Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẮC GIANG

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 213/2023/HS-ST

Ngày 21 tháng 11 năm 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Văn Tú

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Tư

Bà Hoàng Thị Hồng

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Thế Thiện-Thư ký Toà án nhân dân Thành phố Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên toà: Ông Trần Văn Trí- Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 11 năm 2023 tại Điểm cầu trung tâm Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang; Điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh B.

Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 203/2023/TLST-HS ngày 26 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 210/2023/QĐXXST- HS ngày 07/11/2023 đối với bị cáo:

Trần Văn A, sinh năm 1982; Tên gọi khác không.

Nơi cư trú: Số nhà G, phố T, phường P, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Nghề nghiệp: Tự do. Văn hóa: 12/12. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Giới tính N. Bố: Trần Văn K, sinh năm 1952. Mẹ: Lê Thị S, sinh năm 1959. Gia đình có 02 anh em, bị cáo là thứ nhất. Vợ: Lê Thị H, sinh năm 1987. Có 02 con, lớn sinh năm 2007, nhỏ sinh năm 2016. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/7/2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B - Có mặt.

Bị hại: Anh Lê Việt T, sinh năm 1987 (có mặt)

Địa chỉ: Số A, đường N, phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  • - Anh Nông Văn T1, sinh năm 1997 (vắng mặt)
  • Địa chỉ: thôn Đ, xã D, huyện S, tỉnh Bắc Giang.
  • - Anh Chu Văn D, sinh năm 1980 (vắng mặt)
  • Địa chỉ: thôn K, xã A, huyện S, tỉnh Bắc Giang.
  • - Anh Trần Văn S1, sinh năm 1989 (vắng mặt)
  • Địa chỉ: thôn M, xã D, huyện S, tỉnh Bắc Giang
  • - Chị Hoàng Thị H1, sinh năm 1989 (vắng mặt)
  • Địa chỉ: xóm P xã V, huyện S, tỉnh Bắc Giang.
  • - Anh Triệu Tiến S2, sinh năm 1991(vắng mặt)
  • Địa chỉ: tổ dân phố M, thị trấn T, huyện S, tỉnh Bắc Giang
  • - Anh Ngô Văn Á, sinh năm 1986 (vắng mặt)
  • - Chị Phạm Thị L, sinh năm 1987 (vắng mặt)
  • Đều có địa chỉ: tổ dân phố Đ, thị trấn T, huyện S, tỉnh Bắc Giang.
  • Chị Lê Thị H, sinh năm 1987(có mặt)
  • Địa chỉ: Số nhà G, phố T, phường P, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.

* Người làm chứng:

  • - Anh Bùi Văn C, sinh năm 1991(vắng mặt)
  • Địa chỉ: Thôn R, xã D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Năm 2018, Trần Văn A, sinh năm 1982, trú tại số nhà G, phố T, phường P, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa đến làm thuê tại Cửa hàng kinh doanh hàng gia dụng, điện tử, điện lạnh Phương T2, địa chỉ số C, đường N, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Cửa hàng trên do anh Lê Việt T, sinh năm 1987, trú tại số A, đường N, phường H, thành phố B làm Chủ hộ kinh doanh. Anh T giao cho A đi giao hàng cho các cửa hàng trên địa bàn tỉnh Bắc Giang và thu tiền hàng nộp về cửa hàng vào cuối giờ chiều trong ngày. Lợi dụng sự tin tưởng và công việc được giao, Trần Văn A sau khi giao hàng và thu tiền nhưng không nộp về cho cửa hàng mà giữ lại để chi tiêu cá nhân. Từ tháng 5/2022 đến tháng 01/2023, Trần Văn A đã 06 lần chiếm đoạt tổng số tiền hàng của anh Lê Việt T3 tổng trị giá tài sản chiếm đoạt là 62.917.000 đồng, cụ thể như sau:

Lần thứ nhất: Ngày 04/5/2022, Trần Văn A đi giao các sản phẩm nồi cơm điện, bếp ga cho cửa hàng T5 ở thôn Đ, xã L, huyện B, tỉnh Quảng Ninh do anh Nông Văn T1, sinh năm 1997, trú tại thôn Đ, xã D, huyện S, tỉnh Bắc Giang làm chủ. Tổng số tiền hàng phải thanh toán là 14.070.000 đồng. Do chưa có tiền thanh toán nên anh T1 đưa cho Anh trước 1.070.000 đồng và nợ số tiền còn lại. Buổi chiếu cùng ngày, A đã nộp số tiền trên cho cửa hàng P.

Đến ngày 06/6/2022, A gọi điện thoại cho anh T1 yêu cầu thanh toán nốt số tiền hàng còn nợ. Anh T1 sử dụng số tài khoản 12509205265630 tại Ngân hàng A6 mang tên Nông Văn T1 chuyển khoản 10.000.000 đồng đến số tài khoản 1982995888 tại Ngân hàng M mang tên Trần Văn A. Đến ngày 31/10/2022, anh T1 tiếp tục chuyển khoản cho Anh thanh toán 3.000.000 đồng. Tổng số tiền A đã nhận của anh T1 là 13.000.000 đồng. Trần Văn A không nộp cho cửa hàng P mà chi tiêu cá nhân hết.

Lần thứ hai: Ngày 20/09/2022, Trần Văn A đi giao hàng là dây điện cho cửa hàng Dương H2 của anh Chu Văn D, sinh năm 1980, trú tại thôn K, xã A, huyện S, tỉnh Bắc Giang. Tổng số tiền hàng là 4.964.000 đồng. Ngoài ra, anh D còn chưa thanh toán tiền hàng trước đó là 19.955.719 đồng. Tổng số tiền anh D cần thanh toán là 24.919.719 đồng. Anh D đã đưa cho Anh trước 5.619.000 đồng. Buổi chiều cùng ngày, A đã giao lại cho cửa hàng P số tiền trên.

Đến ngày 10/10/2022, anh Chu Văn D sử dụng số tài khoản 0974189727 tại Ngân hàng M mang tên Chu Văn D chuyển khoản 02 lần với tổng số tiền là 7.600.000 đồng vào số tài khoản 1982995888 tại Ngân hàng M mang tên Trần Văn A (lần 1 là 6.000.000 đồng, lần 2 là 1.1600 đồng).

Từ ngày 02/12/2022 đến ngày 10/01/2023, anh D đã 3 lần chuyển khoản thanh toán tiền hàng vào số tài khoản 1982995888 của Trần Văn A (ngày 02/12/2022 chuyển khoản 7.300.000 đồng; ngày 30/12/2022 chuyển khoản 1.500.000 đồng và ngày 10/01/2023 chuyển khoản 2.900.000 đồng).

Tổng số tiền anh Chu Văn D chuyển khoản cho Trần Văn A là 19.300.000 đồng. Sau khi nhận số tiền trên, Trần Văn A không nộp cho cửa hàng P mà sử dụng chi tiêu cá nhân hết.

Lần thứ ba: Ngày 07/9/2022, Trần Văn A đi giao hàng là dây điện cho cửa hàng T6 do anh Trần Văn S1, sinh năm 1989, trú tại thôn M, xã D, huyện S, tỉnh Bắc Giang làm chủ. Tổng số tiền hàng là 9.100.000 đồng. Ngoài ra, anh S1 còn nợ chưa thanh toán tiền hàng lần trước là 3.400.000 đồng. Tổng số tiền anh S1 cần thanh toán là 12.500.000 đồng. Anh S1 do chưa có tiền nên chưa thanh toán.

Đến ngày 21/9/2022, Trần Văn A đến giao hàng thì anh S1 đưa cho Anh số tiền 9.000.000 đồng tiền mặt. Ngày 20/10/2022, anh S1 sử dụng số tài khoản 19031229124017 tại Ngân hàng T7 mang tên Trần Văn S1 chuyển khoản 3.500.000 đồng vào số tài khoản 1982995888 tại Ngân hàng M, mang tên Trần Văn A. Toàn bộ số tiền 12.500.000 đồng nhận từ anh S1 thì Trần Văn A không nộp cho cửa hàng P mà đã chi tiêu cá nhân hết.

Lần thứ tư: Ngày 05/10/2022, Trần Văn A đi giao các mặt hàng điện dân dụng cho cửa hàng H4 do chị Hoàng Thị H1, sinh năm 1989, trú tại xóm P xã V, huyện S, tỉnh Bắc Giang làm chủ. Tổng số tiền hàng là 10.411.844 đồng. Do chưa có đủ tiền thanh toán nên chị H1 đưa cho Anh trước số tiền 3.000.000 đồng và nợ 7.411.844 đồng. Buổi chiều cùng ngày, A đã giao lại cho cửa hàng P số tiền trên.

Đến ngày 07/12/2022, Trần Văn A đến giao hàng thì chị H1 thanh toán cho Anh 2.162.000 đồng tiền mặt và sử dụng số tài khoản 106874338899 tại Ngân hàng V mang tên Hoàng Thị H1 chuyển khoản 5.250.000 đồng vào số tài khoản 1982995888 tại Ngân hàng M mang tên Trần Văn A.

Toàn bộ số tiền 7.411.844 đồng nhận từ chị Hoàng Thị H1 thì Trần Văn A không nộp cho cửa hàng P mà đã chi tiêu cá nhân hết.

Lần thứ năm: Ngày 07/12/2022, Trần Văn A đi giao hàng là cầu dao tự động cho cửa hàng S3 do anh Triệu Tiến S2, sinh năm 1991, trú tại tổ dân phố M, thị trấn T, huyện S, tỉnh Bắc Giang làm chủ. Tổng số tiền hàng là 6.705.000 đồng. Do chưa có đủ tiền thanh toán, anh S2 đã đưa trước cho Trần Văn A 3.535.000 đồng tiền mặt, số tiền còn lại anh S2 nợ và chưa thanh toán.

Đến ngày 24/12/2022, anh Triệu Tiến S2 sử dụng số tài khoản 2509205310670 tại Ngân hàng A6 mang tên Triệu Tiến S2 chuyển khoản số tiền 1.500.000 đồng vào số tài khoản 1982995888 tại Ngân hàng M mang tên Trần Văn A; ngày 16/01/2023 anh S2 tiếp tục thanh toán cho Anh số tiền 1.670.000 đồng còn lại bằng hình thức chuyển khoản.

Toàn bộ số tiền 6.705.000 đồng nhận từ anh Triệu Tiến S2 thì Trần Văn A không nộp cho cửa hàng P mà đã chi tiêu cá nhân hết.

Lần thứ sáu: Ngày 10/01/2023, Trần Văn A đi giao hàng là nồi cơm điện, lon ga cho cửa hàng Á1 do anh Ngô Văn Á, sinh năm 1986, trú tại tổ dân phố Đ, thị trấn T, huyện S, tỉnh Bắc Giang làm chủ. Tổng số tiền hàng là 4.000.000 đồng. Do chưa có tiền nên anh Ánh chưa thanh toán.

Khoảng 01 tuần sau, chị Phạm Thị L, sinh năm 1987 là vợ anh Ánh đã đưa cho Trần Văn A số tiền 4.000.000 đồng. Trần Văn A không nộp cho cửa hàng P mà đã chi tiêu cá nhân hết.

Đến tháng 01/2023 sau khi nghỉ Tết âm lịch, anh Lê Việt T không thấy Trần Văn A trở lại làm việc nên kiểm tra công nợ thì phát hiện Trần Văn A đã thu số tiền trên của khách hàng nhưng không nộp về cửa hàng và không liên lạc được nên đã có đơn trình báo. Ngày 27/7/2023, Cơ quan điều tra triệu tập Trần Văn A để làm việc thì Anh đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội.

Cơ quan điều tra đã cho anh Nông Văn T1, Trần Văn S1, Triệu Tiến S2, Chu Văn D và chị Hoàng Thị H1, Triệu Thị L1 nhận dạng ảnh Trần Văn A. Kết quả những người nêu trên đều nhận đúng ảnh và xác định Trần Văn A nhiều lần đến giao hàng và những người nêu trên có thanh toán tiền mua hàng của cửa hàng P cho Trần Văn A.

Cơ quan điều tra đã thu giữ sao kê số tài khoản 1982995888 của Trần Văn A tại Ngân hàng TMCP Q, kết quả xác định như sau:

  • Anh Nông Văn T1 vào ngày 06/6/2022 có chuyển khoản đến tài khoản của Trần Văn A 10.000.000 đồng và ngày 31/10/2022 có chuyển khoản đến tài khoản của Trần Văn A 3.000.000 đồng.
  • Anh Chu Văn D vào ngày 10/10/2022 có chuyển khoản 02 lần đến tài khoản của Trần Văn A tổng số tiền là 7.600.000 đồng; ngày 02/12/2022 có chuyển khoản 7.300.000 đồng; ngày 30/12/2022 có chuyển khoản 1.500.000 đồng và ngày 10/01/2023 có chuyển khoản 2.900.000 đồng.
  • Anh Trần Văn S1 vào ngày 20/10/2022 có chuyển khoản đến tài khoản của Trần Văn A 3.500.000 đồng.
  • Chị Hoàng Thị H1 vào ngày 07/12/2022 có chuyển khoản đến tài khoản của Trần Văn A 5.250.000 đồng.
  • Anh Triệu Tiến S2 vào ngày 24/12/2022 có chuyển khoản đến tài khoản của Trần Văn A 1.500.000 đồng và ngày 16/01/2023 có chuyển khoản 1.670.000 đồng.

Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, chị Lê Thị H là vợ Trần Văn A đã bồi thường cho anh Lê Việt T 62.917.000 đồng. Anh T không yêu cầu bồi thường thêm và có đơn xin giảm nhẹ cho bị cáo.

Bản cáo trạng số 217/CT-VKS ngày 26/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang truy tố Trần Văn Anh về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 175 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn A1 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Chủ tọa phiên tòa công bố lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa. Bị cáo, bị hại không ai có ý kiến gì về lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang giữ quyền công tố tại phiên tòa sau khi phân tích tính chất, hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố về tội danh, đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 175, điểm g khoản 1 Điều 52, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự.
  • Xử phạt bị cáo Trần Văn A2 02 năm 03 tháng tù đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” thời hạn tù tính từ ngày 27/7/2023.
  • - Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
  • - Về trách nhiệm dân sự không đặt ra giải quyết
  • - Án phí áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
  • Bị cáo Trần Văn A3 phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm

Phần tranh luận: Bị cáo, bị hại, người liên quan không có tranh luận gì với bản luận tội của Viện kiểm sát, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có

người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về sự vắng mặt của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng. Tòa án đã tống đạt hợp lệ cho những người tham gia tố tụng, tại phiên tòa những người này vắng mặt, Kiểm sát viên, bị cáo đều đề nghị HĐXX tiếp tục xét xử vụ án, xét thấy đã có lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng trong hồ sơ vụ án và sự vắng mặt của những người này không làm ảnh hưởng đến quá trình xét xử, HĐXX căn cứ Điều 292, Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự xét xử vụ án theo quy định.

[3]. Về tội danh: Căn cứ lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng có đủ cơ sở kết luận: Trần Văn A làm nhân viên Cửa hàng kinh doanh hàng gia dụng, điện tử, điện lạnh Phương T2, địa chỉ số C, đường N, phường N, thành phố B do anh Lê Việt T làm Chủ hộ kinh doanh. Trần Văn A có nhiệm vụ đi giao hàng cho các cửa hàng trên địa bàn tỉnh Bắc Giang và thu tiền hàng nộp về cửa hàng vào cuối giờ chiều cùng ngày.

Từ tháng 5/2022 đến tháng 01/2023, Trần Văn A đã 06 lần thu tiền hàng của khách hàng trên địa bàn huyện S, tỉnh Bắc Giang nhưng sau mỗi lần thu tiền đều không nộp về cửa hàng mà giữ lại chi tiêu cá nhân, sau đó đi về nhà ở thành phố T và không trở lại làm việc. Tổng số tiền Trần Văn A chiếm đoạt của anh Lê Việt T là 62.917.000 đồng, bị cáo đã bồi thường toàn bộ số tiền trên cho người bị hại.

Như vậy có đủ căn cứ kết luận Trần Văn A phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” tội danh và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 175 của Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4]. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo đã lợi dụng sự tin tưởng của chủ sở hữu tài sản, bị cáo là người có nhiệm vụ đi giao hàng cho các cửa hàng trên địa bàn tỉnh Bắc Giang và thu tiền hàng về nộp lại cho cửa hàng, nhưng sau khi thu được tiền bị cáo không nộp lại tiền cho cửa hàng mà lấy tiền đi chi tiêu cá nhân, gây mất ổn định về trật tự an ninh tại địa phương, làm giảm niềm tin trong nhân dân, hành vi phạm tội của bị cáo phải được xử lý nghiêm trước pháp luật.

[5]. Đánh giá về nhân thân bị cáo thì thấy rằng: Bị cáo là người có nhân thân tốt, bản thân chưa có tiền án, tiền sự là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhưng bị cáo không nhận thức được việc làm của mình lợi dụng sự tin tưởng của chủ sở hữu tài sản nhiều lần chiếm đoạt tài sản của bị hại với lỗi cố ý, chứng tỏ bị cáo là người coi thường pháp luật. Vì vậy cần có một mức án tương xứng với

hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để có tác dụng giáo giục, cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt sống có ích cho gia đình và xã hội, vừa có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung trong xã hội.

[6]. Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: Bị cáo phạm tội hai lần trở lên, đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

[7]. Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra vụ án và tại phiên tòa bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn, hối cải và đã khắc phục hậu quả cho bị hại, ra đầu thú trước pháp luật, bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 52 của Bộ luật hình sự.

[8]. Về phần trách nhiệm dân sự: Bị hại là anh Lê Việt T4 mặt phiên tòa, khai trong quá trình điều tra vụ án đã được chị Lê Thị H là vợ bị cáo đã bồi thường cho anh số tiền 62.917.000 đồng, nay anh T không có yêu cầu bồi thường gì khác và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đối với chị Lê Thị H3 những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan khác trong vụ án đều không có yêu cầu gì về phần dân sự, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết về phần dân sự đối với bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án.

[9]. Về án phí: Bị cáo Trần Văn A4 chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

[10]. Về hình phạt bổ sung bằng tiền bị cáo, không có nghề nghiệp kinh tế gia đình khó khăn, do vậy không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

[11]. Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 175, điểm g khoản 1 Điều 52, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, của Bộ luật hình sự; Khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
  2. Xử phạt bị cáo Trần Văn A 02 (Hai) năm 03 (Ba) tháng tù về tội “ Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” thời hạn tù tính từ ngày 27/7/2023.

  3. Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
  4. Về trách nhiệm dân sự không đặt ra giải quyết.
  1. Về án phí: Bị cáo Trần văn A5 phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  2. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày Toà tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được kết quả tống đạt hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND Tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND thành phố Bắc Giang;
  • - Công an thành phố Bắc Giang;
  • - Chi cục THADS thành phố Bắc Giang;
  • - Bị cáo; bị hại, người liên quan;
  • - UBND xã phường nơi bị cáo cư trú;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Văn Tú

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 213/2023/HS-ST ngày 21/11/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 213/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger