Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THANH HÓA

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 213/2024/HSST

Ngày: 13/5/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA- TỈNH THANH HÓA

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Hào

Các hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Hạnh

2. Bà Lê Thị Oanh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Đình Tú - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện VKSND thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Lệ M - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 239/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 241/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 5 năm 2024, đối với bị cáo:

Lê Trọng Tuấn L - Sinh năm 2000 tại Thanh Hóa; Nơi cư trú: Số nhà A D, phường T, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Trọng Q và bà Trần Thị T; vợ: chưa; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ từ ngày 08/01/2024 đến ngày 17/01/2024 chuyển tạm giam; hiện bị cáo đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thành phố T, có mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trên cơ sở kết quả điều tra đã xác định được như sau:

Hồi 21h30' ngày 08/01/2024, Tổ công tác Công an thành phố T làm nhiệm vụ trước số nhà G, đường B, phường T, thành phố T (Quán game) phát hiện Lê Trọng Tuấn L có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy nên yêu cầu kiểm tra. Tại chỗ, Tổ công tác thu giữ 03 gúi nilong màu trắng, kích thước mỗi túi khoảng (3x5)cm, bên trong mỗi túi đều chứa cành lá khô dạng thảo mộc màu xanh, nâu do L lấy từ túi áo khoác bên phải đang mặc ra giao nộp và khai nhận đó là ma túy cần sa của L, cất giấu với mục đích bán kiếm lời.

Về nguồn gốc số ma túy trên, L khai nhận do không có thu nhập ổn định nên nảy sinh ý định mua ma túy cần sa về để bán lại kiếm lời. Khoảng 17h00' ngày 08/01/2024, L đi bộ một mình đến khu vực chân cầu N, phường Đ, thành phố T. Tại đây L gặp một người nam giới tên là H khoảng 30 tuổi (L không biết địa chỉ người này). L mua của người đàn ông này 04 túi ma túy dạng thảo mộc, kích thước khoảng (3x5)cm với giá 500.000đ. Sau khi mua được cần sa, L mang về nhà lấy 01 ít trong túi nilong ra ngoài bỏ vào cối kim loại hình trụ tròn, đường kính 3 cm, cao khoảng 3 cm xoay làm cho ma túy cần sa bên trong thành vụn nhỏ. Khoảng 20h00' ngày 08/01/2024, L cầm theo 04 túi nilong chứa ma túy cần sa và cối chứa ma túy cần sa đến quán G ở địa chỉ G Bà T, phường T, thành phố T, tại đây L gặp Vũ Việt K sinh năm 2000, trú tại số nhà C H, phường L, thành phố T và Nguyễn Đức L1 sinh năm 2000, trú tại số nhà D Đ, phường T, thành phố T ở khu vực để xe. Lúc này L bán cho Nguyễn Vũ Việt K1 01 gói ma túy cần sa với giá 250.000đ nhưng L cho K1 nợ trả tiền sau. Sau đó L lại chỗ hút thuốc lào, lấy cối chứa ma tuý cần sa trong túi áo ra xoay tròn rồi lấy một phần vụn ma tuý cần sa bên trong trộn với thuốc lào và bỏ vào nỏ điếu rồi dùng bật lửa đốt để hút, xong L đưa cối chứa ma tuý cần sa còn lại cho L1 sử dụng. L1 cầm cối lấy vụn ma tuý cần sa còn lại bên trong trộn với thuốc lào rồi đặt lên nỏ điếu, dùng bật lửa đốt hút. Sử dụng xong, L1 cất cối vào trong túi áo rồi đi vào quán chơi bị a.

Kết luận giám định số 158/KL-KTHS ngày 12/01/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh T kết luận:

  • - Cành lá khô dạng thảo mộc màu xanh, nâu trong 03 túi nilong thu giữ của L có tổng khối lượng 3,319g là ma tuý Cần sa.
  • - Cành lá khô dạng thảo mộc màu xanh, nâu trong 01 túi nilong thu giữ của K1 có tổng khối lượng 0,735g là ma tuý Cần sa.

Kết luận giám định số 915/KL-KTHS ngày 13/3/2024 của V Bộ C kết luận: Đều tìm thấy 9-carboxy-THC trong các mẫu nước tiểu ghi thu của Nguyễn Đức L1, Lê Trọng Tuấn L và Nguyễn Vũ Việt K1 gửi giám định. 9-carboxy-THC là sản phẩm chuyển hoá của chất ma tuý Delta-9-tetrahydrocanabinol và Cần sa trong cơ thể.

Tại bản cáo trạng số: 169/CT-VKS ngày 12/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thanh Hoá đã truy tố Lê Trọng Tuấn Linh về tội “Mua bán trái pháp chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 251 và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố; đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 251; khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 55, Điều 38 BLHS.

Mức hình phạt đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo từ 24 – 27 tháng tù về tội “Mua bán trái pháp chất ma tuý” và từ 24 – 27 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”. Tổng hợp hình phạt của hai tội từ 48 – 54 tháng tù.

Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị xử lý vật chứng và buộc bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không tranh luận gì với đại diện VKS.

Lời nói sau cùng bị cáo đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã được thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, các bị cáo không có ý kiến khiếu nại gì.

[2]. Về hành vi phạm tội:

Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 08/01/2024, trước số nhà G Bà T, phường T, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa, Lê Trọng Tuấn L đang có hành vi cất giấu trong người 3,319g ma túy cần sa, mục đích để bán kiếm lời thì bị Tổ công tác Công an thành phố T phát hiện, bắt quả tang. Trước khi bị phát hiện, L đã bán 0,735g ma tuý cần sa cho Nguyễn Vũ Việt K1 và đưa ma tuý loại cần sa cho Nguyễn Đức L1 sử dụng.

Lời khai của bị cáo tại phiên toà thống nhất với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận hành vi nêu trên của Lê Trọng Tuấn L có đủ các yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 251 và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự như cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hóa Thanh Hóa là đúng.

[3] Đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Hiện nay tệ nạn ma túy đang là hiểm họa cho toàn xã hội, là nguyên nhân làm suy thoái kinh tế, là một trong những tác nhân làm lây lan căn bệnh HIV/AIDS, làm ảnh hưởng đến sức khỏe và sự phát triển lành mạnh của giống nòi. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội. Vì vậy tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, cần phải xử lý nghiêm minh.

Bị cáo là người có tuổi đời còn trẻ, nhận thức rõ việc cho người khác sử dụng tái phép chất ma tuý cũng như việc bán trái phép chất ma tuý bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vì muốn kiếm tiền một cách nhanh nhất bị cáo vẫn cố ý thực hiện.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, có ông bà nội được tặng huân chương kháng chiến nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Căn cứ vào nhân thân, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và tính chất nghiêm trọng của tội phạm ma túy, cần áp dụng Điều 38 BLHS để cách ly các bị cáo khỏi cộng đồng xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung.

Bị cáo phạm hai tội, do đó khi quyết định hình phạt cần áp dụng khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là phù hợp.

Đối với người đàn ông tên H, L khai đã bán ma tuý cho L vào khoảng 17h00' ngày 08/01/2024 ở khu vực chân cầu N, phường Đ, thành phố T, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng không có người có đặc điểm như L khai báo. Ngoài lời khai của L không có tài liệu nào khác nên không có căn cứ để xác minh, xử lý.

Đối với Nguyễn Vũ Việt K1 có hành vi cất giấu 0.735g ma tuý cần sa nhằm mục đích sử dụng. Bản thân K1 chưa có tiền án, tiền sự liên quan đến ma tuý nên hành vi của K1 không cấu thành tội phạm. Ngoài ra, K1 khai nhận bản thân trước đó đã lấy ma tuý cần sa ra sử dụng một mình, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã chuyển xử phạt hành chính đối với Nguyễn Vũ Việt K1 về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và “Sử dụng trái phép chất ma tuý”.

Đối với Nguyễn Đức L1 được Lê Trọng Tuấn L cho ma tuý cần sa để sử dụng, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã chuyển xử phạt hành chính đối với Nguyễn Đức L1 về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý”.

[4] Về xử lý vật chứng: Toàn bộ số ma túy đựng trong 01 phong bì niêm phong còn lại sau giám định; 01 cối bằng kim loại, hình trụ đường kính khoảng 03 cm; 01 vỏ túi ni lon; 01 bật lửa ga; 01 ống tre bịt một đầu, trên thân đục lỗ tròn gắn 01 nỏ bằng gỗ (dạng điếu cày) là vật cấm lưu hành và không có giá trị sử dụng nên căn cứ khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự để tịch thu tiêu hủy.

[5] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí HSST qui định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; khoản 1 Điều 255; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 55 BLHS; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106; Điều 136 BLTTHS; điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo Lê Trọng Tuấn L phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”..

Xử phạt: Lê Trọng Tuấn L 27 (hai bảy) tháng tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” và 27 (hai bảy) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt của hai tội là 54 (năm tư) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08/01/2024.

Vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy các vật chứng gồm:

  • + Toàn bộ số ma túy đựng trong 01 phong bì niêm phong của phòng K2 Công an tỉnh T, có hình dấu của phòng K2, kèm chữ ký, chữ viết của Lê Minh T1, Trần Thị Thúy H1, Lê Quang A.
  • + 01 cối bằng kim loại, hình trụ đường kính khoảng 03 cm
  • + 01 vỏ túi ni lon.
  • + 01 bật lửa ga.
  • + 01 ống tre bịt một đầu, trên thân đục lỗ tròn gắn 01 nỏ bằng gỗ (dạng điếu cày)

Hiện số vật chứng trên đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa, theo biên bản giao nhận vật chứng số: 145/2024/THA ngày 24/4/2024 giữa Công an thành phố T với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa.

Án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Người tham gia tố tụng;
  • - TAND tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND TP. Thanh Hóa;
  • - Công an TPTH;
  • - Sở tư pháp tỉnh Thanh Hóa;
  • - Chi cục THADS TPTH;
  • - Nhà tạm giữ Công an TPTH;
  • - Lưu hồ sơ.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Phạm Văn Hào

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 213/2024/HSST ngày 13/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA - TỈNH THANH HÓA về vụ án hình sự về tội mua bán trái phép chất ma tuý và tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 213/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Mua bán trái phép chất ma tuý và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA - TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tôi Mua bán trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger