Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN HÀ ĐÔNG

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

 

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

Bản án số: 213/2024/HSST

Ngày: 15/8/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

 

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trương Công Tráng

Ông Nguyễn Đình Hiền

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệu Linh - Thư ký Toà án nhân dân quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu Giang - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hà Nội; Tòa án nhân dân quận Hà Đông xét xử trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 200/TLST-HS, ngày 31 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 206/QĐXXST- HS ngày 01 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

-Vũ Mạnh L sinh năm 1978 tại Hà Nội; Nơi thường trú: P nhà D ngõ Q, phường H, quận Đ, TP Hà Nội; nơi ở hiện tại: P nhà D ngõ Q, phường H, quận Đ, TP Hà Nội; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Vũ Ngọc T, sinh năm 1950; Con bà: Lê Thị B, sinh năm 1950.

Tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân:

  1. Ngày 31/3/1999, Công an quận Đ, TP Hà Nội xử phạt hành chính bằng hình thức cảnh cáo về hành vi Trộm cắp tài sản;
  2. Bản án hình sự sơ thẩm số 45/2005/HSST ngày 04/02/2005 của Tòa án nhân dân quận Đống Đa xử phạt 10 tháng tù về Tội trộm cắp tài sản và 26 tháng tù về Tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Tổng hợp hình phạt là 36 tháng tù.
  3. Bản án hình sự sơ thẩm số 28/2005/HSST ngày 15/3/2005 của Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân xử phạt 08 tháng tù về Tội trộm cắp tài sản. Tổng hợp với Bản án số 45/2005/HSST ngày 04/02/2005 của Tòa án nhân dân quận Đống Đa chấp hành chung cho cả 02 bản án là 44 tháng tù. Chấp hành xong hình phạt ngày 02/02/2008, đã được xóa án tích.
  4. Bản án hình sự sơ thẩm số 278/2008/HSST ngày 17/6/2008 của Tòa án nhân dân quận Đống Đa xử phạt 28 tháng tù về Tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Chấp hành xong hình phạt ngày 04/5/2010, đã được xóa án tích.
  5. Bản án hình sự sơ thẩm số 277/2011/HSST ngày 22/6/2011 của Tòa án nhân dân quận Đống Đa xử phạt 07 năm tù về Tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Chấp hành xong hình phạt ngày 18/4/2017, đã được xóa án tích.
  6. Bản án số 265/HSST/2020 ngày 17/8/2020, Tòa án nhân dân quận Đống Đa xử phạt 24 tháng tù về Tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 24/3/2022, đã được xóa án tích.

Bị cáo bị bắt quả tang ngày 22/4/2024; Tạm giữ từ ngày 23/4/2023 đến ngày 29/4/2024, Tạm giam từ ngày 29/4/2023 đến nay.

Hiện Bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an thành phố H.

(Có mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình tranh tụng tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 22/4/2024 tại khu vực nhà chờ bến xe Y, quận H, TP Hà Nội, tổ công tác Công an phường Y phát hiện Vũ Mạnh L có biểu hiện nghi vấn phạm tội về ma túy nên đã tiến hành kiểm tra, bắt quả tang, thu giữ tại lòng bàn tay phải của Vũ Mạnh L 01 (một) chai nhựa nhãn hiệu Aquafina có nắp màu trắng, cao 20cm, đường kính 05 cm, bên trong chứa chất lỏng màu hồng. Vũ Mạnh L khai nhận chất lỏng màu hồng bên trong chai nhựa là ma túy Methadone, L mang theo người với mục đích bán cho một người phụ nữ tên G nhưng chưa kịp bán thì bị bắt.

Vật chứng thu giữ:

  • 01 (một) chai nhựa nhãn hiệu Aquafina có nắp màu trắng cao 20 cm, đường kính 5cm bên trong có chứa chất lỏng màu hồng;
  • 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 4 màu trắng, số thuê bao 0367.631.950, đã qua sử dụng, thu giữ của Vũ Mạnh L.
  • 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280 màu xanh, lắp sim số 0978.408.146 đã qua sử dụng, thu giữ của Lê Thị G.
  • 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu đen, BKS: 30M4-2059, không xác định được số khung, số máy thu giữ của Vũ Mạnh L
  • 01 (một) tờ tiền Polyme mệnh giá 500.000 đồng tiền Ngân hàng N1 phát hành thu giữ của Vũ Mạnh L.

Tài liệu có trong hồ sơ xác định hành vi phạm tội của bị cáo Vũ Mạnh L như sau:

-Tại Cơ quan điều tra, Vũ Mạnh L khai: Khoảng 09 giờ 50 phút ngày 22/4/2024, Vũ Mạnh L đang ở nhà tại địa chỉ P422 nhà D ngõ Q, phường H, quận Đ, TP Hà Nội thì có người phụ nữ tên G (là người L quen biết ngoài xã hội, không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể gọi từ số điện thoại 0978.408.xxx đến số điện thoại 0367.631.xxx của L hỏi mua 500.000 đồng ma túy Methadone. L hỏi G bao giờ lấy ma túy. G nói hiện chưa có tiền, hẹn L buổi chiều qua bến xe Y gặp nhau thì G đưa tiền. Sau đó, L điều khiển xe máy BKS: 30M4-2059 đi từ nhà đến Trung tâm M tại khu V, quận H để tìm mua ma túy bán cho G kiếm lời. Tại đây, L hỏi mua 450.000 đồng ma túy Methadone của một nam giới không quen biết. L đưa cho người này số tiền 450.000 đồng. Người nam giới đưa cho L 01 chai nhựa nhãn hiệu Aquafina bên trong có chứa chất lỏng màu hồng là ma túy. L cho chai nhựa chứa ma túy vào cốp xe máy rồi đi đến bến xe Y. Khi đến bến xe Y, L dựng xe ở khu vực nhà chờ của bến xe rồi đi bộ vào trong quán nước bên trong nhà chờ để gặp G. Khi gặp nhau, G đưa cho L 500.000 đồng. L cầm tiền rồi ra xe máy lấy chai nhựa đựng ma túy để mang vào quán nước giao cho G thì bị Lực lượng công an kiểm tra phát hiện bắt quả tang, thu giữ tại lòng bàn tay phải của Vũ Mạnh L 01 (một) chai nhựa nhãn hiệu Aquafina có nắp màu trắng, cao 20cm, đường kính 05 cm, bên trong chứa chất lỏng màu hồng là ma túy Methadonevà đưa về trụ sở cơ quan công an điều tra làm rõ.

Chị Lê Thị G khai:

Khoảng 09 giờ 50 phút ngày 22/4/2024, Lê Thị G dùng số điện thoại 0978.408.xxx của G gọi cho số điện thoại 0367.631.xxx của Vũ Mạnh L để hỏi mua 500.000 đồng ma túy Methadone. L hỏi bao giờ lấy thì G nói hiện chưa có tiền, G hẹn L buổi chiều qua bến xe Y gặp nhau thì G đưa tiền. Mục đích G mua ma túy M là mua hộ cho 01 người bạn tên là N. N nhờ G tìm mua ma túy M để N sử dụng vào việc cai nghiện ma túy. Đến khoảng 15 giờ, G bắt xe bus đi từ nhà đến bến xe Y, vào quán nước bên trong để đợi L mang ma túy đến. Khoảng 30 phút sau, L mang ma túy đến, G đưa cho L 500.000 đồng, L cất tiền vào túi quần, sau đó đi ra ngoài lấy ma túy thì bị Lực lượng công an phát hiện bắt giữ. Sau đó, G cũng bị lực lượng công an kiểm tra hành chính và đưa về trụ sở làm rõ.

Tại Kết luận giám định số 4024/KL-KTHS ngày 27/6/2024 của V Bộ C1. kết luận:

-Nồng độ Methadone trong mẫu chất lỏng màu hồng gửi giám định là 22,5mg/ml. Khối lượng Methadone trong 48,0ml chất lỏng màu hồng gửi giám định là 1,08 gam.

Về nguồn gốc ma túy thu giữ: Vũ Mạnh L khai mua của một người nam giới không quen biết, khoảng 40 tuổi tại Trung tâm M1 tại khu vực H, quận H. L không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của người này. Vì vậy, Cơ quan điều tra không có căn cứ xác định làm rõ, chưa đề cập xử lý trong vụ án này.

-Đối với người hỏi mua ma túy của L là Lê Thị G, sinh năm 1983, nơi thường trú: thôn D, xã L, huyện C, TP Hà Nội. G hỏi mua ma túy của L, đưa cho L số tiền 500.000 đồng nhưng chưa nhận ma túy từ L. Mục đích mua ma túy để cho bạn của G sử dụng, xét nghiệm chất ma túy đối với G cho kết quả âm tính. Vì vậy, Cơ quan điều tra chưa có căn cứ xử lý, chưa đề cập xử lý trong vụ án này.

-Tại kết luận giám định số 4098/KL-KTHS ngày 10/6/2024 của phòng KTHS Công an T kết luận: xe máy nhãn hiệu Honda Wave đeo biển BKS: 30M4-2059, bề mặt kim loại vị trí khung của xe phát hiện dấu vết tẩy xóa, không xác định được số khung nguyên thủy của xe, bề mặt kim loại vị trí số máy của xe phát hiện dấu vết tẩy xóa, không xác định được số máy nguyên thủy của xe. Biển kiểm soát 30M4-2059 thuộc sở hữu của ông Hoàng Đình H, sinh năm 1955, nơi thường trú: số F L, phường T, quận H, TP Hà Nội. Trước đây ông H sử dụng xe máy có biển kiểm soát 30M4-2059, xe máy ông đã bán, còn biển kiểm soát 30M4-2059 bị mất. Ông H không có đề nghị gì về chiếc biển kiểm soát nêu trên.

L khai mua xe máy trên của 01 người nam giới không quen biết vào khoảng tháng 2/2024 với giá 1.500.000 đồng, L đã làm mất giấy tờ xe. Chiếc xe máy nêu trên L sử dụng vào việc đi mua ma túy để bán cho G.

-Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 4 màu trắng, lắp sim số 0367.631.950 đã qua sử dụng thu giữ của Vũ Mạnh L, L sử dụng để gọi điện mua bán ma túy với Lê Thị G.

-Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280 màu xanh, lắp sim số 0978.408.146 đã qua sử dụng, thu giữ của Lê Thị G, G sử dụng để gọi điện cho Vũ Mạnh L mua ma túy.

Tại Cáo trạng số 195/CT-VKS-HĐ ngày 30/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội đã truy tố Vũ Mạnh L theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Vũ Mạnh L khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông truy tố, không kêu oan, lời nói sau cùng bị cáo xin được Hội đồng xét xử khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt để bị cáo có cơ hội cải tạo, sớm trở về với gia đình để làm lại cuộc đời.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông tại phiên tòa: giữ nguyên quan điểm truy tố theo bản Cáo trạng số 195/CT-VKS-HĐ ngày 30/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội. Sau khi phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, lời khai nhận tội của bị cáo Vũ Mạnh L, đề nghị Hội đồng xét xử sơ thẩm:

- Áp dụng khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự:

- Xử phạt Vũ Mạnh L 30 tháng tù đến 36 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù từ ngày 22/4/2024.

- Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có công việc ổn định nên không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.

- Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong số 4024/KL-KTKS được niêm phong bởi các chữ ký ghi họ tên Lương Minh T1, Trương Mạnh C và các hình dấu đỏ của V - Bộ C1.

-Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 4 màu trắng, bên trong lắp sim số 0367631950, đã qua sử dụng (thu giữ của Vũ Mạnh L.

- Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280 màu xanh, bên trong lắp sim số 0978.408.146 đã qua sử dụng (thu giữ của Lê Thị G).

- Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu đen, BKS: 30M4-2059, không xác định được số khung, số máy.

-Tịch thu sung quỹ nhà nước 500.000 đồng thu giữ của Vũ Mạnh L.

-Về án phí và quyền kháng cáo: theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Phân tích tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:

Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục qui định của Bộ luật tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Hành vi phạm tội và tội danh:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Vũ Mạnh L khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội phù hợp tại cơ quan điều tra, biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, phù hợp kết luận giám định của V Bộ C1 và các tài liệu khác có trong hồ sơ. Đầy đủ cơ sở kết luận: Khoảng 16 giờ ngày 22/4/2024 tại khu vực nhà chờ bến xe Y, quận H, TP Hà Nội, Vũ Mạnh L có hành vi cất giấu trong người 01 chai chất lỏng có chứa ma túy, có khối lượng ma túy M là 1,08 gam, mục đích để bán kiếm lời cho Lê Thị G thì bị Công an phường Y kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang cùng vật chứng.

Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội Mua bán trái phép chất ma túy quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo hiểu rõ tác hại của việc mua bán trái phép chất ma túy và nhà nước nghiêm cấm mọi hành vi tàng trữ, mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy và xử phạt nghiêm khắc người nào có hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo không những gây ảnh hưởng đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội mà còn là nguyên nhân gây lan truyền tệ nạn nghiện ngập ma tuý, làm huỷ hoại nhân cách, sức khỏe người sử dụng, huỷ hoại hạnh phúc gia đình và có nguy cơ tiềm ẩn các loại tội phạm khác. Do đó, cần thiết phải khởi tố, truy tố và đưa ra xét xử bị cáo và áp dụng hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng đấu tranh, phòng chống loại tội phạm này đang ngày càng gia tăng, trên địa bàn thủ đô và cả nước.

[3].Tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân người phạm tội:

Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xét:

-Bị cáo không có tiền án, tiền sự.

-Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, đã nhiều lần phạm tội, mặc dù đã được xóa án tích nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học mà tiếp tục phạm tội, vì vậy cần phải xử phạt bị cáo hình phạt nghiêm khắc để răn đe giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

+Về vấn đề: Ngày 23/6/1999, Bị cáo bị đi cai nghiện bắt buộc tại trung tâm số 6 thời hạn 6 tháng.

Xét thấy: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận H đã có công văn số 1982/CV-ĐCSMT ngày 07/6/2024 đề nghị cơ sở cai nghiện ma úy số 6 Hà Nội cung cấp quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và giấy chứng nhận chấp hành xong đối với Vũ Mạnh L. Tại công văn số 187/CV-CSCNMT6 của Cơ sở cai nghiện ma túy số 6 Hà Nội trả lời cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận H: năm 1999, cơ sở cai nghiện ma túy số 6 chưa thành lập, cơ sở cai nghiện ma túy số 6 thành lập ngày 06/10/2000. Vì vậy chưa có đủ căn cứ xác định bị cáo bị đi cai nghiện bắt buộc tại trung tâm số 6 thời hạn 6 tháng ngày 23/6/1999.

+Về việc nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quyết định tại Bản án hình sự sơ thẩm số 265/HSST/2020 ngày 17/8/2020 của Tòa án nhân dân quận Đống Đa. Tại biên bản trả lời xác minh ngày 28/6/2024 của Chi cục thi hành án dân sự quận Đống Đa thể hiện: “Qua hệ thống dữ liệu, sổ sách lưu trữ, chưa có hồ sơ về việc thi hành án của Vũ Mạnh L đối với bản án trên nên cơ quan thi hành án dân sự quận Đ không có căn cứ để cung cấp xác minh”. Bị cáo khai nhận đã nộp án phí hình sự sơ thẩm đối với bản án trên. Vì vậy cần áp dụng tình tiết có lợi cho bị cáo, xác định bị cáo đã nộp án phí hình sự sơ thẩm, đã được xóa án tích đối với bản án trên.

-Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

-Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, khi lượng hình, cũng cần xem xét, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[4]. Các vấn đề khác của vụ án:

-Về nguồn gốc ma túy thu giữ: Vũ Mạnh L khai mua ma túy của một người nam giới không quen biết, khoảng 40 tuổi tại Trung tâm M1 tại khu vực H, quận H. L không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của người này. Vì vậy, Cơ quan điều tra không có căn cứ xác định làm rõ, chưa đề cập xử lý trong vụ án này là phù hợp.

-Đối với Lê Thị G, Cơ quan điều tra đã làm rõ: G hỏi mua ma túy của L, G đưa cho L số tiền 500.000 đồng nhưng chưa nhận ma túy từ L. Mục đích G mua ma túy để cho bạn của G sử dụng, xét nghiệm chất ma túy đối với G cho kết quả âm tính. Cơ quan điều tra kết luận chưa có căn cứ xử lý, chưa đề cập trong vụ án này là phù hợp. Vì vậy, không cần thiết phải đưa Lê Thị G vào tham gia tố tụng tại Tòa án với tư cách người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.

[5]. Về hình phạt bổ sung:

Bị cáo là lao động tự do, không có công việc ổn định, nên không áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6]. Xử lý vật chứng.

- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong số 4024/KL-KTKS được niêm phong bởi các chữ ký ghi họ tên Lương Minh T1, Trương Mạnh C và các hình dấu đỏ của V - Bộ C1.

- Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 4 màu trắng, lắp sim số 0367.631.950 đã qua sử dụng thu giữ của Vũ Mạnh L, L sử dụng để gọi điện mua bán ma túy với Lê Thị G, vì vậy đây là phương tiện sử dụng vào việc phạm tội, cần tịch thu sung quỹ nhà nước.

-Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280 màu xanh, lắp sim số 0978.408.146 đã qua sử dụng, thu giữ của Lê Thị G, G sử dụng để gọi điện mua bán ma túy với Vũ Mạnh L, vì vậy đây là phương tiện sử dụng vào việc phạm tội, cần tịch thu sung quỹ nhà nước.

-Đối với 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu đen, BKS: 30M4-2059, không xác định được số khung, số máy, L khai mua của một người không quen biết, đã làm mất giấy tờ xe, biển kiểm soát BKS: 30M4-2059 thuộc quyền sở hữu của ông Hoàng Việt H1 nhưng ông H1 làm mất biển kiểm soát. L điều khiển xe máy để mua bán ma túy, vì vậy đây là phương tiện sử dụng vào việc phạm tội, cần tịch thu sung quỹ nhà nước.

-Đối với số tiền 500.000 đồng G đưa cho L để mua ma túy là tiền sử dụng vào việc phạm tội, cần tịch thu sung quỹ nhà nước.

-Các vật chứng nêu trên có tình trạng, đặc điểm theo như Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 06/8/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận H, TP Hà Nội và Chi cục thi hành án dân sự quận Hà Đông, TP Hà Nội.

[7] Án phí và quyền kháng cáo:

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Vũ Mạnh L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  2. Áp dụng: khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, khoản 2 Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự;

    Xử phạt Vũ Mạnh L 30 (ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/4/2024.

  3. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
    • -Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong số 4024/KL-KTKS được niêm phong bởi các chữ ký ghi họ tên Lương Minh T1, Trương Mạnh C và các hình dấu đỏ của V - Bộ C1.
    • -Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 4 màu trắng, bên trong lắp sim số 0367631950, đã qua sử dụng (thu giữ của Vũ Mạnh L.
    • - Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280 màu xanh, bên trong lắp sim số 0978.408.146 đã qua sử dụng (thu giữ của Lê Thị G).
    • - Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu đen, BKS: 30M4-2059, không xác định được số khung, số máy.
    • -Tịch thu sung quỹ nhà nước 500.000 đồng hiện đang tạm giữ theo ủy nhiệm chi ngày 09/8/2024, đơn vị trả tiền: Công an quận H, đơn vị nhận tiền: Chi cục thi hành án dân sự quận Hà Đông tại Kho bạc nhà nước H2.
    • Vật chứng nêu trên có tình trạng, đặc điểm theo như: Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 06/8/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận H, TP Hà Nội và Chi cục thi hành án dân sự quận Hà Đông, TP Hà Nội.
  4. Án phí và quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 135; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án:

    Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • -Tòa án NDTP Hà Nội;
  • -VKSND quận Hà Đông, TP Hà Nội;
  • -VKSND TP Hà Nội;
  • -Công an quận Hà Đông, TP Hà Nội.
  • - Trại tạm giam số 2-CATP Hà Nội.
  • -Chi cục thi hành án dân sự quận Hà Đông, TP Hà Nội;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thu Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 213/2024/HSST ngày 15/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 213/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: vũ Manh Long
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger