Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 213/2025/DS-PT

Ngày: 18/12/2025

V/v: “Tranh chấp quyền sử dụng đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Bình.

Các Thẩm phán: Ông Phạm Văn Tú; Ông Đỗ Thế Bình.

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Hoàng Huyền Trang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thúy - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 333/2025/TLPT-DS, ngày 10/11/2025 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 62/2025/DSST ngày 15/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Bắc Ninh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 92/2025/QĐ-PT ngày 26 tháng 11 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Quang D, sinh năm 1955; Địa chỉ: Số B, đường D, khu phố A, phường B, thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

Người đại diện theo uỷ quyền của ông D: Ông Nguyễn Quang B, sinh năm 1966; Địa chỉ: Tổ dân phố N, phường N, tỉnh Bắc Ninh (có mặt).

Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thanh H – Luật sư Công ty L5 – Đoàn luật sư tỉnh B; Địa chỉ: C N, phường B, tỉnh Bắc Ninh (có mặt).

- Đồng bị đơn:

1. Ông Nguyễn Quỳnh C, sinh năm 1976; Địa chỉ: Tổ dân phố N, phường N, tỉnh Bắc Ninh (có mặt).

Người đại diện theo uỷ quyền của ông C: Ông Trần Đình K, sinh năm 1999 và ông Phạm Văn L, sinh năm 2000; Cùng địa chỉ: Số A ngõ G D, phường C, thành phố Hà Nội (đều có mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông C: Ông Nguyễn Văn T – Luật sư, Công ty L6; Địa chỉ: Số A ngõ G D, phường C, thành phố Hà Nội (vắng mặt).

2. Bà Đỗ Thị N (tên gọi khác Nguyễn Thị D1), sinh năm 1967 (có mặt);

3. Anh Nguyễn Quang H1, sinh năm 1992 (vắng mặt);

Người đại diện theo uỷ quyền của anh Nguyễn Quang H1: Bà Đỗ Thị N, sinh năm 1967; Cùng địa chỉ: Số A, khu G, phường V, tỉnh Bắc Ninh (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1988 (vắng mặt);

Người đại diện theo uỷ quyền của chị H: Ông Nguyễn Văn Q, sinh năm 1954; Cùng địa chỉ: Tổ dân phố N, phường N, tỉnh Bắc Ninh (có mặt).

2. Anh Nguyễn Quang H2, sinh năm 1988;

Người đại diện theo uỷ quyền anh Nguyễn Quang H2: Bà Đỗ Thị N, sinh năm 1967; Địa chỉ: Số A, khu G, phường V, tỉnh Bắc Ninh (có mặt).

3. Bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1957; Địa chỉ: Số C, đường D phường B, thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

4. Chị Nguyễn Thị V, sinh năm 1975 (chết ngày 22/7/2024); Địa chỉ: Số B N, phường D, thành phố Hồ Chí Minh.

Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng:

  • - Ông Nguyễn Quang D, sinh năm 1955 (vắng mặt).
  • - Bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1957 (vắng mặt).
  • - Cháu Nguyễn Vy P, sinh ngày 17/3/2012 (vắng mặt).

Cùng địa chỉ: Số E, đường D, KP1, phường B, thành phố Hồ Chí Minh.

- Chị Trương Thanh H3, sinh năm 1996.

Người giám hộ cho cháu Nguyễn Vy P; Địa chỉ: Số D, Đ, phường A, thành phố Đà Nẵng (vắng mặt).

5. Chị Nguyễn Thị Hoài V1, sinh năm 1980; Địa chỉ: Số B, đường D, KP1, phường B, thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

6. Chị Nguyễn Thị Tùng H4, sinh năm 1982; Địa chỉ: Tổ H Đồng Nai, phường B, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).

7. Chị Nguyễn Thị Thùy D2, sinh năm 1987; Địa chỉ: Số B tổ A, khu H, phường P, tỉnh Bình Dương (vắng mặt).

8. Chị Nguyễn Thị Y, sinh năm 1986; Địa chỉ: Số E, Đ.N1, KP1, phường B, thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

9. Chị Nguyễn Thị Hải A, sinh năm 1992; Địa chỉ: Số F L, phường A, thành phố

Hồ Chí Minh (vắng mặt).

10. Chị Nguyễn Thị Trâm A1. Sinh năm 1994; Địa chỉ: Số B, đường D, KP1, phường B, thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

11. UBND thị xã V, tỉnh Bắc Giang do bà Thân Thị L2 – Phó phòng Nông nghiệp và Môi trường thị xã V đại diện theo uỷ quyền. (nay do UBND phường N, tỉnh Bắc Ninh do ông Lê Hoàng B1 chủ tịch UBND đại diện) ( vắng mặt).

12. UBND phường Q, thị xã V, tỉnh Bắc Giang do ông Nguyễn Tài H5 – Chủ tịch UBND đại diện theo pháp luật (nay do UBND phường N, tỉnh Bắc Ninh do ông Lê Hoàng B1 chủ tịch UBND đại diện) (vắng mặt).

13. Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng: UBND phường N, tỉnh Bắc Ninh – Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Lê Hoàng B1 (vắng mặt).

14. Văn phòng C3; Địa chỉ: Số E, đường T, thị trấn B, huyện Y (nay là Văn phòng C4; Địa chỉ: Số B, đường H, phường B, thị xã V, tỉnh Bắc Giang) nay là phường V, tỉnh Bắc Ninh (vắng mặt).

Người kháng cáo: Ông Nguyễn Quỳnh C.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án dân sự sơ thẩm số: 62/2025/DSST ngày 15/9/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Bắc Ninh và các tài liệu có trong hồ sơ thì vụ án có nội dung như sau:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn là ông Nguyễn Quang D và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Nguyễn Quang B trình bày:

Ông và ông Nguyễn Quang H6, ông Nguyễn Quang H7 (chồng bà Nguyễn Thị D1 tức Đỗ Thị N) và ông Nguyễn Quang B là anh em ruột. Năm 1977, ông D có mua của cụ T1 (đã chết) thửa đất ở ngay sau nhà bố mẹ ông, hiện nay do ông B đang quản lý và sử dụng.

Khi ông H6 và ông lập gia đình thì vẫn sống chung cùng bố mẹ. Đến năm 1977, ông H6 và bà L1 có mua 178m² đất của ông Nguyễn Hữu G (vợ tên là L3) ngay cạnh thửa đất của bố mẹ ông (đi vào ngõ thì thửa đất ở bên trái của xóm bên, giáp ranh với nhà ông B và nhà ông Nguyễn Quang Đ) với giá 200.000 đồng để chuyển ra ở riêng, nay là thửa đất số 405, tờ bản đồ số 7, diện tích là 187,3m² có địa chỉ: thôn N, xã Q, thị xã V, tỉnh Bắc Giang (gọi tắt là thửa đất số 405). Sau khi ông H6 mua đất của ông G thì có làm nhà tranh vách đất để ở. Ngày 20/02/1979, vợ chồng ông D và vợ chồng ông H6 đổi đất cho nhau theo đó ông H6 sử dụng thửa đất của ông D mua của cụ T1

còn ông D sử dụng thửa đất ông H6 mua của ông G là thửa đất số 405. Việc đổi đất có lập giấy viết tay. Sau khi đổi đất, vợ chồng ông ra ở riêng và sử dụng ổn định từ năm 1979 không có tranh chấp gì.

Vợ chồng ông có 7 người con, ngoài cháu đầu sinh năm 1975 ở nhà ông bà nội thì 6 cháu còn lại đều được sinh ra và lớn lên trên thửa đất này. Trong quá trình sử dụng, vợ chồng ông đã xây dựng được những tài sản là: Năm 1981 xây 01 ngôi nhà 01 tầng, đến năm 1984 xây tiếp lên tầng 2, năm 1987 xây thêm 01 ngôi nhà ngói 3 gian và một số công trình phụ là bể chứa nước mưa, chuồng lợn, nhà vệ sinh. Năm 1996, do hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên vợ chồng ông D đưa các con vào trong Nam làm ăn sinh sống. Hàng năm, mỗi khi ở quê nhà có việc ma chay, giỗ, tết vợ chồng ông D vẫn về quê dọn dẹp nhà cửa sạch sẽ để ở, xong việc lại đi.

Tháng 02/2019, ông được anh em gia đình ở quê báo tin là toàn bộ nhà, đất của vợ chồng ông đã bán cho cho ông Nguyễn Quỳnh C là hàng xóm sống liền kề sát cạnh thửa đất số 405. Biết tin ông về quê và đề nghị chính quyền địa phương giải quyết. Khi hai bên đang tranh chấp thì ông C thuê người về phá hết các công trình, nhà cửa ông xây dựng trên đất. Khi đó, ông đã làm đơn đề nghị UBND xã Q ngăn chặn ông C không được làm thay đổi hiện trạng thửa đất đang có tranh chấp.

Ngày 28/2/2019, UBND xã Q đã có văn bản số 35/UBND-ĐC về việc “Tạm dừng xây dựng công trình trên thửa đất số 405, giữ nguyên hiện trạng thửa đất”. Tuy nhiên, ông C cố ý không thực hiện mà ngày 10 -11/4/2019, gia đình ông C đã đóng cọc, vây tường, đóng kín cổng không cho ông D vào nhà.

Ngày 12/4/2019, ông tiếp tục gửi đơn trình báo lần 2 tới ông Chủ tịch UBND xã Q đề nghị UBND xã vào can thiệp và có biện pháp cứng rắn ngăn chặn ông C tiếp tục có hành vi phá hoại tài sản của gia đình ông nhưng UBND xã Q không ngăn chặn. Ngày 13/4/2019, ông C tổ chức anh em trong gia đình gọi máy múc đến phá nhà ông. Ông D đến ngăn cản thì ông C tuyên bố “Tôi mua đất tôi cứ làm anh nào vào đất là tôi chém, nếu sai tôi đền”. Hiện nay, nhà của ông đã bị ông C phá dỡ hoàn toàn và xây cổng tường bao quanh thửa đất.

Tranh chấp giữa ông D và ông C đã được UBND xã Q hoà giải 02 lần. Quá trình làm việc tại thôn, xã thì ông D mới biết vợ chồng ông H7 và bà D1 (N) là em trai và em dâu của ông lợi dụng lúc vợ chồng ông D vắng nhà đã tự ý kê khai để làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (viết tắt là GCNQSDĐ) đối với thửa đất số 405 của vợ chồng ông D từ ngày 28/7/2004. Năm 2008, ông H7 chết, ngày

26/4/2013, mẹ con bà D1 làm Văn bản phân chia thừa kế thửa đất này sang tên bà D1, chứng thực ngày 04/6/2013 tại UBND xã Q. Được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai (viết tắt là VPĐKĐĐ) huyện V đăng ký biến động ngày 13/6/2013. Ngày 29/7/2013, bà D1 làm Hợp đồng tặng cho thửa đất số 405 cho con trai là anh Nguyễn Quang H1 và được Chi nhánh VPĐKĐĐ huyện V đăng ký biến động sang tên anh H1 ngày 15/9/2013. Ngày 25/02/2019, anh H1 làm Hợp đồng chuyển nhượng thửa đất này cho ông C với giá là 490.000.000 đồng và ngay trong ngày 25/02/2019, Chi nhánh VPĐKĐĐ huyện V đăng ký biến động thửa đất sang tên ông C.

Nay ông khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề sau:

  • Huỷ GCNQSDĐ số Y945907 cấp ngày 28/7/2004 đối với thửa đất số 405 mang tên ông Nguyễn Quang H7, bà Nguyễn Thị D1 (Đỗ Thị N).
  • Huỷ các nội dung đăng ký biến động QSDĐ của Chi nhánh VPĐKĐĐ huyện V: Ngày 13/6/2013 từ vợ chồng ông Nguyễn Quang H7, bà Nguyễn Thị D1 sang bà Nguyễn Thị D1, ngày 15/9/2013 từ bà Nguyễn Thị D1 sang anh Nguyễn Quang H1, ngày 25/02/2019 từ anh Nguyễn Quang H1 sang ông Nguyễn Quỳnh C.
  • Tuyên các giao dịch dân sự sau vô hiệu:
    • + Văn bản phân chia di sản thừa kế đối thửa đất số 405 từ vợ chồng ông Nguyễn Quang H7 và bà Nguyễn Thị D1 (Đỗ Thị N) sang bà Nguyễn Thị D1 lập ngày 26/4/2013, chứng thực ngày 04/6/2013 tại UBND xã Q (nay là phường N, tỉnh Bắc Ninh).
    • + Hợp đồng tặng cho QSDĐ là thửa đất số 405 từ bà Nguyễn Thị D1 (Đỗ Thị N) sang anh Nguyễn Quang H1 ngày 29/7/2013.
    • + Hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ và tài sản gắn liền với đất là thửa đất số 405 từ anh Nguyễn Quang H1 sang anh Nguyễn Quỳnh C ngày 25/02/2019.
  • Xác định Thửa đất số 405 thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ông Nguyễn Quang D và bà Nguyễn Thị L1.

- Tại phiên tòa ông D rút yêu cầu buộc gia đình anh C có trách nhiệm bồi thường cho vợ chồng ông toàn bộ giá trị tài sản trên đất mà anh C đã tự ý phá dỡ gồm: 01 ngôi nhà 02 tầng, 01 ngôi nhà ngói 3 gian, 01 bể chứa nước mưa, 01 chuồng lợn, 01 nhà vệ sinh có giá trị khoảng 400.000.000 đồng.

Đồng bị đơn là: Bà Đỗ Thị N (Nguyễn Thị D1) trình bày: Bà kết hôn với ông Nguyễn Quang H7 năm 1987. Sau khi kết hôn bố mẹ chồng là cụ Nguyễn Quang C1 và cụ Bùi Thị D3 cho vợ chồng bà thửa đất 405 từ trước năm 2000, trên đất có ngôi nhà cũ đã xuống cấp phải sửa chữa nhiều lần. Ngày 28/7/2004, vợ chồng bà được UBND

huyện V cấp GCNQSDĐ đối với thửa đất 405. Sau đó, vợ chồng bà đã tân lấp thửa đất này và đóng thuế hàng năm. Năm 2008 ông H7 chết. Tháng 6/2013 gia đình bà thống nhất để thửa đất mang tên bà. Tháng 9/2013 bà tặng cho QSDĐ cho con trai là Nguyễn Quang H1. Tháng 02/2019, anh H1 đã chuyển nhượng thửa đất cho ông Nguyễn Quỳnh C và ông C đã được cấp GCNQSDĐ đối với thửa đất số 405. Bà xác định vợ chồng bà được cấp GCNQSDĐ đối với thửa đất 405, và việc anh H1 chuyển nhượng thửa đất này cho ông C là đúng quy định pháp luật. Do vậy, bà không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông D.

Anh Nguyễn Quang H1 trình bày: Bố mẹ anh là ông Nguyễn Quang H7 và bà Nguyễn Thị D1 (nay đổi tên là Đỗ Thị N) có thửa đất 405, thửa đất này do ông nội anh để lại cho bố mẹ anh. Năm 2008, bố anh chết. Tháng 6/2013 gia đình anh thống nhất để thửa đất mang tên mẹ anh là bà D1. Tháng 9/2013 mẹ anh và anh trai anh là Nguyễn Quang H2 đã tặng cho anh quyền sử dụng thửa đất số 405. Đến tháng 2/2019, anh đã chuyển nhượng thửa đất (không có nhà) cho gia đình ông Nguyễn Quỳnh C với giá thoả thuận và ông C đã được cấp GCNQSDĐ đối với thửa đất số 405. Khi anh chuyển nhượng thửa đất cho ông C trong gia đình không ai có ý kiến hay tranh chấp đối với thửa đất này. Vì vậy, anh không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông D.

Anh Nguyễn Quỳnh C do ông Nguyễn Văn Q (là bố đẻ) đại diện theo uỷ quyền trình bày: Anh C là hàng xóm của gia đình ông H7 và bà D1 (tức N) có con là anh H1. Năm 2019, bà D1 và anh H1 đề nghị bán thửa đất số 405 cho anh C với giá 450.000.000 đồng, vì thửa đất này nằm trước mặt liền kề đất nhà bố mẹ anh C đang sử dụng nên mua để cho đẹp và thoáng đất. Sau khi thống nhất giá cả hai bên làm hợp đồng chuyển nhượng tại Văn phòng C3 ở thị trấn B. Đến ngày 25/02/2019 thì anh được cấp GCNQSDĐ (đính chính trang 4 từ anh H1 sang tên anh C). Hiện trạng thửa đất khi bàn giao là trên đất có 03 gian nhà ngói, tường gạch non vôi cát sập đổ hoàn toàn không còn giá trị sử dụng nên anh C đã dọn đống gạch ngói đổ nát để làm vườn như hiện nay.

Anh C không đồng ý yêu cầu khởi kiện của ông D về việc yêu cầu anh C trả lại thửa đất số 405 và trị giá ngôi nhà trên đất là 400.000.000đồng. Vì việc chuyển nhượng thửa đất số 405 không liên quan đến ông D, anh C đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật bảo về quyền lợi cho anh C.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Ông Nguyễn Quang B trình bày: Ông đồng ý với lời trình bày của ông D không bổ sung nội dung nào khác. Quá trình giải quyết vụ án nhằm đảm bảo quyền lợi ích hợp pháp cho ông D ông đã đề nghị giám định chữ ký chữ viết của ông tại Biên bản xác định ranh giới mốc giới thửa đất năm 2001. Tuy nhiên, tại phiên toà ông xin rút đề nghị giám định chữ ký chữ viết của ông.

Bà Nguyễn Thị L1 trình bày: Bà đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông D, đề nghị Toà án giải quyết vụ án bảo đảm quyền lợi cho vợ chồng bà.

Chị Nguyễn Thị V (chết ngày 22/7/2024) do ông Nguyễn Quang D là đại diện của những người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng trình bày: Chị V đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bố chị là ông D và đề nghị Toà án giải quyết vụ án theo pháp luật để bảo đảm quyền lợi cho bố mẹ chị. Chị không có công sức đóng góp liên quan đến thửa đất và tài sản trên đất nên không yêu cầu đề nghị nào khác.

Chị Nguyễn Thị Hoài V1, chị Nguyễn Thị Tùng H4, chị Nguyễn Thị Thùy D2, chị Nguyễn Thị Y, chị Nguyễn Thị Hải A, chị Nguyễn Thị Trâm A1 trình bày: Đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông D và không có yêu cầu, đề nghị gì khác.

Anh Nguyễn Quang H2 do bà Đỗ Thị N (Nguyễn Thị D1) đại diện theo uỷ quyền trình bày: Anh nhất trí với lời trình bày của anh H1, anh không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông D, đề nghị Tòa án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông D.

Chị Nguyễn Thị H do ông Nguyễn Văn Q đại diện theo uỷ quyền đồng ý với lời trình bày của anh Nguyễn Quỳnh C, không có bổ sung gì.

Đại diện UBND thị xã V (nay là phường N, tỉnh Bắc Ninh) trình bày: Thửa đất số 405 của gia đình ông Nguyễn Quang H7. Năm 2001, gia đình ông H7 kê khai và được cấp GCNQSDĐ đối với thửa đất số 405, số vào sổ 03695, số phát hành Y945907, ngày 28/7/2004 mang tên hộ ông Nguyễn Quang H7 và bà Nguyễn Thị D1.

Năm 2013, gia đình bà D1 phân chia thừa kế QSDĐ cho bà D1 (được VPĐK QSDĐ chỉnh lý biến động trang 4). Tháng 9/2013, bà D1 tặng cho anh H1 quyền sử dụng thửa đất số 405 (được VPĐKQSDĐ chỉnh lý biến động trang 4). Năm 2019, anh H1 chuyển nhượng QSDĐ cho ông Nguyễn Quỳnh C (được VPĐKQSDĐ chỉnh lý biến động trang 4).

Kết quả kiểm tra hồ sơ đã thiết lập: Đối với hồ sơ cấp GCNQSDĐ lần đầu cho gia đình ông H7 có một số nội dung không đầy đủ: Không có đầy đủ thông tin ngày tháng năm và ký xác nhận của cơ quan, đơn vị trong đơn đăng ký QSDĐ (phòng Địa chính nông nghiệp). Tuy nhiên nội dung không đầy đủ này không làm ảnh hưởng đến QSDĐ của gia đình ông H7. Đồng thời thửa đất đã chuyển QSDĐ cho chủ sử

dụng khác nên không thuộc trường hợp thu hồi GCNQSDĐ theo quy định tại khoản 4 Điều 152 Luật Đất đai năm 2024.

- Đối với hồ sơ phân chia thừa kế, tặng cho, chuyển nhượng QSDĐ thuộc thẩm quyền của VPĐKQSDĐ. Các nội dung khác đề nghị Tòa án giải quyết theo pháp luật.

Đại diện UBND phường Q (nay là phường N, tỉnh Bắc Ninh) trình bày: Thửa đất số 405 của gia đình ông Nguyễn Quang H7. Năm 2001, gia đình ông H7 kê khai và được cấp GCNQSDĐ đối với thửa đất số 405, số vào sổ 03695, số phát hành Y945907, cấp ngày 28/7/2004 mang tên hộ ông Nguyễn Quang H7 và bà Nguyễn Thị D1.

Qua quá trình hoà giải ở địa phương, địa phương nắm bắt được nội dung như sau: Thửa đất số 405 có nguồn gốc là của ông Vũ Hữu G1, sinh năm 1937 (chết năm 2021). Khoảng năm 1977, ông G1 bán thửa đất này cho ông Nguyễn Quang H6 là anh ruột của ông D. Khoảng năm 1979 thì ông H6 đổi đất cho ông D, ông D lấy thửa đất của ông H6 đã mua của ông G1, còn ông H6 lấy thửa đất của ông D. Quá trình sử dụng thửa đất này, vợ chồng ông D, bà L1 có làm nhà (làm nhà năm nào không rõ) và sinh sống ở đó, đến khoảng năm 1996 thì vợ chồng ông D vào miền N làm ăn kinh tế, sau khi vào miền N thỉnh thoảng ông D có về thăm quê. Việc giữa ông D với em ruột là ông H7 cùng vợ là bà N (Dừa) có tặng, cho hay mua bán, trao đổi thửa đất này hay không địa phương không nắm được.

Đối với việc chứng thực tại UBND xã Q: Qua kiểm tra lài liệu còn lưu trữ tại địa phương cũng như được tiếp cận chứng cứ thông qua toà án thì thấy UBND xã Q có lập hồ sơ đề nghị UBND huyện V cấp GCNQSDĐ cho ông H7 thấy có một số nội dung không đầy đủ, tuy nhiên ngày 28/7/2004 ông H7 đã được UBND huyện V cấp giấy GCNQSDĐ số Y945907 mang tên hộ ông Nguyễn Quang H7 và bà Nguyễn Thị D1.

Đối việc việc UBND xã Q thực hiện việc chứng thực Văn bản phân chia thừa kế cho bà Nguyễn Thị D1 đứng tên QSDĐ (sau khi ông H7 chết) ngày 04/6/2013 đã được VPĐKQSDĐ chỉnh lý biến động trang 4 GCNQSDĐ.

Đối với việc chứng thực hợp đồng tặng cho QSDĐ từ bà D1 cho con là H1 thửa đất số 405 nêu trên ngày 29/7/2013 đã được VPĐKQSDĐ chỉnh lý biến động trang 4 GCNQSDĐ đứng tên anh Nguyễn Quang H1.

Như vậy việc chứng thực do UBND xã Q (nay là phường N) nêu trên đối với thửa số 405 là đảm bảo theo quy định của luật công chứng chứng thực và quy định của luật đất đai cùng các văn bản hướng dẫn thi hành.

Đối với yêu cầu khởi kiện của ông D đề nghị Toà án xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.

Những người làm chứng là:

Ông Nguyễn Quang H6 trình bày: Ông là anh ruột của ông D và ông H7. Nguồn gốc thửa đất tranh chấp giữa ông D và ông H7, bà D1 là do ông mua của ông Vũ Hữu G1 từ năm 1977 với giá 200.000 đồng, khi mua bán giữa ông và ông G1 chỉ có giấy viết tay không qua chính quyền địa phương. Sau khi mua bán xong ông làm nhà tranh vách đất để ở. Đến năm 1979 ông đổi thửa đất này cho ông D, thời điểm này vợ chồng ông H7 bà D1 ở ga T, Bắc Ninh, chưa bao giờ về thửa đất đang có tranh chấp sinh sống. Sau khi đổi đất xong vợ chồng ông D đã làm nhà 2 tầng và sinh 5 người con trên đất này. Khoảng năm 1990 ông D vào Miền nam nhưng thỉnh thoảng ra B, đến năm 1996 thì ông D cùng vợ con vào N1 ở cho đến nay, thửa đất số 405 ông D không sử dụng mà giao cho ông trông nom và sử dụng chăn nuôi lợn gà.

Về việc cấp GCNQSDĐ cho nhà bà N (D) như thế nào ông không biết, ông không ký giáp ranh, đến khi ông C đến phá nhà thì ông mới biết bà N (D1) bán cho ông C. Bố mẹ ông là Nguyễn Quang C1, Bùi Thị D3 không có thửa đất hiện ông D và ông C đang tranh chấp, mà chỉ có thửa đất hiện nay ông đang ở. Ông xác định thửa đất đang tranh chấp là của ông D không phải của ông H7, bà D1.

Ông Vũ Hữu G1 trình bày: Nguồn gốc thửa đất hiện ông D và ông C tranh chấp là do ông Vũ Hữu T2 chú ruột ông cho ông (không nhớ năm nào) sau khi ông đi bộ đội về. Sau đó ông bán lại cho ông H6 con ông C1, bán vào năm nào số tiền bao nhiêu ông không nhớ, ông chỉ nhớ thửa đất này giáp đất nhà ông C1, ông M.

Ông Nguyễn Huy T3 trình bày: Ông sinh ra và lớn lên tại thôn N, xã Q, huyện V. Thời kỳ ở N, ông T3 ở cùng xóm C với ông D và ông H6. Thửa đất đang xảy ra tranh chấp nằm ở trước cửa nhà ông. Thửa đất này là của cụ T2 (chú ruột của ông G1). Sau đó vợ chồng ông T4 bà T5 là con gái của cụ T2 ở, tiếp đến là ông G1 ở. Năm 1971, bị ngập lụt nên gia đình ông chuyển ra thôn T, xã Q ở. Khi đi bố ông đã bán thửa đất của gia đình cho cụ M (là ông nội của anh C), hiện ông Q là bố của anh C đang ở trên đất của cụ M.

Mặc dù chuyển đi nhưng ông vẫn thường xuyên quay lại với bà con trong làng. Khoảng cuối những năm 1970, thấy vợ chồng ông H6 mua lại đất từ ông G1 và ở trên

đó (ông D vẫn ở nhà cụ C1). Vài năm sau, thì ông thấy vợ chồng ông D xây dựng nhà mái bằng 01 tầng, 01 nhà bếp 3 gian mái ngói trên thửa đất này và chuyển sang ở. Thời kỳ năm 1984 đến 2000, ông công tác ở chính quyền xã Q (năm 1984 – 1989 là trưởng Công an xã; năm 1990 – 1999 là Chủ tịch xã Q). Khi đang làm Công an xã, có lần ông D cùng một số người tụ tập ở nhà ông D đánh cờ bạc, ông vào lập biên bản bắt quả tang ông D cùng một số người trên chính trên thửa đất đang tranh chấp. Khoảng năm 1990 thì vợ chồng ông D chuyển đi. Từ đó đến nay, ông không thấy ai ở trên đất này nữa. Ông chưa bao giờ nhìn thấy ông H7 bà D1 ở trên thửa đất tranh chấp, do ông bà sống ở ga Đ. Khi ông H7 còn sống, ông có vài lần về nhà ông H7 ở ga Đ chơi.

Ông Nguyễn Quang K1 trình bày: Bố mẹ ông là cụ C1 và cụ D3 sinh được 07 anh chị em là: Nguyễn Quang H6, Nguyễn Quang D, Nguyễn Quang H7, Nguyễn Quang K1, Nguyễn Thị L4, Nguyễn Quang B, Nguyễn Thị M1. Các anh chị em ông đều được sinh ra và lớn lên tại thôn N, xã Q, huyện V trên đất tổ tiên để lại.

Năm 1974, anh H6 và anh D lấy vợ. Sau khi lấy vợ, các anh vẫn ở chung với bố mẹ và các anh chị em ông. Năm 1977, do chỗ ở chật hẹp nên anh H6 có mua của ông G1 một thửa đất cạnh đất của bố mẹ ông (nay là thửa đất số 405) với giá 200.000 đồng để ra ở riêng. Sau khi mua, vợ chồng anh H6 có làm nhà 3 gian, mái tranh, tường lá cắm vách trên thửa đất này và cùng vợ con ra đó sinh sống. Cũng vào khoảng thời điểm đó, vợ chồng anh D mua được một thửa đất của gia đình ông T1 ở cùng làng.

Đến ngày 20/2/1979, vợ chồng anh D và vợ chồng anh H6 đổi hòa đất cho nhau. Vợ chồng anh H6 sử dụng thửa đất của vợ chồng anh D mua của ông T1, còn vợ chồng anh D thì sử dụng thửa đất anh H6 mua của ông G1. Sau khi đổi đất, vợ chồng anh D cùng các con ra ở riêng trên thửa đất này. Vợ chồng anh D có 7 đứa con, ngoài cháu đầu sinh năm 1975 ở nhà ông bà nội thì 6 đứa con lại đều được sinh ra và lớn lên trên thửa đất này. Khi đó, bố mẹ và 5 anh em ông là anh H7, ông, cô L4, chú B và cô M1 vẫn ở trên đất tổ của tổ tiên.

Năm 1981, cô L4 lấy chồng rồi về nhà chồng ở. Năm 1984, ông lấy vợ và ở chung với bố mẹ đến cuối năm 1986 thì ra ở riêng. Năm 1990, cô M1 lấy chồng và cũng về nhà chồng ở. Năm 1993, chú B lấy vợ thì ở với bố mẹ. Còn anh H7 đi bộ đội đóng quân ở H, chẳng may xô xát dẫn đến chết người. Anh H7 bị Tòa án kết tội 7 năm tù phải cải tạo ở Thanh Hóa. Khoảng năm 1986, anh H7 thụ án xong mới về ở

với bố mẹ trên đất tổ. Năm 1987, anh H7 lấy chị D1 (nay đổi tên là N). Cưới xong, vợ chồng anh H7 ở cùng bố mẹ trên đất tổ tiên. Một thời gian sau, vợ chồng anh H7 chuyển về nhà bố mẹ chị N (D) bên T, thành phố B sinh sống. Vì vậy, vợ chồng anh H7 chưa bao giờ sống ở thửa đất số 405 và vợ chồng anh D cũng chưa bao giờ giao cho vợ chồng anh H7 quản lý, sử dụng thửa đất số 405.

Khoảng thời điểm năm 1981, vợ chồng anh D phá căn nhà tranh 3 gian cũ rồi xây mới 01 ngôi nhà 01 tầng đổ trần. Năm 1984, anh D xây tiếp lên tầng 2. Năm 1987, xây thêm 01 ngôi nhà ngói 3 gian và một số công trình như bể chứa nước mưa, chuồng lợn, nhà vệ sinh, nhà kho... Đến năm 1990, kinh tế sa sút, vài năm sau thì gia đình anh D chuyển vào N sinh sống. Nhà cửa và công trình, đồ đạc để nguyên cho cháu M1 ở trông coi và không cho ai sử dụng. Khoảng vài năm sau, khi có dịp về quê ăn Tết, vợ chồng anh D lại về quê dọn dẹp nhà cửa để ở, xong việc lại đi. Lần bố ông mất, anh H7 mất, và các lần giỗ bố mẹ, anh H7 hoặc ở quê có những đại sự, gia đình anh D đều về ở trên đất này hàng tuần, nhiều khi gia đình anh D còn ở lại hàng tháng để thăm anh em.

Từ khi đổi đất cho anh H6 cho đến khi đi miền N, gia đình anh D trực tiếp ở đất này, các anh em, hàng xóm, chính quyền đều biết. Gia đình thăm hỏi nhau bình thường, có chuyện vui buồn, tết nhất 7 anh em ông đều có mặt. Gia đình anh H7 chị N vẫn qua lại thăm hỏi, ăn uống ở nhà anh D.

Khoảng tháng 02/2019, ông biết anh C đã mua đất này nên báo tin cho anh D. Biết tin anh D ra B thì mới biết vợ chồng anh Hồng N2 lúc anh D vắng nhà đã kê khai để được cấp GCNQSDĐ thửa đất số 405 từ ngày 28/7/2004. Năm 2008, anh H7 chết, mẹ con chị N sang tên thửa đất cho cháu H1 rồi chuyển nhượng thửa đất cho anh C.

Bố mẹ ông từ trước đến nay nghèo khó, lại đông con, chỉ có duy nhất một thửa đất tổ mà anh H6 đang ở. Còn lại các anh chị em tự tạo dựng chỗ ở nên không có việc vợ chồng anh H7 chị N được bố mẹ ông cho đất.

Ông xác nhận thửa đất số 405 và toàn bộ tài sản trên đất thuộc quyền sở hữu của anh D, không phải là tài sản của bố mẹ ông để lại, cũng không phải là tài sản của các anh em khác, ông cũng không có công sức đóng góp gì liên quan đến thửa đất và tài sản trên đất.

Ông Nguyễn Đình V2, sinh năm 1957; Địa chỉ: thôn N, xã Q, huyện V, tỉnh Bắc Giang trình bày: Trước năm 1975 khi ông còn ở nhà chưa đi bộ đội thì thửa đất đang xảy ra

tranh chấp giữa ông D và anh C là của gia đình ông T2, sau cháu ruột của ông T2 là ông G1 đã sử dụng. Đến năm 1982 khi ông đi bộ đội về ông thấy gia đình ông D đang ở trên đất của ông H6, nhà cũ của ông H6 đã bị phá đi và gia đình ông D đã xây mới để ở. Khi gia đình ông D chuyển vào miền N làm kinh tế nhà vẫn khóa cửa không có ai ở trên đó. Do trước đây ông là Đội trưởng đội sản xuất nên có hay lên nhà ông D nên ông biết, ông chưa thấy ông D nói về việc cho hoặc bán thửa đất.

Từ những nội dung trên bản án sơ thẩm đã căn cứ các Điều 122, 219, 223, 226, 697, 698, 699,700, 701,702 Bộ luật dân sự năm 2005; Điều 100, 166, 203 Luật đất đai năm 2013; Điều 26, 137, 138, 236 Luật đất đai năm 2024; Điều 116, 117, 122, 123, 129, 502, 503 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 32, 34, 35, 39, 92, 147, 217, 227, 228, 244, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 12, 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Quang D.

- Các giao dịch dân sự liên quan đến thửa đất số 405, tờ bản số 7, diện tích 187,3m² tại thôn N, xã Q, huyện V tỉnh Bắc Giang (nay là tổ dân phố N, phường N, tỉnh Bắc Ninh) vô hiệu gồm: Văn bản phân chia di sản thừa kế ngày 26/4/2013 từ ông Nguyễn Quang H7, bà Nguyễn Thị D1 sang bà Nguyễn Thị D1 (Đỗ Thị N); Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 29/7/2013 giữa bà Nguyễn Thị D1 (Đỗ Thị N) và anh Nguyễn Quang H1; Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày 25/02/2019 giữa anh Nguyễn Quang H1 và anh Nguyễn Quỳnh C.

- Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Y945907 cấp ngày 28/7/2004 cho ông Nguyễn Quang H7 và bà Nguyễn Thị D1 (Đỗ Thị N). Hủy các nội dung đính chính trang 04 đăng ký biến động sang tên quyền sử dụng đất: Từ ông Nguyễn Quang H7 sang bà Nguyễn Thị D1 (Đỗ Thị N) ngày 13/6/2013, từ bà Nguyễn Thị D1 (Đỗ Thị N) sang anh Nguyễn Quang H1 ngày 15/9/2013 và từ anh Nguyễn Quang H1 sang anh Nguyễn Quỳnh C ngày 25/02/2019.

- Xác nhận quyền sử dụng thửa đất số 405, tờ bản đồ số 7, diện tích 187,3m² tại thôn N, xã Q, huyện V, tỉnh Bắc Giang (nay là tổ dân phố N, Phường N, tỉnh Bắc Ninh) là của gia đình ông Nguyễn Quang D. Buộc gia đình anh Nguyễn Quỳnh C phải trả lại gia đình ông Nguyễn Quang D thửa đất trên.

Ông Nguyễn Quang D có quyền và nghĩa vụ đến các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để kê khai đăng ký quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở và các tài sản

khác gắn liền trên đất theo quy định của pháp luật sau khi đã thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ tài chính (nếu có).

2. Đình chỉ yêu cầu của ông Nguyễn Quang D về việc yêu cầu buộc anh Nguyễn Quỳnh C phải bồi thường thiệt hại về các tài sản mà anh C đã phá dỡ của gia đình ông là 400.000.000 đồng.

Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 19/9/2025, bị đơn là ông Nguyễn Quỳnh C kháng cáo toàn bộ bản án.

Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; Bị đơn giữ nguyên ý kiến của mình. Các đương sự không tự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án.

Trong phần tranh luận, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn trình bày như sau: Về thủ tục cấp GCNQSDĐ cho hộ ông H7, bà D1 là phù hợp với pháp luật, bởi nguồn gốc sử dụng đất là cha ông để lại đến năm 2004 vợ chồng ông H7, bà D1 được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp GCNQSDĐ. Về văn bản phân chia thừa kế ngày 26/4/2013 và Hợp đồng tặng cho ngày 29/7/2013 được coi là người thứ ba ngay tình nên Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa anh H1 và ông C có hiệu lực pháp luật, đồng thời, tại thời điểm chuyển nhượng thửa đất không có tranh chấp với ai, việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã tuân thủ đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật và đã hoàn thành thủ tục đăng ký vào sổ địa chính, do đó, đề nghị hội đồng xét xử căn cứ khoản 2, Điều 308, Điều 309 BLTTDS xử; Chấp nhận kháng cáo của ông C, sửa bản án dân sự nêu trên theo hướng:

  • - Hủy phần quyết định đã tuyên giao dịch chuyển nhượng từ ông Nguyễn Quang H1 sang ông Nguyễn Quỳnh C.
  • Xác định ông C là người thứ 3 ngay tỉnh trong giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất.

Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn phát biểu tranh luận:

1. Bản án số 62 xác định thửa đất số 405, tờ bản đồ số 7, diện tích 187,3 m² tại địa chỉ thôn N, xã Q, huyện V, tỉnh Bắc Giang là của vợ chồng ông Nguyễn Quang D và buộc gia đình ông Nguyễn Quỳnh C phải trả lại thửa đất này cho vợ chồng ông D là hoàn toàn có căn cứ, bởi lẽ:

2. Bản án số 62 tuyên Huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Y945907 cấp ngày 28/7/2004 cho ông Nguyễn Quang H7 và bà Nguyễn Thị D1 (Nguyễn Thị

N3) là hoàn toàn có căn cứ, bởi Giấy chứng nhận QSDĐ cấp cho ông H7, bà D1 có nhiều sai phạm về đối tượng, trình tự, thủ tục nên phải huỷ bỏ, cụ thể:

3. Bản án số 62 chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông D tuyên vô hiệu các giao dịch dân sự liên quan đến thửa đất số 405, tờ bản đồ số 07, diện tích 187,3 m2 tại địa chỉ thôn N, xã Q, huyện V, tỉnh Bắc Giang vô hiệu gồm: Văn bản phân chia di sản thừa kế ngày 26/4/2013 từ ông Nguyễn Quang H7, bà Nguyễn Thị D1 sang bà Nguyễn Thị D1, Hợp đồng tặng cho QSDĐ từ bà Nguyễn Thị D1 sang anh Nguyễn Quang H1 ngày 29/7/2013 và Hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ từ anh Nguyễn Quang H1 sang ông Nguyễn Quỳnh C ngày 25/02/2019 là có căn cứ, bởi lẽ:

Đề nghị hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của Nguyễn Quỳnh C, giữ nguyên bản án dân sự số 62 ngày 15/9/2025 của TAND khu vực 2 – Bắc Ninh (gửi kèm hội đồng xét xử luận cứ)

Người đại diện theo uỷ quyền của ông D đồng ý với luận cứ của luật sư không có ý kiến bổ sung.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân thủ pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý phúc thẩm cho đến phần tranh luận tại phiên tòa là đảm bảo theo đúng trình tự, quy định của pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308; Điều 147 BLTTDS và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử: Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Quỳnh C, giữ nguyên bản án dân sự số 62/2025/DSST, ngày 15/9/2025 của TAND khu vực 2 – Bắc Ninh.

Án phí: Các đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng và sau khi nghe ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của ông Nguyễn Quỳnh C nộp trong hạn luật định, đã thực hiện đầy đủ thủ tục tố tụng nên được xem xét giải quyết theo trình tự xét xử phúc thẩm.

Bản án sơ thẩm xác định về quan hệ “tranh chấp quyền sử dụng đất và thẩm quyền giải quyết” vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân khu vực 2 – Bắc

Ninh là đúng theo quy định tại khoản 3 Điều 26, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2]. Về nội dung: Ông Nguyễn Quang D, ông Nguyễn Quang H6 và ông Nguyễn Quang H7 (chồng bà Nguyễn Thị D1 - tức bà Đỗ Thị N) và ông Nguyễn Quang B là anh em ruột. Năm 1977, ông D có mua của cụ T1 01 thửa đất ở ngay sau nhà bố mẹ. Cũng cùng năm 1977, vợ chồng ông H6 bà L1 có mua 178m² của ông Nguyễn Hữu G nay là thửa đất số 405, tờ bản đồ số 7, diện tích 187,3m² có địa chỉ thôn N, xã Q, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. Sau khi ông H6 mua thửa đất trên có làm nhà tranh vách đất để ở. Ngày 20/2/1979 vợ chồng ông H6 và vợ chồng ông D đổi đất cho nhau, việc đổi đất có lập giấy viết tay. Sau khi đổi đất, vợ chồng ông D ra ở riêng và sử dụng ổn định từ năm 1979 không có tranh chấp gì.

Năm 1996 gia đình ông D vào trong miền N làm ăn sinh sống. Đến tháng 2/2019 ông D biết tin toàn bộ nhà, đất của gia đình ông đã bị bán cho ông Nguyễn Quỳnh C là hàng xóm sống liền kề sát cạnh thửa đất số 405. Sau đó qua quá trình làm việc tại thôn, xã thì ông D mới biết vợ chồng ông H6 và bà D1 là em trai và em dâu của ông lợi dụng lúc vợ chồng ông vắng nhà đã tự ý kê khai để làm thủ tục cấp GCNQSDĐ đối với thửa đất của gia đình ông từ ngày 28/7/2004. Năm 2008 ông H7 chết, ngày 26/4/2013 mẹ con bà D1 làm Văn bản phân chia thừa kế thửa đất số 405 sang tên bà D1 và đã được Văn phòng đăng ký đất đai huyện V đăng ký biến động thửa đất số 405 từ tên vợ chồng ông H7 bà D1 sang tên bà D1. Ngày 29/7/2013 bà D1 làm Hợp đồng tặng cho thửa đất số 405 cho con trai là anh Nguyễn Quang H1. Ngày 19/5/2019 anh H1 làm hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 405 cho ông Nguyễn Quang C2 với giá 490.000.000đ và ngay trong ngày chi nhánh VPĐKDĐ huyện V đăng ký biến động thửa đất trên sang tên ông C2.

Vì vậy ông D khởi kiện đề nghị Toà án giải quyết:

  • Huỷ GCNQSDĐ số Y945907 cấp ngày 28/7/2004 đối với thửa đất số 405 mang tên ông Nguyễn Quang H7, bà Nguyễn Thị D1 (Đỗ Thị N).
  • Huỷ các nội dung đăng ký biến động QSDĐ của Chi nhánh VPĐKĐĐ huyện V: Ngày 13/6/2013 từ vợ chồng ông Nguyễn Quang H7, bà Nguyễn Thị D1 sang bà Nguyễn Thị D1, ngày 15/9/2013 từ bà Nguyễn Thị D1 sang anh Nguyễn Quang H1, ngày 25/02/2019 từ anh Nguyễn Quang H1 sang ông Nguyễn Quỳnh C.
  • Tuyên các giao dịch dân sự sau vô hiệu:
    • + Văn bản phân chia di sản thừa kế đối thửa đất số 405 từ vợ chồng ông Nguyễn Quang H7 và bà Nguyễn Thị D1 (Đỗ Thị N) sang bà Nguyễn Thị D1 lập ngày

26/4/2013, chứng thực ngày 04/6/2013 tại UBND xã Q (nay là phường N, tỉnh Bắc Ninh).

  • + Hợp đồng tặng cho QSDĐ là thửa đất số 405 từ bà Nguyễn Thị D1 (Đỗ Thị N) sang anh Nguyễn Quang H1 ngày 29/7/2013.
  • + Hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ và tài sản gắn liền với đất là thửa đất số 405 từ anh Nguyễn Quang H1 sang anh Nguyễn Quỳnh C ngày 25/02/2019.
  • - Xác định Thửa đất số 405 thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ông Nguyễn Quang D và bà Nguyễn Thị L1.

Tòa án cấp sơ thẩm xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Sau khi Tòa án cấp sơ thẩm xử, bị đơn là ông Nguyễn Quang C2 kháng cáo toàn bộ bản án.

Xét kháng cáo của ông C2 thấy:

Thứ nhất, về nguồn gốc thửa đất: Căn cứ vào “Giấy bán đất ngày 25/3/1977 của ông Vũ Hữu G1” và “Giấy đổi đất ngày 20/2/1979 của ông Nguyễn Quang H6” cùng các lời trình bày của ông G1, ông H6, ông T3, ông K1, ông N4, bà H4, ông V2 thể hiện thửa đất số 405 là do vợ chồng ông H6 mua của ông G1 vào ngày 25/3/1997 và ngày 20/2/1979 vợ chồng ông H6 đổi đất cho vợ chồng ông D. Quá trình sử dụng đất vợ chồng ông D đã nhiều lần xây dựng công trình trên đất. Bà D1 cho rằng thửa đất trên là của bố mẹ chồng bà cho vợ chồng bà tuy nhiên bà không cung cấp được tài liệu chứng cứ nào chứng minh việc bố mẹ chồng cho bà đất. Vợ chồng bà cũng chưa từng quản lý, sử dụng hay đống thuế đối với thửa đất trên. Ngoài ra chính các anh trai em ruột của ông H7 cũng đều xác nhận cụ C1 và cụ D3 không có thửa đất số 405. Bên cạnh đó, căn cứ vào các Giấy thông báo nộp thuế, sản và các loại nghĩa vụ vụ mùa năm của địa phương từ năm 2007 đến năm 2011 đều mang tên người sử dụng là ông Nguyễn Quang D và cũng chính ông D là người thực hiện nghĩa vụ nộp các loại thuế của nhà nước. Như vậy có thể thấy thửa đất số 405 là thuộc quyền quản lý, sử dụng hợp pháp của vợ chồng ông D.

Thứ hai, về thủ tục cấp GCNQSDĐ cho hộ ông H7, bà D1: Nguồn gốc của thửa đất số 405 là của vợ chồng ông D tuy nhiên năm 2001 khi vợ chồng ông H7, bà D1 kê khai cấp GCNQSDĐ ghi nguồn gốc sử dụng đất là cha ông để lại, chính quyền địa phương không xác minh thực tế chủ sử dụng đất đã cấp GCNQSDĐ cho người không sử dụng đất. Năm 2004 khi vợ chồng ông H7, bà D1 được cấp GCNQSDĐ thì ông D vẫn đang là người quản lý, sử dụng đất và nộp thuế đất hàng năm, trên đất vẫn còn các tài sản, công trình, nhà cửa do gia đình ông D tạo lập.

Ngoài ra tại văn bản trình bày quan điểm của UBND phường Q cũng như văn bản trình bày của UBND huyện V cũng xác nhận quá trình lập hồ sơ cũng như trình tự thủ tục cấp GCNQSDĐ cho hộ ông H7, bà D1 còn có một số nội dung không đầy đủ. Như vậy có thể thấy trình tự thủ tục cấp GCNQSDĐ cho hộ ông H7, bà D1 có nhiều sai phạm, chính quyền địa phương đã không xác nhận đúng về nguồn gốc sử dụng đất, hiện trạng sử dụng đất, tình trạng tranh chấp đối với thửa đất số 405 dẫn đến việc đã cấp GCNQSDĐ không đúng đối tượng, đây là sai phạm không thể khắc phục được.

Thứ ba, về văn bản phân chia thừa kế ngày 26/4/2013 và Hợp đồng tặng cho ngày 29/7/2013: Xét thấy nguồn gốc của thửa đất số 405 là của vợ chồng ông D, vợ chồng ông H7 bà D1 không có quyền định đoạt hay phân chia, tặng cho thửa đất trên. Do đó việc cấp GCNQSDĐ cho bà D1 theo như văn bản phân chia thừa kế cũng như việc bà D1 tặng cho anh H1 thửa đất trên là không đúng quy định. Anh H1 biết rõ nguồn gốc đất không phải của bố mẹ anh nhưng vẫn nhận nên không được coi là người thứ ba ngay tình.

Thứ tư, về Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa anh H1 và ông C2: Khi ông D nhận được thông tin bà D1 có ý định chuyển nhượng thửa đất số 405 cho ông C2 thì ngày 22/2/2019 ông D có đơn gửi UBND xã đề nghị xem xét việc gia đình bà D1 tự ý kê khai thửa đất của gia đình ông D để cấp GCNQSDĐ. Ngày 25/2/2019 anh H1 và ông C2 thực hiện các thủ tục chuyển nhượng là không đúng quy định của pháp luật vì thời điểm này thửa đất đang tranh chấp thuộc trường hợp cấm giao dịch, chuyển nhượng. Hơn nữa, thửa đất được VPĐKĐĐ huyện V tiếp nhận hồ sơ và tiến hành đăng ký biến động tên từ anh H1 sang ông C2 trong vòng một ngày (ngày 25/02/2019) khi ông C2 chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính nộp lệ phí trước bạ nhà đất vào Ngân sách Nhà nước, mà sau hai ngày (ngày 27/02/2019) ông C2 mới nộp lệ phí trước bạ. Như vậy, việc chuyển nhượng và sang tên đã không tuân thủ đúng trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật. Ngoài ra, gia đình ông C2 ở liền kề thửa đất số 405 nên ông C2 biết rõ về nguồn gốc, quá trình sử dụng thửa đất của gia đình ông D.

Từ những nhận định, phân tích nêu trên có thể thấy Toà án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ. Ông Nguyễn Quỳnh C là người kháng cáo nhưng trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa phúc thẩm không đưa ra được tài liệu chứng cứ nào mới chứng minh cho kháng cáo của mình là

có căn cứ, do đó, cần bác toàn bộ kháng cáo của ông C, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 62/2025/DSST ngày 15/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Bắc Ninh.

[3]. Các quyết định khác của bản án dân sự sơ thẩm số 62/2025/DSST ngày 15/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Bắc Ninh không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật.

[4]. Về án phí: Ông Nguyễn Quỳnh C phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Quỳnh C, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 62/2025/DSST ngày 15/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Bắc Ninh.

2. Về án phí phúc thẩm: Ông Nguyễn Quỳnh C phải chịu 300.000đ án phí dân sự phúc thẩm nhưng được trừ số tiền 300.000đ tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm theo biên lai thu số 0000832 ngày 19/9/2025 của Phòng thi hành án dân sự khu vực 2 - Bắc Ninh.

3. Các quyết định khác của bản án dân sự sơ thẩm số 62/2025/DSST ngày 15/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Bắc Ninh không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bắc Ninh;
  • - TAND khu vực 2 - Bắc Ninh;
  • - Phòng THADS khu vực 2- Bắc Ninh;
  • - Các đương sự (theo địa chỉ);
  • - Lưu hồ sơ; HCTTP

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thanh Bình

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 213/2025/DS-PT ngày 18/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 213/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 18/12/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất giữa Nguyên đơn: Ông Nguyễn Quang Dũng, sinh năm 1955 và bị đơn Ông Nguyễn Quỳnh Châu, sinh năm 1976;
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger