|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG Bản án số: 213/2025/HS-ST Ngày 30-6-2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Phạm Văn Tuyên.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phan Văn Cường;
2. Bà Nguyễn Thị Kim Hoa.
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Việt Hà - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Hoa, Kiểm sát viên.
Vào các ngày 26 và 30 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 181/2025/TLST-HS ngày 28 tháng 5 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 219/2025/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 6 năm 2025 đối với các bị cáo:
- Phan Phú T, sinh năm 1999 tại Thành phố Hồ Chí Minh; thường trú: số I, ấp P, xã A, huyện C, tỉnh Bến Tre; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: lớp 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Ngọc L, sinh năm 1976 và bà La Tuyết L1, sinh năm 1979; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự, nhân thân: không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/02/2023 đến nay, có mặt.
- Trần Văn Đ, sinh năm 2002 tại tỉnh Bến Tre; thường trú: ấp V, xã Q, huyện B, tỉnh Bến Tre; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn L2, sinh năm 1966 và bà Phan Thị Kim D, sinh năm 1972; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự, nhân thân: không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/02/2023 đến nay, có mặt.
- Nguyễn Thanh D1, sinh năm 1991 tại tỉnh Đồng Nai. Thường trú: số 156/36/8, khu phố C, phường Q, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Thợ trang điểm; trình độ học vấn: lớp 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Trúc S, sinh năm 1966 và bà Phạm Ngọc N, sinh năm 1967; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự, nhân thân: không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/11/2023 đến nay, có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Hoàng Thu H, sinh năm 1974. Địa chỉ: số B, B, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Bà La Tuyết L1, sinh năm 1978. Địa chỉ: Số A, L, khu phố A, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, có mặt.
- Ông Lê Thiên P, sinh năm 1989. Địa chỉ: số E, đường D, Phường A, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Người làm chứng:
- Ông Lê Công A, sinh năm 1994, có mặt.
- Ông Trịnh Anh K, sinh năm 1999, có mặt.
- Bà Nguyễn Thị Minh T1, sinh năm 1995, có mặt.
- Bà Châu Quỳnh T2, sinh năm 1994, có mặt.
- Người chứng kiến: Ông Mai Văn T3, sinh năm 1993, vắng mặt.
Người bào chữa cho bị cáo Phan Phú T: Bà Nguyễn Thị Lệ K1 – Luật sư Công ty L3 Luật thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H. Địa chỉ: số B, Đ, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thanh D1: Ông Hoàng Liên S1 – Luật sư Văn phòng L4 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Đ. Địa chỉ: B, đường N, Tổ A, khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Văn Đ, Phan Phú T, Nguyễn Thị Minh T1, Trịnh Anh K, Lê Công A, Châu Quỳnh T2 (là bạn gái của Công A) và Nguyễn Thanh D1 là bạn bè quen biết nhau. Nguyễn Thanh D1, Trần Văn Đ và Thi Vũ K2 thuê căn hộ B1.34.06 chung cư O, khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương để sống chung với nhau từ ngày 06/01/2023. Ngày 02/02/2023, K2 đi làm không ở nhà.
Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 02/02/2023, T, Minh T1, cùng K và Công A uống rượu tại quán “Ốc Sữa” trên đường Đ, quận B, thành phố Hồ Chí Minh. Trong quá trình uống rượu, T rủ K và Công A rủ nhau xuống chung cư O thuộc khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương của Nguyễn Thanh D1 để nhậu tiếp. Sau khi uống rượu tại quán “Ốc Sữa” xong, K đón xe G đến chung cư O thuộc khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Đến nơi, Đ đi xuống mua hai chai nước ngọt và đón K lên phòng số B1.34.06 thuộc chung cư O thuộc khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Cùng lúc này, T điều khiển xe Honda, số loại SH150i, màu đỏ đen, biển số 50N1-67842 chở Minh T1 về chỗ ở của T tại số C, B, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Tại đây, T lấy 01 (một) túi nylon miệng kéo dính chứa 04 viên thuốc lắc màu hồng và 01 (một) túi nylon miệng kéo dính chứa tinh thể màu trắng rồi cất giấu vào bóp (việc lấy ma túy thì T1 không biết). Sau đó, T điều khiển xe chở T1 đến căn hộ B Chung cư O. Khi T đến chung cư thì Đ xuống đón T và T1 lên căn hộ. Khi vào bên trong căn hộ thì thấy D1 và K bên trong. Riêng Công A sau khi uống rượu xong, Công A điều khiển xe Honda, SH 150i màu trắng, đen, biển số 59E1-914.37 chở Quỳnh T2 về nhà tại địa chỉ số E, đường B, khu phố D, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai để lấy quần áo. Lúc này, Công A lấy một túi nylon miệng kéo dính bên trong chứa tinh thể màu trắng cất vào trong túi quần đùi bên phải (việc Công A cất giấu túi ma túy Quỳnh Thư không biết). Sau đó, Công A chở Quỳnh T2 đi đến Chung cư O. Khi đến chung cư, Đ đi xuống đón Công A và Quỳnh T2 lên căn hộ. Khi vào trong phòng ngủ, Công A lấy túi nylon miệng kéo dính bên trong chứa tinh thể màu trắng để trên bàn gỗ (việc Công A để túi nylon miệng kéo dính thì không ai thấy và cũng không nói cho ai biết). T đi xuống bếp lấy một đĩa sành rồi mang vào phòng ngủ thì nhìn thấy một túi nylon miệng kéo dính chứa tinh thể màu trắng để trên bàn gỗ (là ma túy của Công A mang đến). T mang đĩa và túi nylon miệng kéo dính chứa tinh thể màu trắng đến bếp đổ một ít ra đĩa, dùng bếp gas để nấu rồi dùng thử nhưng cảm nhận không đảm bảo chất lượng nên T đã đổ bỏ vào bồn cầu, túi nylon miệng kéo dính bên trong chứa ma túy còn lại Trọng bỏ lên trên bàn gỗ. Tiếp đó, T lấy túi nylon miệng kéo dính chứa tinh thể màu trắng của T mang theo cho hết vào đĩa rồi nấu trên bếp gas, T lấy thẻ ngân hàng mang tên PHAN PHU TRONG trong túi ra rồi cà nhuyễn ma túy đã nấu và chia một đường rồi dùng thử. Tiếp theo, T lấy túi nylon bên trong chứa thuốc lắc bẻ lấy khoảng 2,5 viên cho vào ly rồi rót nước Coca vào ly, riêng Trọng nhai và nuốt một viên thuốc lắc, nửa viên thuốc lắc còn lại Trọng bỏ lên trên bàn gỗ. T dùng thẻ ngân hàng chia ma túy trên đĩa thành nhiều đường để cho mọi người sử dụng. Lúc này, Đ sử dụng tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng cuộn thành ống hút làm dụng cụ sử dụng ma túy. Lần lượt, T đưa ly nước ngọt bên trong có pha thuốc lắc và ma túy trên đĩa cho Minh T1, Q, K, Công A, D1 và Đ sử dụng. Lúc 03 giờ 10 phút ngày 03/02/2023, Đ và D1 đi xuống căn hộ lấy bóng cười để sử dụng thì gặp Công an phường A phối hợp với Đội Cảnh sát kinh tế - ma túy Công an thành phố D đang kiểm tra hành chính nên D1 bỏ chạy còn Đ bị phát hiện có dấu hiệu sử dụng chất ma túy nên lực lượng Công an yêu cầu dẫn lên căn hộ B1.34.06 để kiểm tra. Quá trình kiểm tra phát hiện Phan Phú T, Nguyễn Thị Minh T1, Trịnh Anh K, Lê Công A, Châu Quỳnh T2 có biểu hiện sử dụng trái phép chất ma túy. Phát hiện thu giữ: 01 đĩa sứ còn chứa một ít Ketamine được Công an thu giữ và bảo quản trong một túi nylon, 01 ống hút làm bằng tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng (bị hư hỏng), 01 thẻ ngân hàng mang tên PHAN PHU TRONG, 01 túi nylon chứa một phần viên nén màu hồng, 01 túi nylon miệng kéo dính chứa tinh thể màu trắng, 01 ly, 01 loa nghe nhạc, 01 đèn led nên lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và lập hồ sơ chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D xử lý theo thẩm quyền.
* Tại Kết luận giám định số 66 ngày 10/02/2023 của Phòng K4 Công an tỉnh B, kết luận như sau: Tinh thể màu trắng và chất màu trắng, gửi giám định đều là ma tuý loại Ketamine, có khối lượng: 0,2861 gam (M1); 0,3727 gam (M2-2) và mẫu một phần viên nén màu hồng, gửi giám định là ma tuý, loại MDMA, có khối lượng: 0,2392 gam (M2-1).
* Tại Kết luận giám định số 471 ngày 31/8/2023 của Phòng K4 Công an tỉnh B, kết luận: Trong mẫu vật A gửi giám định trích xuất được: 142 tin nhắn Zalo giữa tài khoản đang đăng nhập với tài khoản “Ryan-DFM”; 11 tin nhắn Zalo giữa tài khoản đang đăng nhập với tài khoản “Gold béo”; không tìm thấy tin nhắn tên YEW P, Nguyễn Hoàng D2 trong ứng dụng Zalo thời gian từ 31/01/2023 đến 03/02/2023; không trích xuất được tin nhắn ứng dụng Messenger.
* Vật chứng thu giữ:
- 01 đĩa sứ còn chứa một ít Ketamine bị thu giữ và bảo quản trong một túi nylon.
- 01 ống hút làm bằng tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng (bị hư hỏng).
- 01 thẻ ngân hàng V màu đen mang tên PHAN PHU TRONG.
- 01 túi nylon chứa một phần viên nén màu hồng.
- 01 ly nhựa có chữ E; một chai nhựa có chữ Pepsi màu xanh loại 1,5l không chứa gì bên trong.
- 01 đèn chiếu Party Light, 01 đèn Laser L.
- 01 loa nhạc hiệu Harman 01 loa nghe nhạc.
- 01 túi nylon miệng kéo dính chứa tinh thể màu trắng, ký hiệu M1 (ma túy của Công A mang đến).
- 01 xe môtô 02 bánh hiệu Honda, số loại SH150i biển số 50N1-67842.
- 01 xe Honda, SH 150i màu trắng, đen, biển số 59E1-914.37.
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax màu xanh, sim số 0972.747.077.
- USB ghi hình có âm thanh hỏi cung bị can T (lưu trong hồ sơ).
* Về xử lý vật chứng:
- Đối với ma tuý còn lại sau giám định: M1=0,2527 gam, M2-2=0,3047 gam; 01 đĩa sành; 01 thẻ ATM Ngân hàng V màu đen mang tên PHAN PHU TRONG; 01 ly nhựa có chữ E không chứa gì bên trong; 01 túi nylon miệng kéo dính (không có gì bên trong) các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội không còn giá trị sử dụng nên đề nghị tịch thu tiêu hủy.
- Đề nghị tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 tờ tiền 20.000 đồng được cuộn tròn thành ống hút (không còn nguyên vẹn); 01 đèn chiếu Party Light, 01 đèn Laser L; 01 loa nhạc hiệu Harman do các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội.
- Đối với xe môtô 02 bánh hiệu Honda, số loại SH150i, màu đỏ đen biển số 50N1-67842, qua xác minh xác định chủ sở hữu là bà La Tuyết L1 (mẹ ruột của Phan Phú T). Bà L1 cho T mượn xe làm phương tiện đi lại và không biết việc T sử dụng xe vào việc phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả xe cho bà La Tuyết L1.
Đối với Thi Vũ K2 không biết việc Nguyễn Thanh D1 và Trần Văn Đ sử dụng căn hộ B1.34.06 chung cư O để tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D không đề nghị xử lý.
Đối với bà Hoàng Thị H1 là chủ của căn hộ B1.34.06 chung cư O, khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Bà H1 cho Nguyễn Thanh D1, Trần Văn Đ và T4 Vũ Kha thuê để sống chung từ ngày 06/01/2023. Bà H1 không biết việc D1 và Đ sử dụng căn hộ trên để tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D không đề nghị xử lý.
Đối với anh Lê Thiên P là chủ sở hữu của xe H2, SH 150i màu trắng, đen biển số 59E1-914.37. Anh P cho Lê Công A mượn xe làm phương tiện đi lại và không biết việc Công A sử dụng xe vào việc tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D không đề nghị xử lý.
Đối với Lê Công A có hành vi mang theo một túi nylon miệng kéo dính chứa tinh thể màu trắng mục đích để sử dụng riêng, việc Công A mang theo ma túy không nói cho ai biết, Phan Phú T tự động lấy gói ma túy Công A mang theo để sẵn trên góc bàn để sử dụng thì T không hỏi Công A và Công A cũng không biết. Ma túy còn lại có trọng lượng 0,2861 gam Ketamine không đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tuy nhiên, Công A có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D đã ra quyết định xử phạt hành chính số tiền 5.000.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý theo khoản 1, Điều 23 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ.
Đối với Nguyễn Thị Minh T1, Châu Quỳnh T2 và Trịnh Anh K có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D đã ra Quyết định xử phạt hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý theo khoản 1, Điều 23 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ.
Tại cáo trạng số: 04/CT-VKS-DA ngày 05 tháng 12 năm 2024, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố các bị cáo Phan Phú T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 và điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự; bị cáo Trần Văn Đ và bị cáo Nguyễn Thanh D1 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255 và điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt bị cáo Phan Phú T từ 07 năm 06 tháng tù đến 08 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và từ 01 năm 09 tháng tù đến 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Phan Phú T phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội từ 09 năm 03 tháng tù đến 10 năm tù.
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Văn Đ từ 07 năm 03 tháng đến 07 năm 09 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh D1 từ 07 năm 06 tháng tù đến 08 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
* Về xử lý vật chứng:
- Đề nghị tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bì thư được niêm phong ghi số vụ: 66/PC09 (M1) chứa Ketamine còn lại sau giám định có khối lượng: M1 = 0,2527 gam; 01 (một) bì thư được niêm phong ghi số vụ: 66/PC09 (M2) chứa Ketamine còn lại sau giám định có khối lượng: M2-2 = 0,3047 gam, MDMA còn lại sau giám định có khối lượng: M2-1=0,00 gam; 01 đĩa sành; 01 thẻ ATM V màu đen mang tên PHAN PHU TRONG (bị hư hỏng); 01 ly nhựa hiệu Eleven.
- Đề nghị tịch thu nộp ngân sách Nhà nước đối với: 01 tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng (bị hư hỏng); 01 đèn chiếu hiệu Party Light; 01 đèn Laser Light System; 01 loa nghe nhạc hiệu Harman.
- Đề nghị trả lại cho bị cáo Nguyễn Thanh D1 01 điện thoại hiệu Iphone 13 Promax, màu trắng kèm theo sim số 0797901077.
- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 Pro max, màu xanh thu giữ của bị cáo Phan Phú T là công cụ, phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội. Tuy nhiên, hiện nay đang bị thất lạc do quá trình lưu giữ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra sẽ tiến hành truy tìm và xử lý sau.
Người bào chữa cho bị cáo Phan Phú T là bà Nguyễn Thị Lệ K1 trình bày:
Thống nhất về tội danh mà Viện kiểm sát truy tố, tuy nhiên đề nghị Hội đồng xét xử khi quyết định hình phạt cần xem xét đến tích chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo T, các bị cáo khác và bạn bè sử dụng ma túy tại căn hộ là vô ý, không có tính chất tinh vi, không có sự phân công nhiệm vụ, không cấu kết chặt chẽ, tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, gia đình bị cáo có công với cách mạng trong đó ông nội của bị cáo là Nguyễn C là liệt sĩ, được trao tặng Huân chương kháng chiến hạng nhất; bà nội của bị cáo là Phan Thị K3 được trao tặng Kỷ niệm chương chiến sĩ cách mạng bị địch bắt, tù đày. Ngoài ra, bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, trước khi bị bắt bị cáo là lao động chính trong gia đình, bị bắt bị cáo là người nuôi dưỡng mẹ bị cáo đang bị bệnh, ngoài lần phạm tội này thì bị cáo luôn chấp hành tốt pháp luật của Nhà nước. Từ những căn cứ trên đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thanh D1 là ông Hoàng Liên S1 trình bày:
Thống nhất về tội danh mà Viện kiểm sát truy tố, tuy nhiên đề nghị Hội đồng xét xử khi quyết định hình phạt cần xem xét đến tích chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Trong vụ án này bị cáo Nguyễn Thanh D1 tham gia đồng phạm với vai trò bị động, bị cáo không biết bị cáo T mang theo ma túy và pha chế ma túy cho người khác sử dụng tại căn hộ của bị cáo. Mặc dù bị cáo biết các bị cáo khác và bạn bè có sử dụng ma túy tại căn hộ của bị cáo nhưng bị cáo không ngăn cản, D1 tiếp nhận hành vi đồng phạm một cách thụ động. Ngoài ra, bị cáo là lao động chính trong gia đình, cha bị cáo rời bỏ gia đình khi bị cáo còn nhỏ, một mình mẹ bị cáo nuôi hai anh em lớn lên, anh bị cáo đã chết, bị cáo là lao động chính trong gia đình để nuôi mẹ già và bà nội già yếu. Tại phiên tòa bị cáo thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Từ những căn cứ trên đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Các bị cáo không tranh luận, trong lời nói sau cùng các bị cáo Phan Phú T, Trần Văn Đ, Nguyễn Thanh D1 thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo để các bị cáo sớm trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố D, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, người bào chữa cho các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
-
Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương đã truy tố đối với các bị cáo. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với những tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận:
Ngày 03/02/2023, bị cáo Phan Phú T đã có hành vi cung cấp ma túy cho Nguyễn Thanh D1, Lê Công A, Nguyễn Thị Minh T1, Châu Quỳnh T2, Trịnh Anh K, Trần Văn Đ sử dụng ma túy tại căn hộ B chung cư O, khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương của Nguyễn Thanh D1, Trần Văn Đ. Ngoài ra Phan Phú T còn có hành vi tàng trữ ma túy với khối lượng là 0,3727 gam loại Ketamine và 0,2392 gam MDMA. Hành vi nêu trên của bị cáo Phan Phú T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “ Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 và điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Cáo trạng Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Phan Phú T với tội danh, điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Ngày 03/02/2023, bị cáo Trần Văn Đ và bị cáo Nguyễn Thanh D1 đã có hành vi sử dụng căn hộ B1.34.06 chung cư O, khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương để cho Nguyễn Thanh D1, Lê Công A, Nguyễn Thị Minh T1, Châu Quỳnh T2, Trịnh Anh K, Phan Phú T sử dụng trái phép chất ma túy. Hành vi sử dụng căn hộ của mình thuê cho các đối tượng khác sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo Trần Văn Đ và bị cáo Nguyễn Thanh D1 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Cáo trạng Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Trần Văn Đ và bị cáo Nguyễn Thanh D1 với tội danh, điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
- Hành vi phạm tội mà các bị cáo đã thực hiện là rất nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý các chất gây nghiện của Nhà nước. Về nhận thức, các bị cáo biết ma túy (loại Ketamine và MDMA) là loại chất gây nghiện nguy hiểm do Nhà nước độc quyền và thống nhất quản lý. Các bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự nhận thức rõ hành vi tàng trữ, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, để có tác dụng tuyên truyền, giáo dục ý thức tuân theo pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục đối với các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cần xem xét đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo.
- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: các bị cáo không có.
- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo. Đối với bị cáo Phan Phú T có ông nội, bà nội là người có công với các mạng trong đó ông nội Nguyễn C là liệt sĩ do tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước, được trao tặng Huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng nhất; bà nội Phan Thị K3 được trao tặng Kỷ niệm chương chiến sĩ cách mạng bị địch bắt, tù đày nên Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Phan Phú T.
- Đối với Lê Công A có hành vi mang theo một túi nylon miệng kéo dính chứa tinh thể màu trắng mục đích để sử dụng riêng, việc Công A mang theo ma túy không nói cho ai biết, Phan Phú T tự động lấy gói ma túy Công A mang theo để sẵn trên góc bàn để sử dụng thì T không hỏi Công A và Công A cũng không biết. Khối lượng ma túy còn lại là 0,2861 gam Ketamine không đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D đã ra quyết định xử phạt hành chính số tiền 5.000.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý theo khoản 1, Điều 23 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
- Đối với Nguyễn Thị Minh T1, Châu Quỳnh T2 và Trịnh Anh K có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D đã ra Quyết định xử phạt hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý theo khoản 1, Điều 23 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
- Đối với Thi Vũ K2 là người cùng thuê căn hộ B1.34.06 chung cư O với Nguyễn Thanh D1 và Trần Văn Đ không biết việc Phan Phú T và đồng phạm tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D không đề nghị xử lý là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
-
Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 (một) bì thư được niêm phong ghi số vụ: 66/PC09 (M1) chứa Ketamine còn lại sau giám định có khối lượng: M1 = 0,2527 gam; 01 (một) bì thư được niêm phong ghi số vụ: 66/PC09 (M2) chứa Ketamine còn lại sau giám định có khối lượng: M2-2 = 0,3047 gam, MDMA còn lại sau giám định có khối lượng: M2-1=0,00 gam, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 đĩa sành; 01 thẻ ATM V màu đen mang tên PHAN PHU TRONG (bị hư hỏng); 01 ly nhựa hiệu Eleven. Xét thấy, đây là công cụ phương tiện phạm tội không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy.
- Đối với 01 tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng (bị hư hỏng); 01 đèn chiếu hiệu Party Light; 01 đèn Laser Light System; 01 loa nghe nhạc hiệu Harman. Xét thấy, đây là công cụ, phương tiện các bị cáo dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 Pro max, màu xanh thu giữ của bị cáo Phan Phú T là công cụ, phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội. Tuy nhiên, hiện nay đang bị thất lạc do quá trình lưu giữ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra sẽ tiến hành truy tìm và xử lý sau.
- Đối với 01 điện thoại hiệu Iphone 13 Promax, màu trắng kèm theo sim số 0797901077 thu giữ của bị cáo Nguyễn Thanh D1. Xét thấy, đây là tài sản cá nhân của bị cáo, không liên quan đến việc thực hiện hành vi phạm tội nên Hội đồng xét xử trả lại tài sản cho bị cáo.
- Xét đề nghị Viện Kiểm sát về hình phạt đối với bị cáo Trần Văn Đ là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận. Xét đề nghị Viện Kiểm sát về hình phạt đối với bị cáo Phan Phú T và bị cáo Nguyễn Thanh D1 là nặng nên Hội đồng xét xử sẽ quyết định mức hình phạt nhẹ hơn mức đề nghị của đại diện đại diện Viện Kiểm sát.
- Án phí sơ thẩm: các bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 298, 299, 326, 327, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tuyên bố bị cáo Phan Phú Trọng phạm T5 “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; bị cáo Trần Văn Đ và Nguyễn Thanh D1 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
-
Về hình phạt:
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255 và điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 55; Điều 58 của Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt bị cáo Phan Phú T 07 (bảy) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Phan Phú T phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 08 (tám) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 03/02/2023.
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Văn Đ 07 (bảy) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 03/02/2023.
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh D1 07 (bảy) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24/11/2023.
-
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bì thư được niêm phong ghi số vụ: 66/PC09 (M1) chứa Ketamine còn lại sau giám định có khối lượng: M1 = 0,2527 gam; 01 (một) bì thư được niêm phong ghi số vụ: 66/PC09 (M2) chứa Ketamine còn lại sau giám định có khối lượng: M2-2 = 0,3047 gam, MDMA còn lại sau giám định có khối lượng: M2-1=0,00 gam; 01 đĩa sành; 01 thẻ ATM V màu đen mang tên PHAN PHU TRONG (bị hư hỏng); 01 ly nhựa hiệu Eleven.
- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước đối với: 01 tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng (bị hư hỏng); 01 đèn chiếu hiệu Party Light; 01 đèn Laser Light System; 01 loa nghe nhạc hiệu Harman.
(Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 12/10/2023, giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố D với Chi cục thi hành án dân sự thành phố Dĩ An)
- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thanh D1 01 điện thoại hiệu Iphone 13 Promax, màu trắng, số Imei 352051693013283, số seri: FC9GJ7V22G kèm theo sim số 0797901077.
(Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 30/5/2025, giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh B với Chi cục thi hành án dân sự thành phố Dĩ An)
-
Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Bị cáo Phan Phú T, Trần Văn Đ, Nguyễn Thanh D1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng.
- Về quyền kháng cáo: Các bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Văn Tuyên |
Bản án số 213/2025/HS-ST ngày 30/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về vụ án hình sự sơ thẩm
- Số bản án: 213/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự sơ thẩm
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phan Phú Trọng và đồng phạm phạm tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy"
