có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, có các tình tiết giảm nhẹ nêu trên, đối chiếu với các quy định tại Điều 31, 32, 36, 50 của Bộ luật hình sự. Xét nên áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo và giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo thường trú để giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương nơi bị cáo thường trú để giám sát, giáo dục bị cáo.

Về khấu trừ thu nhập đối với bị cáo. Xét bị cáo hiện đang nuôi hai con nhỏ, là lao động tự do, không có việc làm và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử xét miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.

5

[4] Về dân sự: Sau khi xảy ra tai nạn, bị cáo Lương Vũ T cùng đại diện hợp pháp của bị hại đã thỏa thuận bồi thường số tiền 130.000.000 đ (Một trăm ba mươi triệu đồng) cho đại diện gia đình bị hại Phạm Bảo T1. Đồng thời, đại diện hợp pháp của bị hại T1 đã có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Lương Vũ T. Tại phiên tòa hôm nay, đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng đồng xét xử không giải quyết.

[5] Về vật chứng vụ án:

Quá trình điều tra vụ án, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an T3 xác định xe ô tô biển số 77C-233.93 là tài sản của Công ty trách nhiệm hữu hạn B, do bà Trần Thị Anh Đ1 (sinh năm 1989, trú Tổ D, phường P, TP . - làm Giám đốc). Ngày 09/02/2024, Lương Vũ T mượn xe ô tô trên để sử dụng vào mục đích cá nhân, thì xảy ra tai nạn giao thông. Cơ quan điều tra đã xử lý trả lại xe ô tô 77C-233.93 cho bà Đ1 là phù hợp. Sau khi nhận lại xe, bà Đ1 không có yêu cầu, đề nghị gì. Tại phiên tòa hôm nay bà Đ1 vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử không giải quyết.

[6] Về án phí: Bị cáo Lương Vũ T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 36 và Điều 50 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Lương Vũ T;

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lương Vũ T phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lương Vũ T 15 (mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ. Thời điểm chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an thành phố T3 nhận được Quyết định thi hành án.

Giao bị cáo Lương Vũ T cho Ủy ban nhân dân phường I, thành phố P, tỉnh Gia Lai giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường I trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 của Luật Thi hành án hình sự.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

Buộc bị cáo Lương Vũ T phải chịu 200.000đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo:

Căn cứ vào các Điều 331 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền làm đơn kháng cáo yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm. Riêng đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại

6

phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Gia Lai;
  • - VKSND tỉnh Gia Lai;
  • - VKSND thành phố Pleiku;
  • - Công an thành phố Pleiku;
  • - Sở tư pháp tỉnh Gia Lai;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự TP. Pleiku;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Lê Văn Nhàn

7

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 213/2024/HSST ngày 18/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU, TỈNH GIA LAI về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (criminal case)

  • Số bản án: 213/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Criminal Case)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU, TỈNH GIA LAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger