TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 213/2024/HSST Ngày: 12/8/2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM – TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Bá Đức.
- - Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Đặng Quang Hoạch.
- 2/ Ông Tạ Văn Đài
- - Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Hồng Phúc – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom tham gia phiên tòa: Ông Trần Phú Lộc - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 174/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 183/2024/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 6 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số: 205/2024/HSST-QĐ ngày 18 tháng 7 năm 2024, Thông báo về việc thay đổi thời gian mở phiên tòa số: 210/TB-TA ngày 28 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 220/2024/HSST-QĐ ngày 08 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Nguyễn Hoàng V, sinh năm 1994 tại Đồng Nai; nơi cư trú: Ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên Chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1962 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1966; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị giam giữ từ ngày 10/10/2023 đến ngày 19/10/2023 bị cáo được tại ngoại (Có mặt).
- Giang Quý H, sinh năm 2002 tại Đồng Nai; nơi cư trú: Ấp T, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Phụ xe; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên Chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Giang Trần M, sinh năm 1977 và bà Lê Thị H1, sinh năm 1981; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị giam giữ từ ngày 10/10/2023 đến ngày 19/10/2023 bị cáo được tại ngoại (Có mặt).
- Nguyễn Đăng Minh D, sinh năm 2002 tại Đồng Nai; nơi cư trú: Ấp T, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên Chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đăng D1, sinh năm 1965 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1966; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị giam giữ từ ngày 10/10/2023 đến ngày 19/10/2023 bị cáo được tại ngoại (Có mặt).
- Nguyễn Phúc T, sinh năm 2001 tại Đồng Nai; nơi cư trú: Ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên Chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1970 và bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1968; tiền án: 01 (Ngày 29/8/2023, bị Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai xử phạt 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) về tội “Đánh bạc” theo Bản án số: 181/2023/HSST), tiền sự: Không; bị cáo bị giam giữ từ ngày 05/12/2023 đến ngày 15/5/2024 bị cáo được tại ngoại (Có mặt).
- Nguyễn Tiến Đ, sinh năm 1996 tại Đồng Nai; nơi cư trú: Ấp T, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên Chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đức T3, sinh năm 1973 và bà Nguyễn Thị Minh C1, sinh năm 1972; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị giam giữ từ ngày 27/02/2024 đến ngày 15/5/2024 bị cáo được tại ngoại (Có mặt).
- Âu Đức C2, sinh năm 1999 tại Đồng Nai; nơi cư trú: Ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên Chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Âu Thành T4, sinh năm 1975 và bà Nguyễn Thị Ngọc A, sinh năm 1980; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị giam giữ từ ngày 04/3/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ (Có mặt).
- Nguyễn Tuấn P, sinh năm 1994 tại Đồng Nai; nơi cư trú: Ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hóa: 612; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên Chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Tuấn K, sinh năm 1961 và bà Nguyễn Thị T5, sinh năm 1968; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị giam giữ từ ngày 18/3/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Hoàng V, Giang Quý H, Nguyễn Đăng Minh D, Nguyễn Phúc T, Nguyễn Tiến Đ, Âu Đức C2 và Nguyễn Tuấn P là bạn bè ngoài xã hội với nhau. Do Nguyễn Hoàng V có mâu thuẫn từ trước với Đặng Bá L1 nên vào khoảng 10 giờ ngày 08/10/2023, trong lúc đang ăn nhậu cùng một số người bạn tại ấp B, B, huyện T, V gọi điện thoại cho L1 thách thức và hẹn L1 đánh nhau tại khu phố C, thị trấn T, huyện T. Sau đó, V rủ Giang Quý H, Nguyễn Đăng Minh D, Nguyễn Phúc T, Nguyễn Tiến Đ, Âu Đức C2, Nguyễn Tuấn P và đối tượng tên P1 (không rõ nhân thân, lai lịch) giúp V đánh nhau với Đặng Bá L1 để giải quyết mâu thuẫn thì cả bọn cùng đồng ý. Sau đó, V điều khiển xe mô tô hiệu Libety biển số: 60B8-550.09 chở theo Âu Đức C2, P1 về nhà C2 và nhà V lấy 04 con dao tự chế (cán dao bằng tuýp sắt được hàn dao phát và dao quắm ở 01 đầu) được cất giấu trong 01 bao vải. Sau khi chuẩn bị hung khí, V điều khiển xe biển số: 60B8-550.09 chở C2, P1 ngồi giữa đeo bao hung khí, D điều khiển xe hiệu Honda-Wave, biển số: 60B8-448.02 chở H, còn P điều khiển xe hiệu Honda-Vison, biển số: 60H1-178.68 chở Đ và T đi theo phía sau đi đến khu phố C, thị trấn T, huyện T tìm L1 để đánh. Cả nhóm đi đến khu vực trước cửa quán C3 thuộc đường H, khu phố C, thị trấn T, huyện T do không tìm được L1 nên V và đồng bọn dừng xe sát vào lề đường rồi P1 và C2 xuống xe cất giấu bao hung khí vào bãi cỏ cách lề đường H khoảng 02 mét. Sau đó V cùng đồng bọn đi đến quán T7 thuộc khu phố C, thị trấn T, huyện T nhậu để chờ L1 ra đánh nhau. Trong quá trình ăn nhậu tại quán thì V tiếp tục liên lạc hẹn L1 đến cổng sân Gold thuộc khu phố C, thị trấn T để đánh nhau. Lúc này V nói cho cả nhóm cùng nhau đi đến bãi cỏ lấy bao hung khí giấu trước đó để đi đến cổng sân Gold thuộc khu phố C, thị trấn T để đánh nhau với L1. Khi V và đồng bọn quay ra lại bãi cỏ nơi cất giấu hung khí trước đó để lấy hung khí đi đánh nhau thì Công an thị trấn Trảng Bom tuần tra phát hiện thu giữ hung khí và triệu tập V, D, H về trụ sở Công an làm việc, các đối tượng còn lại bỏ chạy trốn thoát. Công an thị trấn T lập hồ sơ ban đầu và chuyển hồ sơ cho Cơ quan CSĐT Công an huyện T thụ lý theo thẩm quyền.
Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện T đã ra Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Nguyễn Hoàng V, Giang Quý H, Nguyễn Đăng Minh D, Nguyễn Phúc T, Nguyễn Tiến Đ, Âu Đức C2 và Nguyễn Tuấn P về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại khoản 6 Điều 134 Bộ luật hình sự để điều tra, xử lý theo quy định. Quá trình điều tra Nguyễn Tiến Đ, Âu Đức C2 và Nguyễn Tuấn P đã bỏ trốn nên Cơ quan điều tra Công an huyện T ra Quyết định truy nã đối với Đ, C2 và P. Ngày 27/02/2024, Nguyễn Tiến Đ đến Cơ quan điều tra Công an huyện T để đầu thú. Ngày 04/3/2024 và ngày 18/3/2024, Âu Đức C2 và Nguyễn Tuấn P bị bắt theo Quyết định truy nã.
Quá trình điều tra, các bị can Nguyễn Hoàng V, Giang Quý H, Nguyễn Đăng Minh D, Nguyễn Phúc T, Nguyễn Tiến Đ, Âu Đức C2 và Nguyễn Tuấn P có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Vật chứng thu giữ gồm: 01 bao vải bên trong có 02 cây tuýp sắt được hàn dao phát dài khoảng 1.5(m), 01 cây tuýp sắt được hàn dao quắm dài khoảng 01(m) và 01 cây tuýp sắt được hàn dao phát dài khoảng 1.3(m); xe mô tô hiệu Libety, biển số 60B8-550.09 và điện thoại di động Iphone X là tài sản của Nguyễn Hoàng V, V sử dụng vào việc phạm tội.
Đối với Xe mô tô hiệu Wave, biển số 448.02 là tài sản hợp pháp của anh Nguyễn Đăng M1 (cha của Nguyễn Đăng Minh D), anh M1 cho D mượn sử dụng làm phương tiện đi lại. Khi D sử dụng xe mô tô trên vào việc phạm tội anh M1 không biết nên Cơ quan điều tra Công an huyện T đã trả lại cho anh M1.
Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6 Plus là tài sản của Nguyễn Đăng Minh D, D không sử dụng vào việc phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T trả lại cho D.
Đối với xe mô tô Honda-Vison, biển số: 60H1-178.68 là tài sản hợp pháp của chị Nguyễn Thị Tú H2 và chị H2 không biết P sử dụng vào mục đích phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T không tạm giữ và không xử lý.
Tại Cáo trạng số: 174/CT-VKS-TB ngày 15/5/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai đã truy tố bị cáo Nguyễn Hoàng V, Giang Quý H, Nguyễn Đăng Minh D, Nguyễn Phúc T, Nguyễn Tiến Đ, Âu Đức C2, và Nguyễn Tuấn P về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại khoản 6 Điều 134 Bộ luật Hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai đề nghị Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom xử phạt các bị cáo Nguyễn Hoàng V, Giang Quý H, Nguyễn Đăng Minh D, Âu Đức C2 mức án từ 15 (Mười lăm) tháng đến 18 (Mười tám) tháng cải tạo không giam giữ; xử phạt các bị cáo Nguyễn Phúc T, Nguyễn Tiến Đ, Nguyễn Tuấn P mức án bằng thời gian giam giữ.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các các bị cáo không nộp thêm tài liệu chứng cứ nào khác và đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Các bị cáo không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát và lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
[2]. Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai nhận của các bị cáo tại Cơ quan điều tra; lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định các bị cáo đã phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại khoản 6 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[3]. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất an ninh, trật tự tại địa phương nên cần phải xử phạt các bị cáo một mức án tương xứng với hành vi của các bị cáo. Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với vai trò đồng phạm, nhưng chỉ dừng lại ở tính chất giản đơn. Bị cáo V là người rủ rê và tích cực thực hiện hành vi phạm tội nên có vai trò thứ nhất; các bị cáo D, T, Đ, C2 và P tích cực thực hiện hành vi phạm tội nên có vai trò thứ hai trong vụ án. Bị cáo T bị Tòa án xét xử chưa được xóa án tích mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội nên cần áp dụng điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử khi lượng hình cũng cần xem xét đến việc các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại nên cần áp dụng điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo. Các bị cáo V, D, Đ, C2 và P phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên cần áp dụng điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo để xem xét cho các bị cáo khi lượng hình thể hiện tính nhân đạo của pháp luật Nhà nước ta. Các bị cáo V, H, D, Đ phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết cách ly khỏi xã hội mà xử phạt các bị cáo hình phạt cải tạo không giam giữ là đủ tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung. Ngoài ra, bị cáo V, H, D, Đ có hoàn cảnh khó khăn nên miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.
[4]. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[5]. Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
- - Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 xe mô tô hiệu Libety 60B8-550.09 đã qua sử dụng, hiện không hoạt động, đã cũ, không kiểm tra được tình trạng kỹ thuật bên trong xe, không kiểm tra được số khung của xe, không có gương chiếu hậu hai bên, số máy: M739M5012678 và 01 điện thoại di động hiệu Iphone đã qua sử dụng, hiện không hoạt động, mặt sau của điện thoại bị bể, trên khay sim có số seri: 356169094089979.
- - Tịch thu tiêu hủy 01 bao vải màu xanh đã qua sử dụng; 02 cây tuýp sắt được hàn dao phát dài khoảng 1,5m đã qua sử dụng; 01 cây tuýp sắt được hàn dao quắm dài khoảng 1m đã qua sử dụng; 01 cây tuýp sắt được hàn dao phát dài khoảng 1,3m đã qua sử dụng và 01 sim có số seri: 8401 1808 5003 5216 WD.
[6]. Đối với người tên P1 (không rõ họ tên, địa chỉ) đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T tiếp tục điều tra làm rõ xử lý sau.
[7]. Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 6 Điều 134; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 và; Điều 36 Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017:
- - Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng V phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- - Xử phạt:
- + Bị cáo Nguyễn Hoàng V 18 (Mười tám) tháng cải tạo không giam giữ, thời hạn cải tạo không giam giữ được tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự huyện T, tỉnh Đồng Nai nhận được quyết định thi hành án, nhưng được trừ đi thời gian bị cáo đã bị giam giữ trước đây (từ ngày 10/10/2023 đến ngày 19/10/2023), cứ 01 ngày tạm giữ, tạm giam bằng 03 ngày cải tạo không giam giữ.
- + Giao bị cáo Nguyễn Hoàng V cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành án. Trong thời gian chấp hành án, người bị kết án phải thực hiện một số nghĩa vụ theo các quy định về cải tạo không giam giữ.
- + Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo Nguyễn Hoàng V.
- Căn cứ khoản 6 Điều 134; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017:
- - Tuyên bố bị cáo Giang Quý H phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- - Xử phạt:
- + Bị cáo Giang Quý H 15 (Mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ, thời hạn cải tạo không giam giữ được tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự huyện T, tỉnh Đồng Nai nhận được quyết định thi hành án, nhưng được trừ đi thời gian bị cáo đã bị giam giữ trước đây (từ ngày 10/10/2023 đến ngày 19/10/2023), cứ 01 ngày tạm giữ, tạm giam bằng 03 ngày cải tạo không giam giữ.
- + Giao bị cáo Giang Quý H cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành án. Trong thời gian chấp hành án, người bị kết án phải thực hiện một số nghĩa vụ theo các quy định về cải tạo không giam giữ.
- + Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo Giang Quý H.
- Căn cứ khoản 6 Điều 134; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017:
- - Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đăng Minh D phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- - Xử phạt:
- + Bị cáo Nguyễn Đăng Minh D 15 (Mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ, thời hạn cải tạo không giam giữ được tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự huyện T, tỉnh Đồng Nai nhận được quyết định thi hành án, nhưng được trừ đi thời gian bị cáo đã bị giam giữ trước đây (từ ngày 10/10/2023 đến ngày 19/10/2023), cứ 01 ngày tạm giữ, tạm giam bằng 03 ngày cải tạo không giam giữ.
- + Giao bị cáo Nguyễn Đăng Minh D cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành án. Trong thời gian chấp hành án, người bị kết án phải thực hiện một số nghĩa vụ theo các quy định về cải tạo không giam giữ.
- + Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo Nguyễn Đăng Minh D.
- Căn cứ khoản 6 Điều 134; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017:
- - Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tiến Đ phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- - Xử phạt:
- + Bị cáo Nguyễn Tiến Đ 15 (Mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ, thời hạn cải tạo không giam giữ được tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự huyện T, tỉnh Đồng Nai nhận được quyết định thi hành án, nhưng được trừ đi thời gian bị cáo đã bị giam giữ trước đây (từ ngày 27/02/2024 đến ngày 15/5/2024), cứ 01 ngày tạm giữ, tạm giam bằng 03 ngày cải tạo không giam giữ.
- + Giao bị cáo Nguyễn Tiến Đ cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành án. Trong thời gian chấp hành án, người bị kết án phải thực hiện một số nghĩa vụ theo các quy định về cải tạo không giam giữ.
- + Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo Nguyễn Tiến Đ.
- Căn cứ khoản 6 Điều 134; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 3 Điều 328 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- - Tuyên bố bị cáo Âu Đức C2, Nguyễn Tuấn P phạm tội “Cố ý gây thương tích".
- - Xử phạt:
- + Bị cáo Âu Đức C2 05 (Năm) tháng 08 (Tám) ngày tù, thời hạn tù tính từ ngày 04/3/2024.
- + Bị cáo Nguyễn Tuấn P 04 (Bốn) tháng 25 (Hai mươi lăm) ngày tù, thời hạn tù tính từ ngày 18/3/2024.
- - Trả tự do cho các bị cáo Âu Đức C2, Nguyễn Tuấn P ngay tại phiên tòa, nếu các bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.
- Căn cứ khoản 6 Điều 134; điểm h, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;
- - Tuyên bố bị cáo Nguyễn Phúc T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- - Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Phúc T 05 (Năm) tháng 10 (Mười) ngày tù, thời hạn tù bằng thời hạn bị cáo đã bị giam, giữ trước đó (Từ ngày 05/12/2023 đến ngày 15/5/2023).
- Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
- - Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 xe mô tô hiệu Libety 60B8-550.09 đã qua sử dụng, hiện không hoạt động, đã cũ, không kiểm tra được tình trạng kỹ thuật bên trong xe, không kiểm tra được số khung của xe, không có gương chiếu hậu hai bên, số máy: M739M5012678 và 01 điện thoại di động hiệu Iphone đã qua sử dụng, hiện không hoạt động, mặt sau của điện thoại bị bể, trên khay sim có số seri: 356169094089979.
- - Tịch thu tiêu hủy 01 bao vải màu xanh đã qua sử dụng; 02 cây tuýp sắt được hàn dao phát dài khoảng 1,5m đã qua sử dụng; 01 cây tuýp sắt được hàn dao quắm dài khoảng 1m đã qua sử dụng; 01 cây tuýp sắt được hàn dao phát dài khoảng 1,3m đã qua sử dụng và 01 sim có số seri: 8401 1808 5003 5216 WD.
- (Hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trảng Bom theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 21/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai).
- Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14: Buộc các bị cáo Nguyễn Hoàng V, Giang Quý H, Nguyễn Đăng Minh D, Âu Đức C2, Nguyễn Phúc T, Nguyễn Tiến Đ, Nguyễn Tuấn P mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Các bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trần Bá Đức |
Bản án số 213/2024/HSST ngày 12/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM – TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự (cố ý gây thương tích)
- Số bản án: 213/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cố ý gây thương tích)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM – TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: BA - HS - Nguyễn Hoàng Vũ + DP - K6 D134 - T08-2024
