Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH

TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 213/2024/HS-ST

Ngày: 23-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Mai Thị Thu Hiền.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lê Quang Bảo;

Bà Trần Thị Thanh Tâm.

- Thư ký phiên toà:

Bà Nguyễn Thu Thủy - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định tham gia phiên toà:

Ông Trần Anh Đức - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 209/2024/TLST-HS ngày 06-9-2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 209/2024/QĐXXST-HS ngày 09-9-2024, đối với bị cáo:

Họ tên: Trần Quốc T, sinh ngày 15-8-1980 tại: Tỉnh Nam Định; địa chỉ đăng ký thường trú: C1F5 tập thể C, phường T, thành phố Đ, tỉnh Nam Định; địa chỉ cư trú: Số 76 đường H, phường B, thành phố Đ, tỉnh Nam Định; số căn cước công dân: 03608000xxxx; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Ngọc Đ (đã chết) và bà Đinh Thị B; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 01-12-2003 bị Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xử phạt 12 tháng tù giam về tội "Trộm cắp tài sản". Ngày 20-6-2006 bị Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xử phạt 18 tháng tù giam về tội "Cường đoạt tài sản". Ngày 27-12-2015 bị Công an phường Phan Đình Phùng, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xử phạt vi phạm hành chính hình thức cảnh cáo về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 12-6-2024, sau đó chuyển tạm giam từ ngày 21-6-2024 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Nam Định; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người làm chứng: Ông Trần Tất T1, ông Dương Xuân G (không triệu tập tới phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ 15 phút ngày 12-6-2024, tổ công tác Công an phường Cửa Bắc, thành phố Nam Định làm nhiệm vụ tại khu vực trước cửa số nhà 72/166 đường B, phường B, thành phố Đ, tỉnh Nam Định phát hiện Trần Quốc T đang điều khiển xe máy biển kiểm soát 18B2-977.xx một mình có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra. Quá trình kiểm tra, T đã thả từ tay trái xuống đất 01 gói giấy màu vàng. Tổ công tác đã phát hiện, thu giữ và mở kiểm tra thấy bên trong gói giấy màu vàng có chứa chất bột dạng cục màu trắng (T khai đó là gói Heroine vừa mua để sử dụng). Tổ công tác đã thu giữ, niêm phong vật chứng, đưa T và mời người làm chứng về trụ sở Công an phường Cửa Bắc, thành phố Nam Định để lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang theo quy định của pháp luật. Ngoài ra, tổ công tác còn thu giữ của T 01 xe máy biển kiểm soát 18B2-977.xx và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu xanh ( đều đã cũ).

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Nam Định đã trưng cầu giám định vật chứng thu giữ. Tại bản kết luận giám định số 1117/KL-KTHS ngày 18-6-2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định kết luận: Mẫu bột dạng cục màu trắng trong 01 gói giấy màu vàng thu giữ của Trần Quốc T được niêm phong gửi giám định là chất ma túy, loại chất ma túy là Heroine, có khối lượng 0,135 gam (không phẩy một ba năm gam).

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, Trần Quốc T khai nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng, đồng thời khai nhận về nguồn gốc gói ma túy như sau: Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 12-6-2024, T điều khiển xe máy biển kiểm soát 18B2-977.xx từ nhà đến khu vực đầu ngõ 166 đường B, thành phố Đ gặp và mua của một người đàn ông (không rõ lai lịch, địa chỉ) đang đứng ở trong ngõ 01 gói Heroine với giá 100.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, T cầm gói ma túy trong tay trái rồi điều khiển xe đi tìm chỗ sử dụng. Khi T đi đến khu vực trước cửa số nhà 72/166 đường B, phường B, thành phố Đ, tỉnh Nam Định thì bị phát hiện, bắt giữ như đã nêu trên.

Bản cáo trạng số 213/CT-VKS-TPNĐ ngày 06-9-2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định truy tố bị cáo Trần Quốc T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo Trần Quốc T tại phiên tòa thể hiện hành vi của bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Quốc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Quốc T từ 24 (Hai mươi tư) tháng tù đến 27 (Hai mươi bảy) tháng tù, không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo; Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Xử lý vật chứng đã thu giữ theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Trần Quốc T nói lời sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Nam Định, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trần Quốc T không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

[2] Về tội danh:

Lời khai nhận tội của bị cáo Trần Quốc T phù hợp với các tài liệu, chứng cứ của vụ án nên có đủ cơ sở xác định: Khoảng 10 giờ 15 phút ngày 12-6-2024, Trần Quốc T đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,135 gam Heroine mục đích để sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang tại khu vực trước cửa số nhà 72/166 đường B, phường B, thành phố Đ, tỉnh Nam Định. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự an toàn xã hội. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi tàng trữ ma túy của mình bị pháp luật nghiêm cấm nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện, khối lượng Heroine bị cáo tàng trữ là 0,135 gam nên bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

[3] Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo Trần Quốc T đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Trần Quốc T không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4] Về hình phạt:

Xét bị cáo Trần Quốc T là đối tượng có nhân thân xấu, bị cáo đã nhiều lần được giáo dục nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để ăn năn hối cải mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội thể hiện ý thức coi thường pháp luật. Vì vậy, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn với mức hình phạt nghiêm khắc để xử phạt bị cáo nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.

[5] Về hình phạt bổ sung:

Xét thấy bị cáo Trần Quốc T tàng trữ ma túy mục đích để sử dụng nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng:

Căn cứ quy định tại Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để xử lý vật chứng thu giữ trong vụ án như sau:

  • Số ma túy trong phong bì niêm phong số 1117/KL-KTHS đã thu giữ của bị cáo Trần Quốc T là vật Nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.
  • 01 điện thoại di động màu xanh đã cũ, mặt trước và mặt sau có chữ Nokia được niêm phong trong 01 túi niêm phong có số NS41913258 là tài sản của bị cáo Trần Quốc T, xét không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên trả lại cho bị cáo, song tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

[7] Một số vấn đề khác:

Đối với đối tượng đã bán ma túy cho bị cáo Trần Quốc T tài liệu điều tra chưa đủ căn cứ xác định nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Nam Định tách ra tiếp tục điều tra, xử lý sau là đúng quy định của pháp luật.

Đối với chiếc xe máy biển kiểm soát 18B2-977.xx (đã cũ) là tài sản của anh Trần Quốc A, sinh năm 2001; địa chỉ cư trú: C1F5 tập thể C, phường T, thành phố Đ, tỉnh Nam Định – cháu của bị cáo Trần Quốc T. Do anh Trần Quốc A không biết việc bị cáo Trần Quốc T mượn xe đi mua ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Nam Định đã trả lại chiếc xe máy trên cho anh Trần Quốc A là đúng quy định của pháp luật.

[8] Về án phí: Bị cáo Trần Quốc T bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Tuyên bố bị cáo Trần Quốc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

    Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt bị cáo Trần Quốc T 02 (Hai) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 12-6-2024.

  2. Xử lý vật chứng:

    Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự

    Tịch thu tiêu hủy: số ma túy trong phong bì niêm phong số 1117/KL-KTHS.

    Trả lại cho bị cáo Trần Quốc T 01 điện thoại di động màu xanh đã cũ, mặt trước và mặt sau có chữ Nokia được niêm phong trong 01 túi niêm phong có số NS41913258, song tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

    (Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhân vật chứng ngày 20-9-2024).

  3. Án phí:

    Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016.

    Bị cáo Trần Quốc T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  4. Quyền kháng cáo:

    Bị cáo Trần Quốc T được quyền làm đơn kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Nam Định;
  • - VKSND TP. Nam Định (02 bản);
  • - Công an TP. Nam Định;
  • - Chi cục THADS TP. Nam Định;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án; VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Mai Thị Thu Hiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 213/2024/HS-ST ngày 23/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH về tàng trữ trái phép chất ma túy (criminal case)

  • Số bản án: 213/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Criminal Case)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Quốc T có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger