Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

QUẬN LÊ CHÂN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 213/2024/HS-ST

Ngày 24-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đỗ Đức Hoàng

Các Hội thẩm nhân dân.

Bà Phạm Thị Ngọc Anh

Ông Vũ Khắc Tân.

- Thư ký phiên toà: Bà Lưu Hoàng Hải Bình - Thư ký Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nự - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 207/2024/HSST ngày 05 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 802/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:

Lò Văn Ơ, sinh ngày 02 tháng 5 năm 1985 tại Yên Bái. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn P, xã T, huyện V, tỉnh Yên Bái; nơi ở: Không có nơi ở cố định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lò Văn Ư (đã chết) và bà Hà Thị À; có vợ là Triệu Thị D và 01 con; tiền án: 03 tiền án chưa được xóa: Bản án số 30/2008/HSST ngày 24/9/2008 Tòa án nhân dân huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, Bản án số 19/2010/HSST ngày 23/7/2010 Tòa án nhân dân huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái xử phạt 02 năm tù về tội Trộm cắp tài sản, Bản án số 51/2015/HSST ngày 29/6/2015 Tòa án nhân dân huyện Mường La, tỉnh Sơn La xử phạt 30 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 09/9/2008 Công an huyện V, tỉnh Yên Bái ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 13/QĐ-XPHC với hình thức Cảnh cáo về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy, ngày 17/10/2005 Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện V, tỉnh Yên Bái ra Quyết định số 311/QĐ-UB về đưa người nghiện ma túy vào cơ sở chữa bệnh với thời hạn 24 tháng, Bản án số 27/2019/HSST ngày 15/5/2019 Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 30 tháng tù giam về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (đều đã được xóa); bị tạm giữ ngày 03/5/2024; tạm giam ngày 09/5/2024; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10h00' ngày 03/5/2024, Lò Văn Ơ đi bộ vào đường T, quận L, Hải Phòng để tìm mua ma tuý H về sử dụng cho bản thân. Khi đến nơi, Ơ gặp và thỏa thuận mua 200.000 đồng ma túy Heroine của 01 nam giới không rõ nhân thân, lai lịch. Ơ đưa cho người nam giới 200.000 đồng rồi nam giới điều khiển xe mô tô hiệu WAVE màu đỏ (không rõ biển số) chở Ơ đi vào trong ngõ A T, phường T, quận L, thành phố Hải Phòng khoảng 30m thì dừng lại. Nam giới bảo Ơ đứng trông xe còn nam giới đi bộ vào trong ngõ. Khoảng vài phút sau nam giới quay lại và đưa cho Ơ 01 túi nilon màu trắng, có mép viền màu đỏ, bên trong có chất bột dạng cục màu trắng. Ơi biết đây là ma túy nên cất luôn vào túi quần bên phải phía trước đang mặc rồi đi bộ ra đầu ngõ A T thì bị tổ công tác Công phường T làm nhiệm vụ trên tuyến đường T phát hiện Lò Văn Ơ đi bộ từ trong ngõ A T ra đầu ngõ có biểu hiện nghi vấn phạm tội về ma túy. Tổ công tác tiến hành kiểm tra, thu giữ tại túi quần bên phải phía trước Ơi đang mặc 01 túi nilon màu trắng mép viền màu đỏ kích thước khoảng 05 x 06cm, bên trong chứa chất bột màu trắng, dạng cục nghi là ma túy. Sau đó, tổ công tác đưa Lò Văn Ở cùng vật chứng về trụ sở Công an phường T lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Tại Kết luận giám định số 524/KL-KTHS ngày 06/5/2024 của Phòng K Công an thành phố H kết luận: Chất bột màu trắng gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 0,14 gam, loại: Heroine.

Đối với nam giới bán ma túy cho Ơ, quá trình điều tra không xác định được căn cước, lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L có cơ sở để điều tra, xử lý.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng có quan điểm: Qua xem xét đánh giá toàn diện các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ được thẩm tra, cùng lời khai nhận của bị cáo, lời khai của người chứng kiến, giữ nguyên quan điểm truy tố bị can Lò Văn Ơ theo tội danh cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lò Văn Ở phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Về hình phạt đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lò Văn Ơ với mức hình phạt từ 05 năm 06 tháng đến 06 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xét bị cáo có hoàn cảnh kinh tế thuộc hộ nghèo, không có nghề nghiệp và không có tài sản riêng, nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong lượng ma túy và vỏ bao bì còn lại sau giám định.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, bị cáo Lò Văn Ơi L người dân tộc thiểu số, sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn án phí, nên đề nghị miễn án phí cho bị cáo.

Quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo đã được giải thích về quyền được hưởng trợ giúp pháp lý miễn phí, nhưng bị cáo từ chối, không có yêu cầu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận L, thành phố Hải Phòng, Điều tra viên; Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

- Về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”:

[2] Xét lời khai về hành vi phạm tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai người chứng kiến; phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Kết luận giám định số 524/KL-KTHS ngày 06/5/2024 của Phòng K - Công an thành phố H; các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án cùng với vật chứng đã được thu giữ trong vụ án thể hiện: Vào khoảng 10h30' ngày 03/5/2024, tại khu vực đầu ngõ A T, phường T, quận L, thành phố Hải Phòng, Lò Văn Ơ đã có hành vi cất giữ trái phép 0,14 gam ma túy loại Heroine trong 01 túi nilon màu trắng có mép đóng mở viền màu đỏ với mục đích mang về sử dụng cho bản thân thì bị Tổ công tác Công an phường T bắt quả tang.

Từ nhận định trên, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận: Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân đã truy tố để xét xử bị cáo Lò Văn Ở phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” vi phạm Điều 249 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

- Về tình tiết định khung:

[3] Bị cáo có 03 tiền án được đánh giá là tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội do lỗi cố ý. Do đó, lần phạm tội này bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về tình tiết định khung “Tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

[4] Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[5] Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo đối với hành vi phạm tội của mình là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn (Theo Quết định số 861-QĐ/TTg ngày 04/6/2021 của Thủ tướng Chính Phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam), nên cần áp dụng cho bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

- Về hình phạt áp dụng:

[6] Xét tội phạm mà bị cáo thực hiện là rất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm, xâm phạm đến sự độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy với lỗi cố ý. Căn cứ vào các tình tiết tăng năng, giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo có nhiều tiền án chưa được xóa, nên cần thiết phải áp dụng hình phạt tù nghiêm khắc trên mức khởi điểm của khung hình phạt theo mức đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân mới tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm mục đích răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.

[7] Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự, tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” ngoài hình phạt chính, bị cáo còn có thể phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Xét điều kiện, hoàn cảnh gia đình và bản thân bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản riêng nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

- Về xử lý vật chứng:

[7] Đối với 01 phong bì niêm phong số ma túy và vỏ bao bì còn lại sau giám định số 524MT/PC09 là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành, nên tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Về án phí:

[8] Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, bị cáo Lò Văn Ơi L người dân tộc thiểu số, sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn án phí, nên Hội đồng xét xử miễn án phí sơ thẩm dân sự cho bị cáo theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Về quyền kháng cáo:

[9] Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Lò Văn Ơ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Lò Văn Ơ 06 (S) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 03/5/2024.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong ma túy và vỏ bao bì số 524MT/PC09 được hoàn lại sau giám định.

(Theo biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 04 tháng 9 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng).

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lò Văn Ơ.

Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND thành phố Hải Phòng;
  • - VKSND quận Lê Chân;
  • - PV06, PC10-Công an TP. Hải Phòng;
  • - CQCSĐT-Công an quận Lê Chân;
  • - Cơ quan THAHS quận Lê Chân;
  • - Sở Tư pháp TP. Hải Phòng;
  • - Chi cục THADS quận Lê Chân;
  • - Trại tạm giam Công an TP. Hải Phòng;
  • - UBND xã/phường nơi bị cáo cư trú;
  • - Lưu: VP, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Đức Hoàng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 213/2024/HS-ST ngày 24/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tàng trữ trái phép chất ma túy (vụ án hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 213/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Vụ án hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lò Văn Ơi
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger