TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 213/2024/HS-ST Ngày 05-9-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Phương
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Lý Thị Thiên Nga
Bà Nguyễn Thị Tư
- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Đức Huy - Thư ký Toà án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Bùi Quốc Huy - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 198/2024/TLST-HS ngày 07 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 527/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn S, sinh ngày 20 tháng 3 năm 1990 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Số C đường P, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn S1 (đã chết) và bà Trịnh Thị H (đã chết); chưa có vợ con; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Tại Bản án số 16/2015/HSST ngày 11/5/2015, Tòa án nhân dân quận Hải An xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Tại Bản án số 108/2020/HSST ngày 24/9/2020 của Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền xử phạt 15 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (đều xóa án tích); bị tạm giữ từ ngày 23/4/2024, đến ngày 27/4/2024 chuyển tạm giam; có mặt.
- Bị hại:
+ Anh Nguyễn Công D, sinh năm: 2004; Nơi thường trú: Đại Thắng, xã N, huyện K, thành phố Hải Phòng; nơi ở: Số A đường Đ, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
+ Anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm: 1990. Nơi thường trú: xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình; nơi ở: Tổ C Cụm E phường Đ, quận N, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
+ Anh Ngô Văn B, sinh năm: 2004. Nơi thường trú: P, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; nơi ở: Tổ B phường Đ, quận N, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do không có tiền chi tiêu cá nhân nên Nguyễn Văn S nảy sinh ý định đi đến các khu nhà trọ xem có ai sơ hở thì trộm cắp tài sản, cụ thể:
Khoảng 04 giờ ngày 21/11/2023, S đi bộ từ nhà đến ngõ E P, Đ, H, Hải Phòng thấy khu vực nhà trọ cuối ngõ có 01 xe mô tô Honda AirBlade màu đen, biển kiểm soát 15F1-374.21 của anh Nguyễn Công D (sinh năm: 2004, nơi thường trú: Đại Thắng, N, K, Hải Phòng, nơi ở: Số A Đà Nẵng, Đ, H, Hải Phòng) dựng trong sân khu trọ. Quan sát xung quanh không có người, S tiến sát về phía chiếc xe kiểm tra thấy xe không khóa cổ, S đã dắt chiếc xe về nhà cất giấu. Sau đó, S thuê người đánh chìa khóa chiếc xe và sử dụng xe làm phương tiện đi lại.
Khoảng 04 giờ 30 phút ngày 17/4/2024, S đi bộ từ nhà đến khu nhà trọ ở Tổ C Đ, N, Hải Phòng thấy trong sân khu trọ có dựng 01 xe mô tô Honda Wave S màu xanh, biển kiểm soát 17M5-0826 của anh Nguyễn Văn Đ (sinh năm: 1990, nơi thường trú: Q, Q, Thái Bình, nơi ở: Tổ 30 Cụm E Đ, N, Hải Phòng). Quan sát không có người trông coi, S lại gần xe, thấy xe không khóa cổ. S dắt xe về nhà cất giấu.
Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 18/4/2024, S đi bộ đến khu nhà trọ ở Tổ B Đ, N, Hải Phòng thấy khu trọ không khóa cổng ngoài, S mở cổng đi vào bên trong. Các phòng trọ đều khóa cửa và có 03 chiếc xe mô tô, 01 chiếc xe đạp để ở khu vực sân chung của dãy trọ, trong đó chiếc xe mô tô Yamaha Sirius màu xám đen, biển kiểm soát: 36C2-102.47 của anh Ngô Văn B (sinh năm: 2004, nơi thường trú: P, Trường M, N, Thanh Hóa, nơi ở: Tổ B Đ, N, Hải Phòng) dựng ở phía ngoài gần lối ra vào, không khóa cổ nên S dắt chiếc xe ra khỏi khu trọ đi theo hướng đường bờ mương Cầu T ra đường Đ để tìm thợ phá khóa điện. Khi S đang dắt xe đến ngõ B Đà Nẵng thì bị ông Phạm Công T (sinh năm: 1958, nơi cư trú: Số D tập thể XD/2/278 Đà Nẵng, V, N, Hải Phòng) phát hiện, nghi ngờ S trộm cắp nên đã yêu cầu S dùng lại nhưng S không dừng. Ông T hô hoán để người dân giữ S lại nhưng S đã bỏ lại chiếc xe và chạy thoát. Ông T đã mang chiếc xe trên đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận N giao nộp. Cùng ngày, anh B đã đến Công an phường Đ trình báo sự việc trên.
Đến ngày 23/4/2024, Nguyễn Văn S đến Cơ quan điều tra đầu thú, khai nhận hành vi trộm cắp tài sản ngày 18/4/2024. Ngoài ra S còn khai nhận đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản vào các ngày 21/11/2023 và 17/4/2024. S giao nộp 01 xe mô tô Honda AirBlade màu đen, biển kiểm soát 15F1-374.21 đã qua sử dụng (không có giấy tờ đăng ký xe), là tài sản trộm cắp được từ ngày 21/11/2023.
2
Vật chứng thu giữ: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave S màu xanh, biển kiểm soát 17M5-0826 đã qua sử dụng.
Ngày 07/5/2024 và ngày 14/6/2024, anh Nguyễn Công D và anh Nguyễn Văn Đ đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận N trình báo về sự việc nêu trên.
Kết luận định giá số 19/KL-HĐĐGTS ngày 25/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản - UBND quận N kết luận: 01 xe mô tô Yamaha Sirius, biển kiểm soát 36C2-102.47 đã qua sử dụng, đến thời điểm bị xâm hại có giá 15.800.000 đồng (bút lục 38).
Kết luận định giá số 33/KL-KTHS ngày 24/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản - UBND quận N kết luận: 01 xe mô tô Honda AirBlade màu đen, biển kiểm soát 15F1-374.21 đã qua sử dụng, đến thời điểm bị xâm hại có giá 33.000.000 đồng; 01 xe mô tô Honda Wave S màu xanh, biển kiểm soát 17M5-0826 đã qua sử dụng, đến thời điểm bị xâm hại có giá 6.000.000 đồng (bút lục 39).
Tổng giá trị tài sản bị xâm hại có giá 54.800.000 đồng.
Về đồ vật, tài sản bị tạm giữ, xử lý vật chứng: Đối với 03 xe mô tô đã tạm giữ, kết quả xác minh và kết luận giám định thẻ hiện: Xe mô tô Honda AirBlade màu đen, biển kiểm soát 15F1-374.21 đã qua sử dụng, tên chủ xe là Nguyễn Công D; Xe mô tô Honda Wave S màu xanh, biển kiểm soát 17M5-0826 đã qua sử dụng tên chủ xe là Nguyễn Văn N (sinh năm: 1963, nơi cư trú: Đ, Q, Q, Thái Bình – ông N đã giao xe cho con trai là anh Nguyễn Văn Đ quản lý, sử dụng); Xe mô tô Yamaha Sirius, biển kiểm soát 36C2-102.47 đã qua sử dụng, tên chủ xe là Ngô Văn B, có số khung, số máy là số nguyên thủy của nhà sản xuất đóng, không bị tẩy xóa hoặc sửa chữa các ký tự. Ngày 20/7/2024, cơ quan Điều tra đã xử lý, trả lại những chiếc xe trên cho anh B, anh D, anh Đ.
Về trách nhiệm dân sự: Các Bị hại anh Nguyễn Công D; Nguyễn Văn Đ, Ngô Văn B đã được nhận lại tài sản và không có yêu cầu nào khác.
Tại Bản Cáo trạng số 202/CT-VKS ngày 07/8/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn S về tội "Trộm cắp tài sản" theo điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn S khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.
3
Bị hại anh Nguyễn Công D; Nguyễn Văn Đ, Ngô Văn B vắng mặt tại phiên toà nhưng đã có lời khai có trong hồ sơ thể hiện đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu nào khác.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về trách nhiệm hình sự: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm r, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S mức án từ 42 đến 48 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản".
- Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập không ổn định nên không buộc bị cáo phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
- Về việc bồi thường thiệt hại: Bị hại anh Nguyễn Công D; Nguyễn Văn Đ, Ngô Văn B đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu nào khác nên không xem xét giải quyết.
- Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:
[1] Việc khởi tố, điều tra, truy tố và ban hành quyết định khởi tố, truy tố; áp dụng biện pháp ngăn chặn; tống đạt các văn bản tố tụng; lấy lời khai của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác; thời hạn điều tra, truy tố trong tố tụng hình sự đã đảm bảo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Về căn cứ xác định tội danh và điều luật áp dụng đối với bị cáo:
[2] Căn cứ vào lời khai của bị cáo tại phiên tòa, lời khai của những người làm chứng có trong hồ sơ vụ án và vật chứng thu giữ có đủ cơ sở kết luận: Vào các ngày 21/11/2023, 17/4/2024 và 18/4/2024, Nguyễn Văn S đã ba lần thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản với tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt, cụ thể: Lần thứ nhất S lén lút chiếm đoạt của anh Nguyễn Công D 01 xe mô tô Honda Airblade; Lần thứ hai, S lén lút chiếm đoạt của anh Nguyễn Văn Đ 01 xe mô tô Wave S; Lần thứ ba, S lét lút chiếm đoạt của anh Ngô Văn B 01 xe mô tô Yamaha Sirius. Theo Kết luận định giá số 19/KL-HĐĐGTS ngày 25/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản - UBND quận N kết luận: 01 xe mô tô Yamaha Sirius, biển kiểm soát 36C2-102.47 đã qua sử dụng, đến thời điểm bị xâm hại có giá 15.800.000 đồng; Kết luận định giá số 33/KL-KTHS ngày 24/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản - UBND quận N kết luận: 01 xe mô tô Honda AirBlade màu đen, biển kiểm soát 15F1-374.21 đã qua sử dụng, đến thời điểm bị xâm hại có giá 33.000.000 đồng; 01 xe mô tô Honda Wave S màu xanh, biển kiểm soát 17M5-0826 đã qua sử dụng, đến thời điểm bị xâm hại có giá 6.000.000 đồng.Tổng giá trị tài sản bị xâm hại có giá 54.800.000 đồng. Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn S đã đủ yếu tố cầu thành tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
4
[3] Việc truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng đối với bị cáo Nguyễn Văn S về tội danh và điều luật áp dụng là có cơ sở và đúng quy định của pháp luật.
[4] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân mà còn xâm phạm trật tự công cộng, gây mất trị an xã hội. Vì vậy, cần thiết bắt bị cáo cách ly xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục.
- Về tình tiết tăng nặng:
[5] Bị cáo chiếm đoạt tài sản của các bị hại vào các ngày 21/11/2023, 17/4/2024 và 18/4/2024 nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
- Về nhân thân và tình tiết giảm nhẹ:
[6] Nhân thân bị cáo có 02 tiền án về tội trộm cắp tài sản đã được xoá án tích, thể hiện bị cáo có nhân thân xấu. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tài sản đã được thu hồi trả lại cho bị hại; bị cáo đã đến cơ quan công an đầu thú, tự thú là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Nguyễn Công D; Nguyễn Văn Đ, Ngô Văn B đã nhận lại tài sản, không yêu cầu nào khác nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về hình phạt bổ sung:
[8] Do nghề nghiệp và thu nhập của bị cáo không ổn định nên không buộc bị cáo phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
- Về vật chứng của vụ án:
[9] Tài sản đã trả lại cho bị hại nên không xem xét giải quyết.
- Về án phí:
5
[10] Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14; bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 136; khoản 1 Điều 333; khoản 1 Điều 337 Bộ luật Tố tụng hình sự,
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S 42 (bốn mươi hai) tháng tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23 tháng 4 năm 2024.
- Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14, bị cáo Nguyễn Văn S phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo đối với bản án:
Bị cáo Nguyễn Văn S được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Bị hại anh Nguyễn Công D, Nguyễn Văn Đ, Ngô Văn B được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Thu Phương |
6
7
Bản án số 213/2024/HS-ST ngày 05/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về vụ án hình sự về tội trộm cắp tài sản
- Số bản án: 213/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Sơn
