Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN BA ĐÌNH

THÀNH PHỐ HÀ NÔI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 213/2024/HSST

Ngày 29 tháng 11 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Hạnh

Các hội thẩm nhân dân: Bà Dương Thị Diễm

Bà Ngô Thuỳ Linh

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Sơn – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 11 năm 2024, tại Phòng xét xử Tòa án nhân dân quận Ba Đình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 218/2024/TLST- HS ngày 19 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 462/2024/QĐXXST- HS ngày 19 tháng 11 năm 2024 đối với:

Họ và tên: Trần Việt C, Sinh năm: 1995;HKTT: Thôn C, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội; Nơi ở: Không cố định; Nghề nghiệp: Tự do; Văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Trần Văn N; Con bà: Kiều Thị T; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; D chỉ bản số: 302 lập ngày 16/07/2024 tại Công an quận B, thành phố Hà Nội; Bị cáo đầu thú ngày: 07/07/2024; Hiện đang tạm giam tại trại giam S – Công an thành phố H. Có mặt tại phiên toà.

Người bị hại: Chị Nguyễn Thu H – SN: 1983

HKTT: Số C H, tổ C, phường Ô, quận Đ, thành phố Hà Nội. Hiện ở: Số B ngõ H N, phường Ô, quận Đ, thành phố Hà Nội. (Có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Việt C - SN: 1995, nơi thường trú: Thôn C, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội làm cộng tác viên hỗ trợ làm hồ sơ vay vốn của Ngân hàng V, thông qua nhóm hỗ trợ vay vốn Ngân hàng, C nhận hồ sơ vay vốn cho khách hàng Nguyễn Thu H- SN: 1983; nơi thường trú: 30 H, tổ C, phường Ô, quận Đ, thành phố Hà Nội thông qua Nguyễn Tuấn T1 - SN: 1987, trú tại: nhà H ngách D ngõ G, phường T, quận H, thành phố Hà Nội giới thiệu. Ngày 7/6/2024, C nhận hồ sơ vay vốn của chị H. Sau khi nhận hồ sơ vay vốn của chị H, C chuyển hồ sơ cho Đặng Thị H1 - SN: 1990, trú tại: Thôn L, xã Q, huyện C, thành phố Hà Nội là nhân viên ngân hàng V1 chi nhánh A, quận H, thành phố Hà Nội để làm thủ tục vay vốn cho chị H. Do đang nợ nần từ trước nên C có ý định chiếm đoạt số tiền của chị H khi được Ngân hàng giải ngân, C nhắn tin cho T1 bảo chị H cung cấp tên đăng nhập và mật khẩu APP V2 để C đẩy hồ sơ vay vốn lên Ngân hàng, anh T1 nói lại với chị H thì chị H đồng ý và nhắn tin cho C tên đăng nhập và mật khẩu APP V2 cho C. Tối ngày 27/6/2024, Trần Việt C sử dụng APP V2 trên điện thoại của C để đăng nhập nhưng không được, trước đó C nhắn tin cho chị H hướng dẫn chị H quét mã QR từ điện thoại của chị H gửi cho C nhưng chị H không biết làm và không gửi được cho C. Khoảng 14h ngày 28/6/2024, C đến gặp chị H tại 104, K8 T, phường T, quận B, thành phố Hà Nội để thao tác lấy mã QR từ APP V2 trong điện thoại của chị H để cài mã QR từ APP V2 của chị H sang điện thoại của C thì C chiếm được quyền sử dụng thẻ ngân hàng của chị H. Khi C cài được mã QR sang điện thoại của C thì C đăng nhập được vào tài khoản của chị H và chị H không đăng nhập được vào tài khoản của mình nữa, sau khi cài được mã QR C về nhà nghỉ trên đường M, N nghỉ ngơi. Khoảng 20h cùng ngày, khi biết ngân hàng giải ngân số tiền 142.500.000đ (một trăm bốn mươi hai triệu, năm trăm ngàn đồng) vào trong tài khoản của chị H thì C đã truy cập vào tài khoản ngân hàng của chị H qua ứng dụng V2 đã cài trên điện thoại Iphone 7 Plus của C rồi chiếm đoạt toàn bộ số tiền 142.857.143 đồng (một trăm bốn mươi hai triệu, tám trăm năm mươi bảy ngàn, một trăm bốn mươi ba đồng). Sau đó, C chuyển 30 triệu đồng vào tài khoản của anh Tướng Văn G - SN: 1996, HKTT: xã M, huyện H, tỉnh Tuyên Quang là bạn của C và nhờ G chuyển số tiền trên vào tài khoản của C số số 6689599999 mở tại Ngân hàng T2 mang tên Trần Việt C. Số tiền còn lại, C tiếp tục chuyển vào tài khoản ngân hàng của C. Sau đó, C nạp tiền vào tài khoản game để chơi game và đã thua hết toàn bộ số tiền trên. Khi chị H biết việc Ngân hàng đã giải ngân và yêu cầu C đưa tổng số tiền 142.857.143 đồng cho chị H thì C lấy lý do nhà có việc rồi tắt máy. Khi biết chị H, anh T1 tìm kiếm nên ngày 7/7/2024 C đã đến Công an phường Thành Công đầu thú.

Tang vật của vụ án: Thu giữ của Trần Việt C: 01 một điện thoại Iphone 7 Plus màu đen đã qua sử dụng.

Tại cơ quan điều tra, Trần Việt C đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên, lời khai nhận tội phù hợp với lời khai của người bị hại, người liên quan cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ.

Về dân sự: Chị Nguyễn Thu H đề nghị Trần Việt C trả lại số tiền 142.857.143 đồng mà C đã chiếm đoạt.

Tại bản cáo trạng số 213/CT-VKSBĐ ngày 15/11/2024 của Viện kiểm sát Nhân dân quận Ba Đình đã truy tố Trần Việt C về tội Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản theo qui định tại điểm đ, khoản 2, Điều 290 Bộ luật hình sự năm 2015.

Áp dụng Điểm đ, khoản 2, Điều 290; điểm b, s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật hình sự đề nghị:

Xử phạt bị cáo Trần Việt C từ 04 năm đến 05 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 07/07/2024.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo; Buộc bị cáo phải bồi thường cho chị H số tiền 122.857.143 đồng.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 chiếc điện thoại di động Iphone 7 plus màu đen, đã qua sử dụng. Theo biên bản bàn giao số 41 ngày 28/11/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.

Tại phiên tòa, bị cáo Trần Việt C đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình và lời nói sau cùng trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án bị cáo xin hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo được hưởng lượng khoan hồng của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận B, thành phố Hà Nội, Điều tra viên. Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với vật chứng thu giữ và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 14h00 ngày 28/6/2024, tại 104 - K8 T, phường T, quận B, thành phố Hà Nội, Trần Việt C có hành vi thao tác lấy mã QR từ APP V2 trong điện thoại của chị H để cài mã QR từ APP V2 của chị H sang điện thoại Iphone 7 của C để chiếm quyền sử dụng thẻ Ngân hàng của chị H và đã chiếm đoạt số tiền 142.500.000 đồng Ngân hàng V1 giải ngân cho chị H và số tiền còn trong thẻ của chị H là 357.142 đồng. Tổng số tiền C chiếm đoạt là 142.857.143₫ (một trăm bốn mươi hai triệu, tám trăm năm mươi bảy ngàn, một trăm bốn mươi ba đồng), C đã tiêu xài hết số tiền trên.

Hành vi sử dụng viễn thông, phương tiện điện tử của bị cáo đã chiếm đoạt tài sản của người bị hại. Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội đã truy tố bị cáo về tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản” theo Điểm đ, khoản 2, Điều 290 Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3]. Xét hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của ngưởi khác, tạo dư luận bất bình, bức xúc đối với người bị hại. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với động cơ mục đích vụ lợi cá nhân, vì vậy việc đưa bị cáo ra xét xử là cần thiết và cần phải có một bản án nghiêm khắc. Khi lượng hình, Hội đồng xét xử cũng xem xét quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải. Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; Tại phiên toà, Bị cáo đã tác động đến gia đình bồi thường cho người bị hại số tiền 20.000.000 đồng và gia đình hứa sẽ trả dần số tiền còn thiếu cho chị H thay cho bị cáo. Người bị hại chị Nguyễn Thu H đã nhận 20.000.000 đồng và yêu cầu bồi thường cho chị số tiền còn lại 122.857.143 đồng và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Hội đồng xét xử căn cứ những tình tiết giảm nhẹ nêu trên để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt cũng có tác dụng giáo dục và phòng ngừa chung. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s, khoản 1, khoản 2, điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự.

Miễn hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

[4]. Về trách nhiệm dân sự: Chị Nguyễn Thu H đã nhận 20.000.000 đồng và yêu cầu bị cáo phải trả lại số tiền bị chiếm đoạt là 122.857.143 đồng, ngoài ra không có yêu cầu bồi thường gì khác.

[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại Khoản 5, Điều 290 Bộ luật Hình sự.

[6] Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 chiếc điện thoại di động Iphone 7 plus màu đen, đã qua sử dụng cùng. Theo biên bản bàn giao số 41 ngày 28/11/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.

[7] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Luật phí và lệ phí số: 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015. Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;

Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điểm đ, Khoản 2, Điều 290; Điểm b,s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Trần Việt C phạm tội “Sử dụng mang máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản”.

Xử phạt bị cáo Trần Việt C 04 (B) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07/07/2024.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo;

Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Trần Việt C phải bồi thường cho chị Nguyễn Thu H số tiền 122.857.143 đồng. Ngoài ra, chị H không có yêu cầu bồi thường gì khác nên tòa không xét.

Căn cứ vào Khoản 1, Khoản 2, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 chiếc điện thoại di động Iphone 7 plus màu đen, đã qua sử dụng. Theo biên bản bàn giao số 41 ngày 28/01/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.

* Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí và lệ phí số: 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;

Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 6.142.857 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

* Về quyền kháng cáo: Áp dụng khoản 1, khoản 4, Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015;

Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày Toà tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND TP thành phố Hà Nội;
  • - VKSND thành phố Hà Nội;
  • - VKSND quận Ba Đình;
  • - Công an quận Ba Đình;
  • - Chi cục THADS quận Ba Đình;
  • - UBND phường Minh Khai;
  • - Trại tạm giam số 1 Hà Nội;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Thuý Hạnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 213/2024/HSST ngày 29/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự sơ thẩm (sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản)

  • Số bản án: 213/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bị cáo Trần Việt C phạm tội “Sử dụng mang máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản”.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger