TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 213/2025/HNGĐ - ST Ngày: 18-11-2025 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Thị Thủy.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Văn Hải; ông Lê Nam Văn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nga - Thư ký Tòa án ND khu vực 5 - Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thụy Cầm - Kiểm sát viên.
Ngày 18/11/2025, tại trụ sở Tòa án ND khu vực 5 - Thanh Hóa, mở phiên tòa để xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 101/2025/TLST- HNGĐ ngày 02 tháng 10 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 65/2025/QĐXXST - HNGĐ ngày 03/11/2025 giữa:
- Nguyên đơn: Chị Trịnh Thị T - Sinh năm 1986 - CCCD số: [...] - Địa chỉ: Thôn C, xã N, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.
- Bị đơn: Anh Bùi Văn T1 - Sinh năm 1982 - CCCD số: [...] - Địa chỉ: Thôn C, xã N, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 19/8/2025 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Trịnh Thị T trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh Bùi Văn T1 tự nguyện tìm hiểu và đi đến kết hôn vào ngày 04/01/2006, có đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện N (nay là xã N), tỉnh Thanh Hóa. Sau ngày kết hôn, vợ chồng chị chung sống hạnh phúc, hòa thuận được 14 năm thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng không tin tưởng về mặt kinh tế, gây nhiều tranh cãi, hiểu lầm dẫn đến nghi kỵ, ghen tuông, đánh đập vợ con. Mặc dù đã được gia đình khuyên can nhưng anh không thay đổi, thường xuyên đánh đập và mỗi lần lại nặng nề hơn. Do không chịu đựng được đánh đập tàn nhẫn, chị đã sống ly thân và trở về nhà bố mẹ đẻ sinh sống và làm việc từ tháng 02/2025. Sau đó được hai bên gia đình hòa giải, chị có quay về với anh T1 01 tháng nhưng anh T1 vẫn không thay đổi nên kể từ tháng 7/2025 chị lại trở về nhà mẹ đẻ sinh sống cho đến nay, không còn quan tâm đến nhau. Nay chị thấy tình cảm vợ chồng không còn, chị yêu cầu được ly hôn anh Bùi Văn T1.
Về con: Vợ chồng chị có 02 con chung là Bùi Quốc K, sinh ngày 10/10/2006 và Bùi Bảo N, sinh ngày 01/9/2012. Hiện nay cháu K đã đủ 18 tuổi nên chị không yêu cầu giải quyết. Nếu ly hôn, chị yêu cầu được trực tiếp nuôi cháu N; không yêu cầu anh T1 phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 10/10/2025, bị đơn anh Bùi Văn T1 trình bày:
Về hôn nhân: Ngày tháng năm, cơ sở kết hôn như chị T trình bày là đúng. Sau ngày kết hôn, vợ chồng anh chung sống hạnh phúc đến cuối năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh đi làm ăn xa (đi tàu biển) nên chị T ở nhà ngoại tình nhưng anh không có chứng cứ để chứng minh. Vì chị T ngoại tình nên anh có chửi bới và cũng có lần đánh chị T. Kể từ tháng 02/2025, chị T đã bỏ về nhà mẹ đẻ ở cho đến nay, vợ chồng không quan tâm đến nhau. Nay chị T làm đơn ly hôn anh, anh thấy tình cảm vẫn còn, mâu thuẫn chưa đến mức độ phải ly hôn nên anh không đồng ý ly hôn. Anh đề nghị Tòa án hòa giải để vợ chồng anh đoàn tụ. Tại phiên tòa hôm nay, anh đồng ý ly hôn với chị T.
Về con: Vợ chồng anh có 02 con chung như chị T khai. Hiện cháu K đã đến tuổi trưởng thành, anh không yêu cầu giải quyết. Nếu ly hôn, anh yêu cầu được trực tiếp nuôi cháu N, không yêu cầu chị T phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Về tài sản chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Chị T có mượn Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bố mẹ anh để thế chấp vay Ngân hàng. Nếu yêu cầu anh sẽ cung cấp các tài liệu chứng minh cho Tòa án sau nên anh không yêu cầu giải quyết trong vụ án này.
Vụ án có liên quan đến người chưa thành niên nên Tòa án tiến hành thu thập tài liệu chứng cứ để xác định nguyên nhân của việc phát sinh tranh chấp theo quy định tại khoản 3 Điều 208 BLTTDS.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Thanh Hóa phát biểu ý kiến:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự: Thẩm phán, HĐXX, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn chấp hành các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật; bị đơn chưa chấp hành đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định.
- Về việc giải quyết vụ án: Chấp nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Trịnh Thị T và anh Bùi Văn T1. Về con: Giao cháu Bùi Bảo N, sinh ngày 01/9/2012 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng; anh T1 không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Về án phí: Chị T phải chịu án phí DSST theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và ý kiến của các đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Chị Trịnh Thị T có đơn đề nghị Tòa án ND khu vực 5 - Thanh Hóa giải quyết việc ly hôn giữa chị và anh Bùi Văn T1 có địa chỉ ở xã N, tỉnh Thanh Hóa. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của BLTTDS năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án ND khu vực 5 - Thanh Hóa.
[2] Về hôn nhân: Chị Trịnh Thị T và anh Bùi Văn T1 kết hôn ngày 04/01/2006, trên cơ sở tự nguyện, được hai bên gia đình đồng ý, không cản trở, cưới có đăng ký kết hôn, như vậy là hôn nhân hợp pháp. Anh chị chung sống hạnh phúc, hòa thuận được 14 năm thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân theo chị T là do kinh tế khó khăn, anh T1 chơi bời và còn chửi bới đánh đập chị. Còn theo anh T1 là do anh đi làm ăn xa (đi tàu biển) nên chị T ở nhà ngoại tình nhưng anh không có chứng cứ để chứng minh, vì chị T ngoại tình nên anh có chửi bới và cũng có lần đánh chị T. Chị T và anh T1 chính thức sống ly thân nhau từ tháng 7/2025 đến nay, không còn quan tâm đến nhau. Nay chị T thấy tình cảm không còn, chị yêu cầu ly hôn, anh T1 đồng ý.
HĐXX xét thấy, cả chị T và anh T1 đều thừa nhận vợ chồng có mâu thuẫn và đã có thời gian sống ly thân nhau. Từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến nay cũng đã có thời gian để cho anh, chị suy nghĩ lại và Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng anh T1 không đến nên không hòa giải được. Mặt khác, tại biên bản xác minh ngày 14/10/2025, đại diện thôn C, xã N cho biết: Anh T1 và chị T kết hôn với nhau năm 2006 và có 02 con chung. Một thời gian sau, anh T1 và chị T xảy ra mâu thuẫn, bất đồng dẫn đến việc chị T làm đơn ly hôn.
Như thế chứng tỏ cuộc hôn nhân của anh chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, cần công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Trịnh Thị T và anh Bùi Văn T1.
[3] Về con chung: Chị T và anh T1 có 02 con chung là Bùi Quốc K, sinh ngày 10/10/2006 và Bùi Bảo N, sinh ngày 01/9/2012. Cháu K đã đủ 18 tuổi, chị T và anh T1 không yêu cầu giải quyết. Còn cháu N, cả chị T và anh T1 đều yêu cầu được trực tiếp nuôi con.
HĐXX thấy, nguyện vọng yêu cầu được nuôi con của cả hai bên đương sự đều phù hợp, vì cha, mẹ đều có nghĩa vụ và quyền ngang nhau, cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng con chưa thành niên. Tuy nhiên, từ khi chị T và anh T1 sống ly thân nhau, cháu N ở với mẹ, còn anh T1 công việc nay đây mai đó, thu nhập không ổn định, không thuận lợi trong việc chăm sóc cháu N. Mặt khác, cháu N là con gái cùng giới tính với chị T và có nguyện vọng được ở với chị T. Vì vậy, cần xử giao cháu N cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định pháp luật.
Về cấp dưỡng: Chị T không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng tiền nuôi con chung nên miễn xét.
[4] Về tài sản và nợ chung: Chị T và anh T1 không yêu cầu giải quyết, nên miễn xét.
[5] Về án phí: Chị Trịnh Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm (DSST) về việc ly hôn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Điều 55; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 266; Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật TTDS năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025; điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:
- Về hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Trịnh Thị T và anh Bùi Văn T1.
- Về con: Giao cháu Bùi Bảo N, sinh ngày 01/9/2012 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, anh T1 không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Anh T1 có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở.
- Về án phí: Chị Trịnh Thị T phải nộp 300.000₫ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí DSST mà chị đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0000851 ngày 30/9/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh T; chị T đã nộp đủ tiền án phí DSST.
- Về quyền kháng cáo: Chị T và anh T1 có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại điều 6, 7, 7a và điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trịnh Thị Thủy |
Bản án số 213/2025/HNGĐ - ST ngày 18/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - THANH HÓA về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 213/2025/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/11/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Trịnh Thị T và anh Bùi Văn T1 thỏa thuận thuận tình ly hôn; giao 01 con chung cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, anh T1 không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung
