| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
| Bản án số: 213/2024/HS-PT Ngày 17 - 5 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Quang;
Các Thẩm phán: Ông Trần Thanh Phong;
Ông Trần Phương Đông.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Sơn - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa:
Bà Bùi Thị Mỹ Ngọc - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 519/2023/TLPT-HS ngày 01 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo Trần Hồ L và các bị cáo khác; do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 561/2023/HS-ST ngày 20-10-2023 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.
Bị cáo có kháng cáo:
1/ Trần Hồ L, sinh năm 2003, tại Bạc Liêu; nơi đăng ký thường trú: Ấp H, xã T, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu; chỗ ở hiện nay: Số nhà C, Tổ C, Khu phố D, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn A sinh năm 1970 và bà Mai Tú T sinh năm 1975; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú theo Lệnh số 1125/2023/HSST-LCĐKNCT ngày 20-10-2023 của Toà án nhân dân thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai (có mặt).
2/ Lê Minh H, sinh ngày 04/04/2007, tại Đồng Nai; nơi đăng ký thường trú: K, Khu phố C, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Tấn P, sinh năm 1978 và bà Nguyễn Thị Ngọc D, sinh năm 1978; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú theo Lệnh số: 1126/2023/HSST-LCĐKNCT ngày 20-10-2023 của Toà án nhân dân thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai (có mặt).
Người bào chữa cho bị cáo Trần Hồ L: Luật sư Đinh Công T1 – Đoàn Luật sư tỉnh Đ; nơi làm việc: Văn phòng L3; địa chỉ: Đường N, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (có mặt).
Người bào chữa theo luật định cho bị cáo Lê Minh H: Bà Bùi Thị H1 – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Đ (có mặt).
Người đại diện hợp pháp của bị cáo Lê Minh H: Ông Lê Tấn P, sinh năm 1978 và bà Nguyễn Thị Ngọc D, sinh năm 1978; cùng địa chỉ: K, Khu phố C, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (có mặt).
Ngoài ra, trong vụ án còn có các bị cáo và người tham gia tố tụng khác nhưng không có kháng cáo, kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
1. Nội dung chính:
Huỳnh Anh T2 sinh ngày 21/12/2004, Trần Tấn H2, Nguyễn Lê Hoàng K, Trần Hồ L, Trịnh Thanh P1, Lê Minh H, sinh ngày 04/4/2007 là bạn bè. Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 30/9/2022, T2, H2, K đi chơi cùng nhau. Qua mạng xã hội Facebook, K biết chị Lương Phương L1 (bạn gái trước đây của T2) đi chơi cùng Nguyễn Lê Kim Q, (sinh ngày 24/10/2004 thường trú tại Khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai) tại quán “Aroma” thuộc đường N, Khu phố F, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai nên thông báo cho T2 và H2 biết. Sau đó, cả 03 đi đến quán “Aroma” để kiểm tra thì thấy chị L1 đang ngồi chơi với anh Q và Nguyễn Thị Ngọc H3, Lê Tấn D1, Mai Văn B, Đỗ Dương Trường N tại quán. Do bực tức ghen tuông, T2 rủ K và H2 tìm thêm người đến đánh Q. Cả 03 bàn bạc thống nhất, K ở lại quán “Aroma” để ngăn cản không cho Q đi về, T2 và H2 đi tìm thêm người đến để đánh Q. T2 và H2 đi đến đoạn đường Đ thuộc phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai thì gặp P1, H, L. T2 rủ P1, H, L đến quán A3 đánh Q, tất cả đồng ý.
Sau đó, P1 điều khiển xe mô tô hiệu Honda Vario (không rõ biển số) chở H2, T2, H điều khiển xe mô tô hiệu Fashion, biển số 60k2-5741 chở L đi đến quán “Aroma”. Khi đi đến đoạn đường thuộc khu vực chợ H6, phường H, thành phố B tỉnh Đồng Nai, T2 thấy trên vỉa hè có 01 con dao Thái Lan, cán bằng nhựa màu vàng, lưỡi dao bằng kim loại dài 20cm, bản rộng 02cm, mũi nhọn, T2 yêu cầu P1 dừng xe để nhặt lấy con dao rồi cất vào trong ống tay áo khoác. Khi T2 xuống lấy con dao thì H2, P1, L, H đều nhìn thấy. Sau đó, cả nhóm tiếp tục đi đến quán “Aroma” để đánh Q.
Đến khoảng 22 giờ 20 phút cùng ngày, nhóm Q đi về. K thấy Q điều khiển xe mô tô chở chị L1 đi ra phía trước quán “A1”, K đi đến rút chìa khóa xe mô tô của Q để ngăn cản không cho Q đi về, rồi đứng đợi T2 đến đánh Q. Lúc này, Nguyễn Lê Hoàng A2, sinh ngày 08/10/2005 (em ruột K) đang ở trong quán “Aroma”, thấy K rút chìa khóa xe của Q, A2 cũng đi đến đứng bên cạnh K.
Đến khoảng 22 giờ 25 phút cùng ngày, khi thấy P1 điều khiển xe mô tô chở T2, H2 đến. K xông đến dùng tay đánh vào mặt Q, T2 cầm con dao Thái Lan nêu trên trên tay phải xông đến đâm 02 nhát trúng vào vùng lưng trái của Q, H2 dùng tay đánh vào người Q. A2 dùng tay nằm giữ cổ áo Q để cho K, H2, T2 đánh Q. Lúc này, H chở L đến, L xông vào dùng tay đánh Q. Trong lúc đâm Q, T2 làm rơi con dao Thái Lan xuống mặt đường, H2 nhặt con dao Thái Lan đâm 02-03 nhát về phía Q thì được anh Mai Văn B (bạn Q) can ngăn nên không gây thương tích cho Q. Lúc này, K đi đến giật lấy con dao trên tay H2 đâm liên tiếp 02 nhát trúng vào vùng lưng trái và lưng phải của Q, T2, H2, A2 dùng mũ bảo hiểm, L dùng tay tiếp tục đánh Q. Khi Q quay người để bỏ chạy, K đâm thêm 01 nhát gây xước da vùng vai phải; T2, H2, L, P1 điều khiển xe mô tô cùng chạy theo. Khi đuổi kịp, T2 và H2 dùng mũ bảo hiểm đánh liên tiếp 02-03 cái vào lưng Q. Sau đó, P1 điều khiển xe mô tô chở T2 và H2, H điều khiển xe mô tô chở L, K bỏ đi. Trên đường đi, K đưa con dao Thái Lan cho H2 vứt bỏ tại phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Còn anh Nguyễn Lê Kim Q được đưa đến cấp cứu tại Bệnh viện Q1 - Đồng Nai.
Tại Cơ quan điều tra Huỳnh Anh T2, Nguyễn Lê Hoàng K, Lê Tấn H4, Trần Hồ L, Nguyễn Lê Hoàng A2, Trịnh Thanh P1, Lê Minh H đã khai nhận hành vi phạm tội như trên.
Vật chứng thu giữ:
- 01 USB chứa dữ liệu hình ảnh Camera diễn biến vụ cố ý gây thương tích (lưu kèm hồ sơ vụ án).
- 01 nón bảo hiểm (dạng nón S) màu xám.
- 01 con dao Thái Lan, cán bằng nhựa màu vàng, lưỡi dao bằng kim loại dài 20cm, bản rộng 02cm, mũi nhọn Công an phường T đã truy tìm nhưng không thu giữ được.
Quá trình điều tra xác định:
- 01 xe mô tô Hiệu Vario, màu trắng (không rõ biển số) Trịnh Thanh P1 khai mượn của L2 (không rõ nhân thân lai lịch) để đi chơi nên L2 không biết P1 dùng xe mô tô vào việc phạm tội. Cơ quan điều tra không thu giữ xe mô tô nêu trên.
- 01 xe mô tô hiệu Fashion, biển số 60K2-5741 là tài sản của ông Lê Tấn P, sinh năm 1978; địa chỉ: K, Khu phố C, phường B, thành phố B (cha ruột H) cho H mượn sử dụng. Ông P không biết việc H sử dụng xe mô tô chở đồng phạm đi đánh nhau nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B không thu giữ xe mô tô nêu trên.
Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 1185/TgT/2022 ngày 04/11/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh Đ kết luận:
Dấu hiệu chính qua giám định:
- Vết thương thấu ngực trái gây tổn thương vùng phổi trái hiện để lại mảng xẹp thùy lưỡi phổi trái cạnh khoang liên sườn 5-6 đường nách trước trái. Tỷ lệ 28%.
- Sẹo lưng phải cạnh cột sống kích thước 1,5x 0,3cm. Tỷ lệ 01%.
- Sẹo lưng trái kích thước 2,5x0,5cm. Tỷ lệ 01%.
- Sẹo lưng trái kích thước 1,8x0,3cm.Tỷ lệ 01%.
- Sẹo mổ ngực bên trái kích thước 02x1,8cm.Tỷ lệ 02%.
- Kết luận: Căn cứ Thông tư 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ trưởng Bộ Y, tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của Nguyễn Lê Kim Q áp dụng theo thông tư là: 32%.
- Vật gây thương tích: Vật sắc nhọn.
Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 0281/KLTgTHS-TTPYĐN ngày 18/4/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh Đ kết luận: Nạn nhân vào viện trong tình trạng tỉnh, tiếp xúc tốt, sinh hiệu ổn, nên thuộc cấp cứu trì hoãn; vì vậy, ngay lập tức không nguy hại đến tính mạng của nạn nhân.
Kết luận giám định độ tuổi trên cơ thể người sống số 0282/KLGDĐT-TTPYĐN ngày 29/3/2023 của Tung tâm pháp y tỉnh Đ kết luận: Trần Hồ L có độ tuổi là 19 năm 06 tháng đến 20 năm 06 tháng kể từ ngày giám định 27/3/2023.
- Về trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Lê Kim Q và bà Lê Thị Hải H5 (đại diên hợp pháp của bị hại) yêu cầu bồi thường chi phí điều trị thương tích, tổn thất tinh thần và các chi phí khác với số tiền 153.100.000₫ (một trăm năm mươi ba triệu, một trăm nghìn đồng).
- Gia đình các bị cáo đã bồi thường số tiền 30.000.000đ (ba mươi triệu đồng) cho bị hại Q gồm: Huỳnh Anh T2 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng); Trịnh Thanh P1 10.000.000đ (mười triệu đồng).
- Quá trình điều tra truy tố gia đình các bị cáo đã nộp tiền khắc phục hậu quả tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B 30.000.000đ (ba mươi triệu đồng) gồm: bị cáo Trần Hồ L, Trần Tấn H2, Lê Minh H mỗi bị cáo 10.000.000đ (mười triệu đồng). Giai đoạn chuẩn bị xét xử, gia đình của bị cáo Trần Hồ L nộp thêm tiền khắc phục hậu quả cho anh Q là 5.000.000đ (năm triệu đồng); gia đình của bị cáo Lê Minh H là 5.000.000đ (năm triệu đồng); gia đình của bị cáo Trịnh Thanh P1 bồi thường thêm cho anh Q là 5.000.000₫ (năm triệu đồng),
2. Quyết định của cấp sơ thẩm:
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 561/2023/HS-ST ngày 20-10-2023 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa đã quyết định:
Căn cứ vào điểm a, i khoản 1; điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s, khoản 1 điều 51, Điều 58, Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):
Tuyên bố bị cáo Huỳnh Anh T2 phạm tội “ Cố ý gây thương tích”
Xử phạt bị cáo Huỳnh Anh T2 04 (bốn) năm tù; thời hạn tù được tính kể từ ngày 24/5/2023.
Căn cứ vào điểm a, i khoản 1; điểm c khoản 3 Điều 134, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Lê Hoàng K phạm tội “Cố ý gây thương tích”;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Lê Hoàng K 05 (năm) năm tù; thời hạn tù được tính kể từ ngày 23/05/2023;
Căn cứ vào điểm a, i khoản 1; điểm c khoản 3 Điều 134, điểm b, s, khoản 1 Điều 51, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Tuyên bố bị cáo Trần Tấn H2 phạm tội “Cố ý gây thương tích”
Xử phạt bị cáo Trần Tấn H2 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù; thời hạn tù được tính kể từ ngày 24/05/2023;
Căn cứ vào điểm a, i khoản 1; điểm c khoản 3 Điều 134 ; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58; khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Lê Hoàng A2 phạm tội “Cố ý gây thương tích".
Xử phạt bị cáo Nguyễn Lê Hoàng A2 03 (ba) năm tù.
Căn cứ khoản 1 Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017); tổng hợp hình phạt với Bản án số: 304/2023/HSST ngày 27/6/2023 của Toà án nhân dân thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai buộc bị cáo Nguyễn Lê Hoàng A2 phải chấp hành hình phạt chung của cả 02 bản án là 03 (ba) năm 10 (mười) tháng tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày 23/5/2023 trừ đi thời hạn tạm giam tạm giữ từ ngày 17/9/2022- 26/9/2022.
Căn cứ vào điểm a, i khoản 1; điểm c khoản 3 Điều 134; điểm s, b khoản 1 Điều 51, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Tuyên bố bị cáo Trần Hồ L phạm tội “ Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt bị cáo Trần Hồ L 04 (bốn) năm tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày bị cáo tự nguyện đi thi hành án hoặc bị bắt đi thi hành án.
Căn cứ vào điểm a, i khoản 1; điểm c khoản 3 Điều 134; điểm s, b khoản 1 Điều 51, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):
Tuyên bố bị cáo Trịnh Thanh P1 phạm tội “Cố ý gây thương tích”;
Xử phạt bị cáo Trịnh Thanh P1 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày 24/05/2023
Căn cứ vào điểm a, i khoản 1; điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 58; khoản 2 Điều 101 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Tuyên bố bị cáo Lê Minh H phạm tội “Cố ý gây thương tích”;
Xử phạt bị cáo Lê Minh H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày ngày bị cáo tự nguyện đi thi hành án hoặc bị bắt đi thi hành án;
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng, án phí hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo theo luật định.
3. Kháng cáo:
Trong thời hạn luật định, các bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.
4. Quan điểm của Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa phúc thẩm:
- Về tội danh: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại khoản 3 Điều 134 là có căn cứ, đúng quy định.
- Về kháng cáo và hình phạt: Mức án mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên là phù hợp không nặng như kháng cáo đã nêu. Các bị cáo phạm tội có tính chất côn đồ không đủ điều kiện được hưởng án treo theo quy định của pháp luật; các bị cáo kháng cáo nhưng không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ đặc biệt nào mới nên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm.
5. Quan điểm bào chữa của luật sư:
5.1. Người bào chữa cho bị cáo L:
Về tội danh: Thống nhất như bản án sơ thẩm đã tuyên.
Về hình phạt: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến nguyên nhân, động cơ, mục đích của hành vi phạm tội; bị cáo L có hoàn cảnh gia đình khó khăn, nhân thân chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn nhưng Tòa án cấp sơ thẩm không áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự là có thiếu sót. Từ những căn cứ trên, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
5.2. Người bào chữa cho bị cáo Lê Minh H:
Về tội danh: Thống nhất với bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.
Về hình phạt: Bị cáo kháng cáo cung cấp đơn xác nhận hoàn cảnh gia đình khó khăn, gia đình bị cáo có công với cách mạng là các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Ngoài ra, trong vụ án bị cáo tham gia với vai trò thứ yếu, bị cáo phạm tội với vài trò đồng phạm giúp sức không trực tiếp tham gia đánh nhau gây thương tích cho bị hại; khi phạm tội bị cáo là người chưa thành niên nên cần áp dụng chính sách hình sự đối với người chưa thành niên cho bị cáo được hưởng án treo, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
Kháng cáo của các bị cáo trong thời hạn án được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về tội danh:
Theo các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ, nội dung Bản án sơ thẩm; các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi vi phạm tội; do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a, i khoản 1; c khoản 3 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ và đúng pháp luật.
[3] Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
3.1. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có.
3.2. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Tại cấp sơ thẩm: Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả là 1 tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51;
- Tại cấp phúc thẩm: Các bị cáo cung cấp đơn xác nhận gia đình có hoàn cảnh khó khăn; gia đình bị cáo H có công với cách mạng là 1 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự áp dụng cho các bị cáo.
[4] Về kháng cáo về hình phạt:
Các bị cáo bị xét xử về tội phạm rất nghiêm trọng; bị cáo L là người trực tiếp tham gia đánh nhau; bị cáo H là người tham gia giúp sức cho các bị cáo khác trong vụ án thực hiện hành vi vi phạm tội. Các bị cáo bị truy tố ở khung hình phạt có mức khởi điểm từ 05 năm đến 10 năm; mức án Tòa án cấp sơ thẩm tuyên là phù hợp, có sự phân hóa với các bị cáo khác trong cùng vụ án. Bị cáo H khi phạm tội là người chưa thành niên, Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng Điều 101 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo mức hình phạt 01 năm 06 tháng là phù hợp. Các bị cáo kháng cáo cung cấp tình tiết giảm nhẹ mới theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; tuy nhiên, trong vụ án, các bị cáo không có mâu thuẫn với bị hại nhưng thực hiện hành vi mang tính quyết liệt; sau khi đâm bị hại, các bị cáo vẫn đang xe máy rượt theo theo tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội với tình tiết định khung hình phạt “Có tính côn đồ” không đủ điều kiện được hưởng treo theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự và hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15-5-2018, Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15-4-2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Do đó, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm tuyên.
[5] Về án phí:
Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Các bị cáo Trần Hồ L, Lê Minh H mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
[6] Chấp nhận ý kiến của Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa phúc thẩm.
[7] Chấp nhận một phần quan điểm của người bào chữa về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Trần Hồ L và Lê Minh H; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 561/2023/HS-ST ngày 20-10-2023 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa về hình phạt đối với các bị cáo.
1. Tội danh và hình phạt:
Căn cứ vào điểm a, i khoản 1; điểm c khoản 3 Điều 134; điểm s, b khoản 1 Điều 51, Điều 58; Điều 101 (đối với bị cáo H) của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Xử phạt bị cáo Trần Hồ L 04 (bốn) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”; thời hạn tù được tính kể từ ngày bị cáo vào cơ sở giam giữ chấp hành hình phạt tù.
Xử phạt bị cáo Lê Minh H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”; thời hạn tù được tính kể từ ngày ngày bị cáo vào cơ sở giam giữ chấp hành hình phạt tù.
2. Về án phí:
Các bị cáo Trần Hồ L, Lê Minh H mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
3. Quyết định của Bản án sơ thẩm về hình phạt đối với các bị cáo khác trong vụ án, xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp và án phí hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Xuân Quang |
Bản án số 213/2024/HS-PT ngày 17/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự (cố ý gây thương tích)
- Số bản án: 213/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cố ý gây thương tích)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 17/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo
