Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ QUY NHƠN

TỈNH BÌNH ĐỊNH

Bản án số: 213/2024/HS-ST

Ngày : 23-09-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN - TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Định

Các hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Ngọc Đông; Bà Trần Thị Phối

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Lệ - Thư ký Tòa án nhân dân TP. Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Quy Nhơn tham gia phiên tòa:

Ông Phan Tiến Lực - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 204/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 9 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 228/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Phạm La Đại V, giới tính: Nam, sinh ngày 29/01/1998 tại tỉnh Đăk Lăk; Nơi thường trú: Thôn A, xã E, huyện E, tỉnh Đăk Lăk; Nghề nghiệp: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Phạm K, sinh năm 1965 và bà La Thu P, sinh năm 1968; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị truy nã, đầu thú và tạm giam từ ngày 11/6/2024 cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Q; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người làm chứng:

  1. Huỳnh Gia H, sinh ngày 16/12/2006, địa chỉ 58 đường N, Phường L, thành phố Q, tỉnh Bình Định. (Vắng mặt)
  2. Phan Hữu T, sinh ngày 25/12/2007, địa chỉ: 53 đường L, phường N, thành phố Q, tỉnh Bình Định. (Vắng mặt)
  3. Nguyễn Thành Đ, sinh năm 2002, địa chỉ: Căn hộ C chung cư A, phường H, thành phố Q, tỉnh Bình Định. (Vắng mặt)
  4. Cao Văn H1, sinh năm 2005, địa chỉ 31/6 đường N, phường L, thành phố Q, tỉnh Bình Định. (Vắng mặt)
  5. Nguyễn Ngọc T1, sinh ngày 16/9/2005, địa chỉ 27/1 đườnh L, phường L, thành phố Q, tỉnh Bình Định. (Vắng mặt)
  6. Nguyễn Tấn H2, sinh ngày 30/11/2006, địa chỉ Tổ F, khu phố H, phường Q, thành phố Q, tỉnh Bình Định. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ ngày 22/8/2023, Cao Văn H1 (Sinh năm 2005; trú tại số 31/6 đường N, phường L, thành phố Q, tỉnh Bình Định) liên lạc với Huỳnh Gia H (Sinh ngày 16/12/2006: trú tại tổ C, khu V, phường H, thành phố Q, tỉnh Bình Định) nhờ mua 01 gói ma túy khay và 04 bì ma túy nước vui nên H liên lạc với Phạm La Đại V hỏi mua số lượng ma túy trên. V báo giá bán ma túy là 16.200.000 đồng và nói H chuyển tiền đến tài khoản Ngân hàng M1 của Vũ số "0796796***”, đồng thời hẹn giao ma túy tại trước quán B, gần ngã tư T - H, thành phố Q. H nói H1 chuyển 21.000.000 đồng cho Nguyễn Thành Đ (Sinh năm: 2002; trú tại số 27/22 đường H, phường L, thành phố Q, tỉnh Bình Định) để chuyển số tiền này cho Phạm Hữu T2 (Sinh ngày 25/12/2007; trú tại số 53 đường L, phường N, thành phố Q, tỉnh Bình Định), tiếp đó H nói T2 chuyển 15.000.000 đồng đến tài khoản ngân hàng của V. Khoảng 13 giờ cùng ngày, H đi cùng xe taxi với Nguyễn Tấn H2 (Sinh ngày 30/11/2006; trú tại Tổ F, KP. 8, P. Q, thành phố Q, tỉnh Bình Định) và Nguyễn Ngọc T3 (Sinh ngày 16/9/2005; trú tại số 08 đường L, phường L, thành phố Q, tỉnh Bình Định) đi mua đồ ăn rồi đến điểm hẹn. V dẫn H đến địa điểm gần đó rồi nhặt dưới gốc cây 01 hộp giấy có ma túy đưa cho H, H đưa cho V 1.200.000 đồng tiền mặt. Sau đó, H mang số ma túy nói trên về đưa cho H1 rồi cùng H, Đ, T1, Lê Anh H3 (Sinh ngày 20/3/2007; trú tại Tổ F, khu phố G, P. Q, thành phố Q, Bình Định), Diệp Nguyễn Bảo T4 (Sinh ngày: 18/9/2005; trú tại số B L, phường T, thành phố Q, tỉnh Bình Định), Đinh Hoàng V1 (Sinh ngày: 04/9/2005; trú tại số 31/4 đường N, Phường L, thành phố Q, tỉnh Bình Định), Nguyễn Nam H4 (Sinh năm 2003; trú: 11B/1 đường V, Phường N, thành phố Q, tỉnh Bình Định) tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại quán K1, phường L, thành phố Q, tỉnh Bình Định và căn hộ S chung cư A, thuộc phường H, TP. Q thì bị phát hiện bắt quả tang ngày 23/8/2023.Về nguồn gốc số ma tuý, V khai nhận: Khoảng cuối tháng 6/2023, V liên lạc một người nam tên N (không rõ lai lịch) hỏi mua 05 bì ma túy nước vui, ma túy khay và 20 viên ma túy kẹo, tổng tiền 21.000.000 đồng, hẹn giao trên Quốc lộ A, đoạn gần B, thị xã S, tỉnh Phú Yên. Khoảng 01 tuần sau, N liên lạc nói V đến điểm hẹn rồi chỉ dẫn V nhặt ma túy trong 01 bì đen đặt trong hốc đá bên lề đường rồi đặt 21.000.000 đồng tại đó. N mang ma túy về cất giấu và đã bán cho H 04 bì ma túy nước vui, 01 gói ma tuý khay. Số ma tuý còn lại V đã vứt bỏ sau khi nghe tin H bị Cơ quan Công an bắt giữ.Ngày 28/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Q ra Quyết định khởi tố bị can đối với Phạm La Đại V về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự.Ngày 04/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Q ra Quyêt định truy nã đối với bị can Phạm La Đại Vũ. Ngày 11/6/2024, Phạm La Đại V đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Q đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Tại Cáo trạng số 209/CT-VKSQN ngày 30 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn truy tố bị cáo Phạm La Đại V về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Bị cáo Phạm La Đại V khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã truy tố. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Phạm La Đại V về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Cáo trạng. Về trách nhiệm hình sự: Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Phạm La Đại V từ 2 năm đến 2 năm 06 tháng tù.

- Bị cáo tự bào chữa: Bị cáo Phạm La Đại V thừa nhận hành vi phạm tội, không bào chữa.

- Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo Phạm La Đại V xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Để có tiền tiêu xài cá nhân, vào ngày 22/8/2023, bị cáo Phạm La Đại V đã thực hiện hành vi bán trái phép chất ma tuý gồm 01 gói ma tuý khay và 04 bì ma tuý nước vui cho Huỳnh Gia H với tổng số tiền là 16.200.000 đồng tại phường Q, thành phố Q, tỉnh Bình Định. Do đó, viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn truy tố bị cáo Phạm La Đại V về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng tội.

[3] Hành vi mua bán trái phép chất ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội nên cần phải xử lý nghiêm, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa tội phạm.

[4] Xét về nhân thân; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy:

[4.1] Về nhân thân: Bị cáo Phạm La Đại V có nhân thân tốt.

[4.2] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

[4.3] Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Ngoài ra, bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ đầu thú, bị cáo đã từng có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự được quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự nên trong lượng hình cân nhắc xem xét giảm một phần hình phạt cũng đủ để bị cáo an tâm cải tạo tốt.

[5] Về án phí: Bị cáo bị kết án về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[6] Về vấn đề khác:

- Đối với người tên N (không rõ lai lịch) bán ma túy, Phạm La Đại V khai nhận liên lạc mua ma túy bằng số điện thoại 0796.796.*** của V và không nhớ số điện thoại của N. Cơ quan CSĐT Công an T đã yêu cầu nhà mạng Mobiphone cung cấp dữ liệu liên lạc của số điện thoại 0796.796.*** nhưng chưa có kết quả. Do đó, Cơ quan CSĐT Công an T tiếp tục xác minh, làm rõ hành vi của đối tượng tên N đề xử lý theo quy định pháp luật.

- Đối với số ma túy mua từ bị cáo Phạm La Đại V, Huỳnh Gia H đã tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại quán K1, P. L, TP . và căn hộ S chung cư A, thuộc phường H, TP . thì bị phát hiện bắt quả tang ngay 23/8/2023. Cơ quan CSĐT Công an T đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Cao Văn H1, Nguyễn Thành Đ, Huỳnh Gia H, Nguyễn Nam H4, Đinh Hoàng V1, Diệp Nguyễn Bảo T4, Lê Anh H3, Nguyễn Ngọc T1 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” và đã bị Toà án nhân dân TP. Quy Nhơn xét xử sơ thẩm theo Bản án số 94/2024/HS-ST ngày 13/5/2024.

- Trong vụ án này, Nguyễn Tấn H2, Nguyễn Ngọc T1 đi cùng Huỳnh Gia H đến đường H, TP Q vào ngày 22/8/2023 nhưng H2, T1 không biết mục đích H rủ đi để mua ma tuý.

- Đối với Phan Hữu T có hành vi chuyển tiền giúp cho Huỳnh Gia H nhưng không biết mục đích chuyển tiền là để H mua ma tuý nên không phạm tội.

[7] Lời luận tội và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà là phù hợp với nhận định của HĐXX.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1, 2 khoản Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm La Đại V phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phạm La Đại V 02 (Hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11/6/2024.
  3. Về án phí HSST: Bị cáo Phạm La Đại V phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
  4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Định;
  • - VKSND Tp. Quy Nhơn;
  • - Chi cục THADS Tp. Quy Nhơn;
  • - CQ CSĐT CA Tp. Quy Nhơn;
  • - Đội ĐTTH CA Tp. Quy Nhơn;
  • - Đương sự;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà

Trần Thị Định

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 213/2024/HS-ST ngày 23/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN - TỈNH BÌNH ĐỊNH về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 213/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN - TỈNH BÌNH ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Mua bán trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger