TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LÂM THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 213/2024/HS-ST Ngày 22 - 11 - 2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LÂM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thiên Hương
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Minh Long, nghề nghiệp: Giáo viên
Bà Nguyễn Thị Chấn, nghề nghiệp: Giáo viên
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Phương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lâm tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Nhiên - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 11 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 189/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 199/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 10 năm 2024 và các Quyết định hoãn phiên tòa đối với các bị cáo:
Nguyễn Bá H, sinh ngày 26/3/2006 tại Bắc Ninh; Giới tính: Nam; Tên gọi khác : Không; Nơi thường trú: Khu phố Đ, phường X, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Họ tên cha: Nguyễn Bá Q, sinh năm 1979 và họ tên mẹ: Nguyễn Thị H1, sinh năm 1979; Gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Tiền án, tiền sự: không (Theo danh chỉ bản số 273 Công an huyện G lập ngày 02/5/2024).
Không bị tạm giữ tạm giam trong vụ án này
Nhân thân: Ngày 11/9/2024, Tòa án thị xã T, tỉnh Bắc Ninh xử 22 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Hiện bị cáo đang thi hành án tại Nhà tạm giam – Công an tỉnh B từ ngày 31/10/2024. “Có mặt tại phiên tòa”
Người đại diện theo pháp luật của của bị cáo: Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1979, HKTT: Khu phố Đ, phường X, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh. “Có mặt”
Nguyễn Văn A, sinh ngày 22/11/2006 tại Bắc Ninh; Giới tính: Nam; Tên gọi khác : Không; Nơi thường trú: Khu phố N, phường G, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Học sinh; Trình độ học vấn: 11/12; Họ tên cha: Nguyễn Mạnh C, sinh năm 1977 và họ tên mẹ: Nguyễn Thị V, sinh năm 1982; Gia đình bị cáo có 03 chị em, bị cáo là con thứ 2; Tiền án: (Theo danh chỉ bản số 279 Công an huyện G lập ngày 02/5/2024) Không; Tiền sự: Tại Quyết định số: 185/QĐ – XPHC ngày 18/10/2023 của Công an thị xã T xử phạt tiền 2.000.000 đồng về hành vi “Tàng trữ vũ khí thô sơ”. Bị can đã nộp phạt tháng 11/2023.
Không bị tạm giữ tạm giam trong vụ án này.
Nhân thân: Ngày 11/9/2024, Tòa án thị xã T, tỉnh Bắc Ninh xử 22 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Hiện bị cáo đang thi hành án tại Nhà tạm giam – Công an tỉnh B từ ngày 15/11/2024. “Có mặt tại phiên tòa”
Người đại diện theo pháp luật của bị cáo Văn A tại phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh C, sinh năm 1977; Khu phố N, phường G, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh. “Có mặt”
Người bào chữa cho bị cáo Văn A: Bà Hồ Thúy S – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước thành phố H. “Có mặt”
Nguyễn Đắc T, sinh ngày 21/5/2007 tại Bắc Ninh; Giới tính: Nam; Tên gọi khác : Không; Nơi thường trú: Thôn C, xã N, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Học sinh; Trình độ học vấn: 11/12; Họ tên cha: Nguyễn Đắc G, sinh năm 1975 và họ tên mẹ: Lê Thị N, sinh năm 1977; Gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con thứ 2; Tiền án, tiền sự: (Theo danh chỉ bản số 277 Công an huyện G lập ngày 02/5/2024): Không.
Không bị tạm giữ tạm giam trong vụ án này
Nhân thân: Ngày 11/9/2024, Tòa án thị xã T, tỉnh Bắc Ninh xử 16 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Hiện bị cáo đang thi hành án tại Nhà tạm giam – Công an tỉnh B từ ngày 31/10/2024. “Có mặt tại phiên tòa”
Người đại diện theo pháp luật của bị cáo T tại phiên tòa: Bà Lê Thị N sinh năm 1977, Nơi cư trú: Thôn C, xã N, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh. “Có mặt”
Người bào chữa cho bị cáo T: Ông Lê Quang Đ – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước thành phố H. “Có mặt”.
Trần Kim C1, sinh ngày 28/12/2006 tại Bắc Ninh; Giới tính: Nam; Tên gọi khác : Không; Nơi thường trú: Khu phố T, phường X, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 11/12; Họ tên cha: Trần Kim T1, sinh năm 1971 và họ tên mẹ: Nguyễn Thị H2, sinh năm 1972; Gia đình bị cáo có 04 chị em, bị cáo là con thứ 4; Tiền án, tiền sự: (Theo danh chỉ bản số 274 Công an huyện G lập ngày 02/5/2024) không.
Không bị tạm giữ tạm giam trong vụ án này
Nhân thân: Ngày 11/9/2024, Tòa án thị xã T, tỉnh Bắc Ninh xử 16 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Hiện bị cáo đang thi hành án tại Nhà tạm giam – Công an tỉnh B từ ngày 31/10/2024. “Có mặt tại phiên tòa”
Người đại diện theo pháp luật của bị cáo C1 tại phiên tòa: Bà Nguyễn Thị H3, sinh năm 1972; Nơi cư trú: Khu phố T, phường X, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh. “Có mặt”.
Người bào chữa cho bị cáo C1: Ông Lê Quang Đ – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước thành phố H. “Có mặt”.
Nguyễn Văn Đ1, sinh ngày 13/11/2007 tại Bắc Ninh; Giới tính: Nam; Tên gọi khác : Không; Nơi thường trú: Thôn C, xã N, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 10/12; Họ tên cha: Nguyễn Văn H4, sinh năm 1975 và họ tên mẹ: Nguyễn Thị N1, sinh năm 1977; Bị cáo là con duy nhất; Tiền án, tiền sự: (Theo danh chỉ bản số 211 Công an huyện G lập ngày 28/3/2024) Không;
Bị cáo bị bắt khẩn cấp và tạm giữ từ ngày 27/3/2024 đến ngày 05/4/2024 hủy bỏ quyết định gia hạn tạm giữ. Hiện bị cáo đang áp dụng lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú. “Có mặt tại phiên tòa”
Người đại diện theo pháp luật của bị cáo Đ1 tại phiên tòa: Bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1977; Nơi thường trú: Thôn C, xã N, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh. “Có mặt”
Người bào chữa cho bị cáo Đ1: Bà Hồ Thúy S – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước thành phố H. “Có mặt”.
Nguyễn Hoàng L, sinh ngày 04/10/2006 tại Bắc Ninh; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Nơi thường trú: N, S, T, Bắc Ninh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Họ tên cha: Nguyễn Văn H5, sinh năm 1979 và họ tên mẹ: Nguyễn Thị H6, sinh năm 1983; Gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ hai; Tiền án, tiền sự: (Theo danh chỉ bản số 238 Công an huyện G lập ngày 02/4/2024) Không.
Bị cáo đầu thú và tạm giữ từ ngày 29/3/2024 đến ngày 05/4/2024 hủy bỏ quyết định gia hạn tạm giữ. Hiện bị cáo đang áp dụng lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú. “Có mặt tại phiên tòa”
Người đại diện theo pháp luật của bị cáo L tại phiên tòa: Ông Nguyễn Văn H5, sinh năm 1979; Nơi thường trú: Thôn N, xã S, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh. “Có mặt”.
Người bào chữa cho bị cáo L: Ông Lê Quang Đ – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước thành phố H. “Có mặt”.
Nguyễn Phú T2, sinh ngày 09/10/2007 tại Bắc Ninh; Giới tính: Nam; Tên gọi khác : Không; Nơi thường trú: Khu phố N, phường G, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 10/12; Họ tên cha: Nguyễn Phú H7, sinh năm 1974 và họ tên mẹ: Nguyễn Thị T3, sinh năm 1977; Gia đình bị cáo có 03 chị em, bị cáo là con thứ 3; Tiền án, tiền sự: (Theo danh chỉ bản số 339 Công an huyện G lập ngày 15/6/2024) Không.
Không bị tạm giữ tạm giam trong vụ án này
Nhân thân: Ngày 11/9/2024, Tòa án thị xã T, tỉnh Bắc Ninh xử 23 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Hiện bị cáo đang thi hành án tại Nhà tạm giam – Công an tỉnh B từ ngày 31/10/2024. “Có mặt tại phiên tòa”
Người đại diện theo pháp luật của bị cáo T2 tại phiên tòa: Bà Nguyễn Thị T3, sinh năm 1977; Nơi thường trú: Khu phố N, phường G, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh. “Có mặt"
Người bào chữa cho bị cáo T2: Bà Hồ Thúy S – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước thành phố H. “Có mặt”.
Nguyễn Thế A1, sinh ngày 05/6/2006 tại Bắc Ninh; Giới tính: Nam; Tên gọi khác : Không; Nơi thường trú: Khu phố T, phường G, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Họ tên cha: Nguyễn Thế V1, sinh năm 1977 và họ tên mẹ: Nguyễn Thị C2, sinh năm 1980; Gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con thứ 02; Tiền án, tiền sự: (Theo danh chỉ bản số 233 Công an huyện G lập ngày 02/4/2024): 01 tiền sự
Tiền sự: Tại Quyết định số: 186/QĐ – XPHC ngày 18/10/2023 của Công an thị xã T xử phạt tiền 2.000.000 đồng về hành vi “Tàng trữ vũ khí thô sơ”. Bị can đã nộp phạt ngày 31/10/2023.
Bị cáo đầu thú và tạm giữ từ ngày 30/3/2024 đến 05/4/2024 hủy bỏ quyết định gia hạn tạm giữ.
Nhân thân: Ngày 11/9/2024, Tòa án thị xã T, tỉnh Bắc Ninh xử 16 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Hiện bị cáo đang thi hành án tại Nhà tạm giam – Công an tỉnh B từ ngày 31/10/2024. “Có mặt tại phiên tòa”
Người đại diện theo pháp luật của bị cáo Thế A1 tại phiên tòa: Bà Nguyễn Thị C2, sinh năm 1980; Nơi thường trú: Khu phố T, phường G, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh. “Có mặt”.
Người bào chữa cho bị cáo A1: Bà Hồ Thúy S – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước thành phố H. “Có mặt”.
Nguyễn Văn Q1, sinh ngày 09/10/2006 tại Bắc Ninh; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Nơi thường trú: C, N, T, tỉnh Bắc Ninh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Họ tên mẹ: Nguyễn Thị L1, sinh năm 1974; Gia đình bị cáo có 02 chị em, bị cáo là con thứ 2; Tiền án, tiền sự: (Theo danh chỉ bản số 276 Công an huyện G lập ngày 02/5/2024) Không.
Không bị tạm giữ tạm giam trong vụ án này
Nhân thân: Ngày 11/9/2024, Tòa án thị xã T, tỉnh Bắc Ninh xử 20 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”; Hiện bị cáo đang thi hành án tại Nhà tạm giam – Công an tỉnh B từ ngày 31/10/2024. “Có mặt tại phiên tòa”
Người đại diện theo pháp luật của bị cáo Q1 tại phiên tòa: Bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1974; Nơi thường trú: C, N, T, tỉnh Bắc Ninh. “Có mặt”.
Người bào chữa cho bị cáo Q1: Ông Lê Quang Đ – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước thành phố H. “Có mặt”.
Nguyễn Văn H8, sinh ngày 28/5/2007 tại Bắc Ninh; Giới tính: Nam; Tên gọi khác : Không; Nơi thường trú: Khu phố X, phường X, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Học sinh; Trình độ học vấn: 11/12; Họ tên cha: Nguyễn Văn M, sinh năm 1977; Họ tên mẹ: Nguyễn Thị H6, sinh năm 1979; Gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con thứ 2; Tiền án, tiền sự: (Theo danh chỉ bản số 278 Công an huyện G lập ngày 02/5/2024) Không.
Không bị tạm giữ, tạm giam trong vụ án này
Nhân thân: Ngày 11/9/2024, Tòa án thị xã T, tỉnh Bắc Ninh xử 16 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Hiện bị cáo đang thi hành án tại Nhà tạm giam – Công an tỉnh B từ ngày 31/10/2024. “Có mặt tại phiên tòa”
Người đại diện theo pháp luật của bị cáo H8 tại phiên tòa: Ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1977; Nơi thường trú: Khu phố X, phường X, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh. “Có mặt".
Người bào chữa cho bị cáo H8: Bà Hồ Thúy S – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước thành phố H. “Có mặt”.
Nguyễn Văn H9, sinh ngày 21/09/2007 tại Bắc Ninh; Giới tính: Nam; Tên gọi khác : Không; Nơi thường trú: Khu phố N, phường G, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 10/12; Họ tên cha: Nguyễn Văn H10, sinh năm 1986; Họ tên mẹ: Nguyễn Thị H11, sinh năm 1987; Gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Tiền án, tiền sự: (Theo danh chỉ bản số 275 Công an huyện G lập ngày 02/5/2024) Không.
Không bị tạm giữ tạm giam trong vụ án này
Nhân thân: Ngày 11/9/2024, Tòa án thị xã T, tỉnh Bắc Ninh xử 20 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Hiện bị cáo đang thi hành án tại Nhà tạm giam – Công an tỉnh B từ ngày 31/10/2024. “Có mặt tại phiên tòa”
Người đại diện theo pháp luật của bị cáo H9 tại phiên tòa: Ông Nguyễn Văn H10, sinh năm 1986; Nơi thường trú: Khu phố N, phường G, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh. “Có mặt”.
Người bào chữa cho bị cáo H9: Bà Hồ Thúy S – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước thành phố H. “Có mặt”.
Lê Minh N2, sinh ngày 26/10/2007 tại Bắc Ninh Giới tính: Nam; Tên gọi khác : Không; Nơi thường trú: C, N, T, Bắc Ninh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Học sinh; Trình độ học vấn: 11/12; Họ tên cha: Lê Sỹ K, sinh năm 1979; Họ tên mẹ: Nguyễn Thị S1, sinh năm 1980; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai; Tiền án, tiền sự: (Theo danh chỉ bản số 210 Công an huyện G lập ngày 28/3/2024) Không.
Bị cáo bị bắt khẩn cấp và tạm giữ từ ngày 27/3/2024 đến ngày 05/4/2024 hủy bỏ quyết định gia hạn tạm giữ. Hiện bị cáo đang áp dụng lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú. “Có mặt tại phiên tòa”
Người đại diện theo pháp luật của bị cáo N2 tại phiên tòa: Bà Nguyễn Thị S1 sinh năm 1980; Nơi thường trú: Thôn C, xã N, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh. “Có mặt”.
Người bào chữa cho bị cáo N2: Ông Lê Quang Đ – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước thành phố H. “Có mặt”.
Nguyễn Đức T4, sinh ngày 27/8/2006 tại Bắc Ninh; Giới tính: Nam; Tên gọi khác : Không; Nơi thường trú: khu phố T, G, T, Bắc Ninh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Học sinh; Trình độ học vấn: 12/12; Họ tên cha: Nguyễn Đức T5, sinh năm 1983; Họ tên mẹ: Nguyễn Thị M1, sinh năm 1984; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Tiền án, tiền sự: (Theo danh chỉ bản số 234 Công an huyện G lập ngày 02/4/2024) Không.
Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ từ ngày 02/4/2024 đến ngày 05/4/2024.
Nhân thân: Ngày 11/9/2024, Tòa án thị xã T, tỉnh Bắc Ninh xử 16 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Hiện bị cáo đang thi hành án tại Nhà tạm giam – Công an tỉnh B từ ngày 31/10/2024. “Có mặt tại phiên tòa”
Người đại diện theo pháp luật của bị cáo T4 tại phiên tòa: Ông Nguyễn Đức T5, sinh năm 1983; Nơi thường trú: Khu phố T, phường G, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh. “Có mặt".
Người bào chữa cho bị cáo T4: Ông Lê Quang Đ – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước thành phố H. “Có mặt”.
Nguyễn Văn T6, sinh ngày 15/3/ 2007 tại Bắc Ninh Giới tính: Nam; Tên gọi khác : Không; Nơi thường trú: N, S, T, Bắc Ninh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Họ tên cha: Nguyễn Văn Đ2, sinh năm 1972; Họ tên mẹ: Nguyễn Thị L2, sinh năm 1972; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ ba; Tiền án, tiền sự: (Theo danh chỉ bản số 237 Công an huyện G lập ngày 02/4/2024) Không.
Bị cáo đầu thú và tạm giữ từ ngày 29/3/2024 đến ngày 05/4/2024 hủy bỏ quyết định gia hạn tạm giữ. Hiện bị cáo đang áp dụng lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú. “Có mặt tại phiên tòa”
Người đại diện theo pháp luật của bị cáo T6 tại phiên tòa: Bà Nguyễn Thị L2 sinh năm 1972; Nơi thường trú: Thôn N, xã S, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh. “Có mặt”.
Người bào chữa cho bị cáo T6: Bà Hồ Thúy S – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước thành phố H. “Có mặt”.
Nguyễn Hữu T7, sinh ngày 14/11/2007 tại Bắc Ninh; Giới tính: Nam; Tên gọi khác : Không; Nơi thường trú: Khu phố V, phường T, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh; Quốc tịch: Việt Nam;Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Học sinh; Trình độ học vấn: 11/12; Họ tên cha: Nguyễn Hữu T8, sinh năm 1981; Họ tên mẹ: Nguyễn Thị T9, sinh năm 1983; Gia đình bị cáo có 03 anh em, bị cáo là con thứ 2; Tiền án, tiền sự: (Theo danh chỉ bản số 340 Công an huyện G lập ngày 18/6/2024) Không.
Không bị tạm giữ, tạm giam trong vụ án này
Nhân thân: Ngày 11/9/2024, Tòa án thị xã T, tỉnh Bắc Ninh xử 16 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”; Hiện bị cáo đang thi hành án tại Nhà tạm giam – Công an tỉnh B từ ngày 31/10/2024. “Có mặt tại phiên tòa”
Người đại diện theo pháp luật của bị cáo T7 tại phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tân S2 năm 1983; Nơi thường trú: Khu phố V, phường T, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh. “Có mặt"
Người bào chữa cho bị cáo T7: Bà Hồ Thúy S – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước thành phố H. “Có mặt”.
Nguyễn Văn T10, sinh ngày 6/12/2006 tại Bắc Ninh; Giới tính: Nam; Tên gọi khác : Không; Nơi thường trú: Khu phố X, phường X, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Học sinh; Trình độ học vấn: 12/12; Họ tên cha: Nguyễn Văn B, sinh năm 1983; Họ tên mẹ: Ngô Thị T11, sinh năm 1985; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Tiền án, tiền sự: (Theo danh chỉ bản số 235 Công an huyện G lập ngày 02/4/2024) Không.
Bị cáo đầu thú và tạm giữ từ ngày 29/3/2024 đến ngày 05/4/2024 hủy bỏ quyết định gia hạn tạm giữ. Hiện bị cáo đang áp dụng lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú. “Có mặt tại phiên tòa”
Người đại diện theo pháp luật của bị cáo T10: Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1983; Nơi thường trú: Khu phố X, phường X, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh. “Có mặt”.
Người bào chữa cho bị cáo T10: Bà Hồ Thúy S – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước thành phố H. “Có mặt”.
Phùng Bá L3, sinh ngày 25/2/ 2007 tại Bắc Ninh; Giới tính: Nam; Tên gọi khác : Không; Nơi thường trú: C, N, T, Bắc Ninh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Học sinh Trình độ học vấn: 12/12; Họ tên cha: Phùng Bá M2, sinh năm 1985; Họ tên mẹ: Nguyễn Thị Đ3, sinh năm 1985; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Tiền án, tiền sự: (Theo danh chỉ bản số 209 Công an huyện G lập ngày 28/3/2024) Không.
Bị cáo bị bắt khẩn cấp và tạm giữ từ ngày 27/3/2024 đến ngày 05/4/2024 hủy bỏ quyết định gia hạn tạm giữ. Hiện bị cáo đang áp dụng lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú. “Có mặt tại phiên tòa”
Người đại diện theo pháp luật của bị cáo M2 tại phiên tòa: Ông Phùng Bá M2, sinh năm 1985; Nơi thường trú: Thôn C, xã N, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh. “Có mặt”.
Người bào chữa cho bị cáo L3: Ông Lê Quang Đ – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước thành phố H. “Có mặt”.
Hoàng Công T12, sinh ngày 18/03/2007 tại Bắc Ninh; Giới tính: Nam; Tên gọi khác : Không; Nơi thường trú: Khu phố Đ, phường X, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Họ tên cha: Hoàng Công C3, sinh năm 1976; Họ tên mẹ: Nguyễn Thị D, sinh năm 1976; Gia đình bị cáo có 03 anh chị em, bị cáo là con thứ ba; Tiền án, tiền sự: (Theo danh chỉ bản số 212 Công an huyện G lập ngày 28/3/2024) Không.
Bị cáo bị bắt khẩn cấp và tạm giữ từ ngày 27/3/2024 đến ngày 05/4/2024 hủy bỏ quyết định gia hạn tạm giữ. Hiện bị cáo đang áp dụng lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú. “Có mặt tại phiên tòa”
Người đại diện theo pháp luật của bị cáo T12 tại phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diêm S3 năm 1976; Nơi thường trú: Khu phố Đ, phường X, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh. “Có mặt".
Người bào chữa cho bị cáo T12: Bà Hồ Thúy S – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước thành phố H. “Có mặt”.
Nguyễn Văn N3, sinh ngày 12/3/2006 (Bị cáo phạm tội đã đủ 18 tuổi) tại Bắc Ninh; Giới tính: Nam; Tên gọi khác : Không; Nơi thường trú: N, S, T, Bắc Ninh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Học sinh; Trình độ học vấn: 12/12; Họ tên cha: Nguyễn Văn H12, sinh năm 1969; Họ tên mẹ: Nguyễn Thị N4, sinh năm 1971; Gia đình có 03 chị em, bị can là con thứ ba; Tiền án, tiền sự: (Theo danh chỉ bản số 236 Công an huyện G lập ngày 02/4/2024) Không.
Bị cáo đầu thú và tạm giữ từ ngày 29/3/2024 đến ngày 05/4/2024 hủy bỏ quyết định gia hạn tạm giữ. Hiện bị cáo đang áp dụng lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú. “Có mặt tại phiên tòa”
*Bị hại:
Anh Nguyễn Quang M3, sinh ngày 07/9/2006; Nơi cư trú: Thôn Y, xã D, huyện G, thành phố Hà Nội. “Vắng mặt”
Người đại diện theo pháp luật của bị hại: Ông Nguyễn Trung K1, sinh năm 1982; Nơi cư trú: Thôn Y, xã D, huyện G, thành phố Hà Nội – Là bố đẻ của anh Quang M3. “Vắng mặt”.
Anh Phùng Tiến M4, sinh ngày 16/10/2006; Nơi cư trú: Thôn Y, xã D, huyện G, thành phố Hà Nội. “Vắng mặt”
Người đại diện theo pháp luật của bị hại: Ông Phùng Văn H13, sinh năm 1975; Nơi cư trú: Thôn Y, xã D, huyện G, thành phố Hà Nội – Là bố đẻ của anh Tiến M4. “Vắng mặt".
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Nguyễn Văn L4, sinh ngày 10/10/2008; Nơi cư trú: Đ, Hà Nam, T, Bắc Ninh. Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn H14, sinh năm 1984; Nơi cư trú: Đ, Hà Nam, T, Bắc Ninh. “Cùng vắng mặt”.
Nguyễn Đình L5; sinh ngày 27/11/2008; Nơi cư trú: Khu phố Đ, phường X, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh. Người đại diện theo pháp luật: Bà Đinh Thị T13, sinh năm 1976; Nơi cư trú: Khu phố Đ, phường X, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh. “Cùng vắng mặt”.
Phạm Văn T14; sinh ngày 29/4/2008; Nơi cư trú: T, X, T, Bắc Ninh. Người đại diện theo pháp luật: Bà Lê Thị L6, sinh năm 1971; Nơi cư trú: T, X, T, Bắc Ninh. “Cùng vắng mặt”.
Phạm Đình H15; sinh ngày 15/8/2008; Nơi cư trú: Khu phố T, phường G, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh. Người đại diện theo pháp luật: Bà Ngô Thị D1, sinh năm 1982; Nơi cư trú: Khu phố T, phường G, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh. “Cùng vắng mặt”.
Bà Ngô Thị D1, sinh năm 1982; Nơi cư trú: Khu phố T, phường G, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh. “Vắng mặt”
Ông Nguyễn Văn H5, sinh năm 1979; Nơi cư trú: Thôn N, xã S, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh. “Vắng mặt”
Bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1977, nơi cư trú: Thôn C, N, thị xã T, Bắc Ninh. “Vắng mặt”
Ông Nguyễn Văn Đ2, sinh năm 1972, nơi cư trú: Thôn N, xã S, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh. “Vắng mặt”.
* Người làm chứng:
Anh Nguyễn Thành V2, sinh ngày 12/11/2006; Nơi cư trú: Thôn Y, xã D, huyện G, thành phố Hà Nội. Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Bá X, Nơi cư trú: Thôn Y, xã D, huyện G, Hà Nội. “Vắng mặt”.
Anh Trần Minh H16, sinh ngày 15/7/2005; Nơi cư trú: Thôn Y, xã D, huyện G, thành phố Hà Nội. “Vắng mặt”.
Anh Nguyễn Dương A2, sinh ngày 26/9/2007; Nơi cư trú: Thôn Y, xã D, huyện G, thành phố Hà Nội. Người đại diện theo pháp luật: Bà Đặng Thị Thanh S4, Nơi cư trú: Thôn Y, xã D, huyện G, thành phố Hà Nội “Vắng mặt”.
Anh Dương Gia B1, sinh ngày 06/11/2006; Nơi cư trú: Thôn Y, xã D, huyện G, thành phố Hà Nội. Người đại diện theo pháp luật: bà Vũ Hoàng Ngọc A3, Nơi cư trú: Thôn Y, xã D, huyện G, thành phố Hà Nội. “Vắng mặt”.
Anh Nguyễn Hải A4, sinh ngày 17/02/2007; Nơi cư trú: Thôn C, xã K, huyện G, thành phố Hà Nội. Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Tuấn D2, sinh năm 1982; Nơi cư trú: Thôn C, xã K, huyện G, thành phố Hà Nội “Vắng mặt”.
Anh Nguyễn Minh H17, sinh ngày 16/12/2007; Nơi cư trú: Thôn A, xã K, huyện G, thành phố Hà Nội. Người đại diện theo pháp luật: Bà Đàm Thị H18, sinh năm 1983, Nơi cư trú: Thôn A, xã K, huyện G, thành phố Hà Nội “Vắng mặt”.
Anh Lê Việt T15, sinh ngày 27/5/2006; Nơi cư trú: Thôn E, xã X, huyện V, tỉnh Hưng Yên. “Vắng mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tối ngày 23/3/2024, Nguyễn Bá H rủ Nguyễn Văn Đ1, Nguyễn Hoàng L, Trần Kim C1, Nguyễn Đắc T, Nguyễn Văn A, Nguyễn Văn Q1, Nguyễn Văn L4 (sinh ngày 10/10/2008, tức 15 tuổi 5 tháng 13 ngày), Nguyễn Đình L5 (sinh ngày 27/11/2008, tức 15 tuổi 3 tháng 25 ngày) và Phạm Văn T14 (sinh ngày 29/4/2008, tức 15 tuổi 10 tháng 23 ngày) đi đua xe, đánh nhau, gây rối trật tự công cộng thì những người này đồng ý. Đ1 rủ thêm Hoàng Công T12; H rủ thêm Phùng Bá L3; Hoàng L rủ thêm Nguyễn Văn N3; Văn A rủ thêm Nguyễn Văn H9, Nguyễn Phú T2 và Nguyễn Thế A1; khi Nguyễn Văn H8 đèo Văn L4 ra gặp nhóm của H thì H rủ H8 đi đua xe cùng thì H8 đồng ý và rủ thêm Nguyễn Hữu T7 và Lê Minh N2. Nguyễn Văn H9 rủ thêm Nguyễn Đức T4; Nguyễn Phú T2 rủ thêm Phạm Đình H15 để tất cả cùng nhau đi đua xe, gây rối trật tự công cộng. H bảo Văn A mang kiếm đi thì Văn A mang 4 thanh kiếm bọc vào trong một chiếc bao tải rồi đi xe máy đến đón Nguyễn Thế A1, sau đó A1 chở Văn A ra vòng xuyến K thì Văn A cầm 01 thanh kiếm; Nguyễn Bá H cầm 01 thanh kiếm và Lê Minh N2 cầm 02 thanh kiếm; Nguyễn Văn Đ1 mang theo 01 con dao màu vàng và Văn L4 mang 01 chiếc gậy đinh ba (mượn của Nguyễn Thế S5 sinh ngày 02/3/2009, tức 15 tuổi 21 ngày, trú tại: C, N, T, Bắc Ninh) rồi giấu vào bụi cây ven đường. Do Nguyễn Đức T4 và Nguyễn Văn H9 biết việc Văn L4 giấu đinh ba nên T4 đi xe máy chở H9 ra bụi cây lấy đinh ba rồi H9 đưa đinh ba cho Nguyễn Phú T2 cầm. Sau khi chuẩn bị hung khí, các đối tượng sử dụng 09 xe máy trong đó có 07 xe không đeo BKS, 01 xe dán giấy che BKS để tránh sự phát hiện của lực lượng công an. Cả nhóm cùng di chuyển trên trục đường 181 từ thị xã T qua ngã tư S, P đến gần khu vực vào khu đô thị Đ, G thì H bảo cất đinh ba vào bụi cây ven đường rồi cả nhóm tiếp tục đi ra khu vực đường Q hướng đi L. Trên đường đi Lê Minh N2 đưa 01 thanh kiếm cho Phú T2 và 01 thanh kiếm cho Nguyễn Văn H9 cầm. Khi các đối tượng đi qua cầu V vào khu vực nội thành H sau đó quay lại cầu V về khu vực Aeon L thì cả nhóm gặp Nguyễn Văn T6 đi xe máy chở Nguyễn Văn T10. Do trước đó T10 thấy Hoàng L rủ N3 đi đua xe, đánh nhau nên T10 rủ T6 cùng đi và T6 liên lạc với Hoàng L để đi cùng. Sau đó nhóm 23 người trên đi trên 10 xe máy tiếp tục phóng nhanh, lạng lách, bấm còi và cầm hung khí cùng nhau đi về khu đô thị V, G cụ thể:
Trần Kim C1 điều khiển xe máy Honda Wave BKS: 99F1-649.63 chở Nguyễn Bá H (C1 đã tháo biển BKS xe từ nhà), H ngồi sau cầm kiếm.
Nguyễn Văn Q1 điều khiển xe máy Honda Wave màu trắng (xe mới mua, chưa đăng ký) chở Phạm Văn T14 và Nguyễn Đình L5.
Phạm Đình H15 điều khiển xe máy Honda Wave BKS 99F1-668.53 chở Nguyễn Phú T2 (P đã tháo BKS xe tại khu vực K), T2 ngồi sau cầm kiếm.
Nguyễn Văn L4 điều khiển xe máy Honda Wave BKS: 99F1-685.30 chở Nguyễn Văn H8 (H8 đã tháo BKS xe tại khu vực K).
Lê Minh N2 điều khiển xe máy Honda Wave BKS: 99F1-639.93 chở Hoàng Công T12 và Nguyễn Văn Đ1 (Đ1 đã tháo BKS xe từ trước ngày 23/3/2024), Đ1 ngồi sau cùng cầm dao.
Nguyễn Đắc T điều khiển xe máy Honda Wave BKS: 99F1-680.19 chở Phùng Bá L3 và Nguyễn Hữu T7 (Luân tháo biển tại khu vực K).
Nguyễn Đức T4 điều khiển xe máy Honda wave BKS: 99F1-633.39 chở Nguyễn Văn H9 (T4 đã tháo BKS của xe khi đi đến K), H9 ngồi sau cầm kiếm
Nguyễn Thế A1 điều khiển xe máy Honda wave BKS: 99F1- 667.76 chở Nguyễn Văn A (V đã tháo BKS), Văn A ngồi sau cầm kiếm.
Nguyễn Văn T6 điều khiển xe máy Honda Wave BKS: 99AF-066.87 chở Nguyễn Văn T10 (T6 dán giấy che BKS từ khu vực Aeon L).
Nguyễn Hoàng L điều khiển xe máy Honda Vision BKS: 99F1-679.67 chở Nguyễn Văn N3 (H đã xé giấy quảng cáo để dán, che biển kiểm soát tại khu vực K).
Khi nhóm của Nguyễn Bá H đến gần khu vực trước cửa số nhà S trong Khu đô thị V, D, G thì thấy anh Nguyễn Quang M3 điều khiển xe máy Honda Wave màu đen đeo BKS: 29N1-954.57 chở anh Nguyễn Thành V2; anh Phùng Tiến M4 điều khiển xe máy Honda Wave màu trắng đeo BKS: 29N1-917.47 chở Dương Gia B1; anh Trần Minh H16 điều khiển xe máy Honda SH màu trắng BKS: 29N1-836.70 chở Nguyễn Dương A2. H16 chửi nhóm của Quang M3: “Đmẹ mày” đồng thời Nguyễn Đắc T và Phạm Đình H15 hô: “Có đối kìa, có đối kìa” rồi chỉ tay về phía nhóm của anh Quang M3 nên nhiều người trong nhóm H16 hùa theo và phóng xe đuổi nhóm của anh Quang M3. Thấy vậy anh Trần Minh H16 đèo anh Nguyễn Dương A2 bỏ chạy được còn anh Nguyễn Quang M3, anh Nguyễn Thành V2, anh Phùng Tiến M4 và Dương Gia B1 bị nhóm của H16 chặn lại (trong đó 02 xe máy do Nguyễn Văn Q1 điều khiển xe chở Phạm Văn T14, Nguyễn Đình L5 và Nguyễn Hoàng L điều khiển chở Nguyễn Văn N3 vượt lên trên không tham gia chặn xe của nhóm Quang M3). Lúc này Trần Kim C1 chở Nguyễn Bá H vượt lên đầu xe của anh Phùng Tiến M4 thì H ngồi sau xe dùng kiếm chém 02 nhát về phía đầu xe Honda wave màu trắng đeo BKS: 29N1-917.47 do anh Tiến M4 điều khiển. Anh Tiến M4 chở anh Dương Gia B1 bỏ chạy thì bị Nguyễn Phú T2 cầm kiếm đuổi theo, chém 01 nhát vào yếm xe và 01 nhát vào phần biển số xe máy BKS: 29N1-917.47 của anh Tiến M4. Nguyễn Đắc T điều khiển xe chở Phùng Bá L3 và Nguyễn Hữu T7 đến gần xe của anh Quang M3 thì Nguyễn Hữu T7 dùng tay đánh 01 cái vào đầu anh Quang M3. Nguyễn Thế A1 cũng điều khiển xe chở Nguyễn Văn A đến gần vị trí của anh Quang M3 thì Văn A dùng tay đánh 01 cái vào đầu anh Quang M3 đồng thời nhảy xuống xe, dùng kiếm chém 01 nhát vào mu bàn chân bên trái của Quang M3. Lúc này, Nguyễn Văn H9 ngồi sau xe T4 cũng cầm kiếm xuống xe và nhảy lên dùng chân đạp 01 cái vào người anh Nguyễn Thành V2 khiến anh Quang M3 và anh T7 V2 bỏ chạy, để xe máy ở lại. Sau khi chặn đánh, đập xe của nhóm anh Quang M3 thì nhóm của Nguyễn Bá H quay về khu vực ngã tư S, P để một số người vào đổ xăng. Tại đây thì Nguyễn Hoàng L, Nguyễn Văn N3, Nguyễn Văn T10 và Nguyễn Văn T6 cùng nhau đi về trước. Nguyễn Văn L4 đi vào lấy chiếc đinh ba ở khu vực mà Nguyễn Phú T2 cất giấu lúc trước rồi Văn A bảo tất cả những người còn lại quay lại Khu đô thị V, G một lần nữa để “tìm đối” tiếp tục đánh nhau thì tất cả những người còn lại đều đồng ý đi. Khi đi đến khu vực gần Trung tâm thương mại V4 gặp 1 xe máy phía sau chở 2 người là xe của Nguyễn Hải A4 (sinh ngày 17/02/2007, tức 17 tuổi 1 tháng 6 ngày, trú tại: Thôn C, K, G, Hà Nội) đi xe máy hiệu SH màu trắng, đeo BKS: 29N1-553.53 chở Nguyễn Minh H17 (sinh ngày 16/12/2007, tức 16 tuổi 3 tháng 7 ngày, trú tại: Thôn A, K, G, Hà Nội) và Lê Việt T15 (sinh ngày 27/5/2006, tức 17 tuổi 9 tháng 25 ngày, trú tại: Thôn E, X, V, Hưng Yên). Lúc này, nhóm của H đi chậm, dàn hàng ngang, có cầm kiếm đi trên đường L hướng về trung tâm thương mại V5. Thấy vậy T15 bảo Hải A4 đi qua nhóm này để đi về. Khi xe của Nguyễn Hải A4 từ phía sau vượt lên cách nhóm của H khoảng 2 đến 3 mét thì T15 cho rằng nhóm của H có người cầm kiếm giơ lên đuổi theo nên T15 rút thanh kiếm để ở bô xe của Hải A4 (Hải A4 và H17 không biết T15 cầm kiếm theo) khua về nhóm của H để nhóm H không đuổi theo nữa nhưng không trúng ai. Sau đó xe của Hải A4 đi về, trên đường đi Tiệp tự vứt thanh kiếm ở dọc đường không rõ ở chỗ nào nên không thu giữ được. Nhóm của H có người đuổi theo xe của Hải A4 nhưng không đuổi được thì đi về.
Ngoài việc tụ tập gây rối trật tự công cộng như trên thì ngày 25/3/2024, Nguyễn Bá H, Trần Kim C1, Nguyễn Đắc T, Nguyễn Văn A, Nguyễn Văn Q1, Nguyễn Văn H9, Nguyễn Văn H8, Nguyễn Phú T2, Nguyễn Hữu T7, Nguyễn Văn Đ1, Hoàng Công T12, Nguyễn Thế A1, Nguyễn Đức T4, Nguyễn Văn L4 (dưới 16 tuổi), Phạm Đình H15(dưới 16 tuổi), Phạm Văn T14 (dưới 16 tuổi) tiếp tục tụ tập với nhau, mang theo hung khí để đánh nhau, gây rối trật tự công cộng trên địa bàn thị xã T, Bắc Ninh. Khi đi đánh nhau, gây rối tại thị xã T, các đối tượng trên sử dụng chiếc đinh ba mà Văn L4 giấu ở trong bụi cây tại vòng xuyến K còn Văn A mang 04 thanh kiếm đã sử dụng ngày 23/3/2024 để đi đánh nhau. Ngày 04/4/2024, ngày 07/4/2024 và ngày 09/4/2024, Cơ quan điều tra - Công an thị xã T, Bắc Ninh đã khởi tố Nguyễn Bá H, Trần Kim C1, Nguyễn Đắc T, Nguyễn Văn A, Nguyễn Văn Q1, Nguyễn Văn H9, Nguyễn Văn H8, Nguyễn Phú T2; Nguyễn Hữu T7, Nguyễn Văn Đ1, Hoàng Công T12, Nguyễn Thế A1, Nguyễn Đức T4 về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại khoản 2 điều 318 Bộ luật hình sự. Các đối tượng Nguyễn Văn L4, Phạm Văn T14, Phạm Đình H15 cũng tham gia gây rối trật tự công cộng ngày 25/3/2024 tại thị xã T, Bắc Ninh nhưng do chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự về tội nghiêm trọng nên Công an thị xã T đã ra Quyết định xử lý hành chính “cảnh cáo” về hành vi gây rối trật tự công cộng. Do 13 bị can nêu trên đều bị Cơ quan CSĐT – Công an huyện G và Cơ quan CSĐT – Công an thị xã T, Bắc Ninh đều khởi tố về tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự. Cơ quan CSĐT – Công an huyện G có công văn về việc nhập vụ án trên với vụ án gây rối trật tự công cộng ngày 25/3/2024 tại T, Bắc Ninh nhưng Cơ quan CSĐT – Công an Thị xã T, Bắc Ninh không đồng ý nhập vụ án với lý do trong vụ án gây rối trật tự công cộng xảy ra ngày 23/3/2024 tại Dương Xá có 06 bị can không thực hiện hành vi phạm tội ở địa bàn T, Bắc Ninh.
Ngày 10/6/2024, Cơ quan CSĐT – Công an huyện G đã ra Quyết định trưng cầu giám định thương tích đối với Nguyễn Quang M3 nhưng M3 rút đơn trình báo và từ chối giám định thương tích. Cơ quan điều tra đã ra Quyết định dẫn giải nhưng M3 không đi giám định.
Đối với xe máy nhãn hiệu Wave màu trắng đeo BKS: 29N1-917.47 của anh Phùng Tiến M4. Theo kết luận định giá tài sản số 111 ngày 18/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong TTHS huyện G kết luận: xe máy nhãn hiệu Wave Alpha màu trắng đeo BKS: 29N1-917.47, phần biển số bị vỡ kính và bị xước ở vị trí số 47; phần yếm xe bên trái bị nứt vỡ và phần mặt nạ phía trước bên trái xe bị xước nhẹ (thời điểm xảy ra sự việc ngày 23/3/2024) có giá trị 120.000 đồng.
Bản cáo trạng số 201/CT-VKSGL ngày 30/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lâm truy tố các bị cáo Nguyễn Bá H, Nguyễn Văn H9, Nguyễn Văn A, Trần Kim C1, Nguyễn Đắc T,Nguyễn Văn Q1, Nguyễn Văn H8, Nguyễn Phú T2, Nguyễn Đức T4, Nguyễn Thế A1, Nguyễn Hoàng L, Nguyễn Văn N3, Lê Minh N2, Hoàng Công T12, Nguyễn Văn Đ1, Phùng Bá L3, Nguyễn Hữu T7, Nguyễn Văn T10 và Nguyễn Văn T6 đã phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017
Tại phiên tòa:
1.Các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung cáo trạng, 16 bị cáo trừ bị cáo H, Văn A, T2 đều tự nguyện được bồi thường cho người bị hại cùng 3 bị cáo kia số tiền 20.000.000 đồng và 16 bị cáo sẽ có trách nhiệm thanh toán cho 3 bị cáo H, Văn A và T2 số tiền 3 bị cáo đã ứng. Tại phiên tòa 3 bị cáo và đại diện gia đình 3 bị cáo H, Văn A, T2 nhất trí để 16 bị cáo khác cùng được bồi thường cho gia đình bị hại và các bên sẽ thanh toán với nhau sau phiên tòa.
2. Những người đại diện theo pháp luật của các bị cáo có mặt tại phiên tòa thống nhất các bị cáo là con mình trình bày, không sửa đổi, bổ sung gì thêm và nhất trí cùng các bị cáo bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 20.000.000 đồng, đề nghị HĐXX ghi nhận, sau phiên tòa sẽ thanh toán tiền cho nhau.
3. Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lâm giữ nguyên quyền công tố luận tội và tranh luận:
- Về hình phạt chính:
+ Với H và Văn A: áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm b s khoản 1 Điều 51, các Điều 17, 58, 91, 101, 104, 38, 55, 56 BLHS đề nghị xử phạt mỗi bị cáo từ 22-24 tháng tù. Tổng hợp hình phạt mỗi bị cáo 22 tháng tù của bản án Thuận T16 đối với 2 bị cáo, buộc mỗi bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án từ 44-46 tháng, được trừ đi ngày tạm giữ tạm giam từ ngày 26/3/2024 đến ngày 23/4/2024.
+ Với các bị cáo T, Đ1, T2, H9, A1, H8, C1, T4, Q1, T16, T12 áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm b,s khoản 1 Điều 51, (khoản 2, Điều 51 đối với bị cáo A1 và T4); các Điều 17, 58, 91, 101,104, 38, 55, 56 BLHS đề nghị xử phạt mỗi bị cáo từ 20-22 tháng.
Tổng hợp hình phạt 16 tháng tù của bản án Thuận T16 đối với bị cáo T, buộc bị cáo T phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án từ 36-38 tháng, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ tạm giam từ ngày 26/3/2024 đến ngày 23/4/2024.
Tổng hợp hình phạt 16 tháng tù của bản án Thuận T16 đối với bị cáo Đ1, buộc bị cáo Đ1 phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án từ 36-38 tháng, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 27/3/2024 đến ngày 05/4/2024 và thời gian tạm giam từ ngày 09/4/2024 đến ngày 23/4/2024.
Tổng hợp hình phạt 23 tháng tù của bản án Thuận T16 đối với bị cáo T2, buộc bị cáo T2 phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án từ 43-45 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giam từ ngày 07/4/2024 đến ngày 26/4/2024
Tổng hợp hình phạt 20 tháng tù của bản án Thuận T16 đối với bị cáo H9, buộc bị cáo H9 phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án từ 40-42 tháng tù, hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/3/2024 đến ngày 26/4/2024
Tổng hợp hình phạt 16 tháng tù của bản án Thuận T16 đối với bị cáo A1, buộc bị cáo A1 phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án từ 36-38 tháng tù, hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 30/3/2024 đến ngày 05/4/2024, tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/4/2024 đến ngày 26/4/2024
Tổng hợp hình phạt 16 tháng tù của bản án Thuận T16 đối với bị cáo H8, buộc bị cáo H8 phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án từ 36-38 tháng tù, hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/3/2024 đến ngày 23/4/2024
Tổng hợp hình phạt 16 tháng tù của bản án Thuận T16 đối với bị cáo C1, buộc bị cáo C1 phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án từ 36-38 tháng tù, hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/3/2024 đến ngày 23/4/2024
Tổng hợp hình phạt 16 tháng tù của bản án Thuận T16 đối với bị cáo T4, buộc bị cáo T4 phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án từ 36-38 tháng tù, hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ 02/4/2024 đến 05/4/2024; tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/4/2024 đến ngày 23/4/2024
Tổng hợp hình phạt 20 tháng tù của bản án Thuận T16 đối với bị cáo Q1, buộc bị cáo Q1 phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án từ 40-42 tháng tù, hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/3/2024 đến ngày 23/4/2024.
Tổng hợp hình phạt 16 tháng tù của bản án Thuận T16 đối với bị cáo T16, buộc bị cáo T16 phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án từ 36-38 tháng tù, hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/4/2024 đến ngày 26/4/2024.
Tổng hợp hình phạt 16 tháng tù của bản án Thuận T16 đối với bị cáo T12, buộc bị cáo T12 phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án từ 36-38 tháng tù, hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 27/3/2024 đến ngày 05/4/2024; tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/4/2024 đến ngày 23/4/2024.
+ Đối với bị cáo L3, N2, T6, T10, L đề nghị áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, các Điều 17, 58, 91, 101, 65 BLHS xử phạt từ 18-20 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36-40 tháng tính từ ngày tuyên án, giao các bị cáo về UBND xã, phường nơi cư trú giám sát giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.
+ Đối với bị cáo N3 áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, các Điều 17, 58, 65 BLHS xử phạt bị cáo N3 từ 24-26 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48-52 tháng tù tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo N3 về UBND nơi cư trú để giám sát giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.
Về hình phạt bổ sung: Không
Về trách nhiệm dân sự: Không
Về vật chứng: áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS tịch thu tiêu hủy 1 con dao mèo; Trả xe máy cho mẹ Đ1 và bố T6; Trả điện thoại di động Lực, L, L3 (IP 12 promax vàng); Sung công điện thoại của N2, T10, L3, T6, N3, Đoàn
4. Trợ giúp viên pháp lý bào chữa bà S và ông Đ trình bày quan điểm:
Về tội danh, điều luật áp dụng đã đúng
Tất cả các gia đình bị cáo đều đã nộp huân huy chương kháng chiến theo khoản 2 Điều 51 BLHS
Các bị cáo đang là học sinh có hoàn cảnh khó khăn
6 bị cáo đầu thú
Nếu cho bị cáo được án treo thì cho mức thấp nhất để sớm trở về tiếp tục đi học
1 số gia đình đều là gia đình lao động phổ thông, nên các bị cáo là lao động chính, để các bị cáo trở về để sớm giúp gia đình
Các bị cáo đều là trẻ vị thành niên.
Do các bị cáo đều có 2 tình tiết giảm nhẹ đề nghị áp dụng Điều 54 BLHS để xử phạt dưới khung
Các bị cáo đều bồi thường nên đề nghị áp dụng điểm b k1 Điều 51 BLHS
* VKS đối đáp:
Đối với Điều 54 BLHS, VKS không nhất trí vì đã xem xét cho các bị cáo và đề nghị áp dụng mức án chỉ trên đầu khung là đã xem xét toàn diện cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện G, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lâm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện theo trình tự thủ tục tố tụng của Bộ luật tố tụng hình sự. Ngoài ra quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì khác về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, do đó các hành vi quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2]. Về sự vắng mặt của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng tại phiên tòa lần thứ 3 mà không có lý do chính đáng, không vì sự kiện bất khả kháng, căn cứ các Điều 292, 293 BLTTHS, Hội đồng xét xử quyết định tiếp tục xét xử vụ án là có căn cứ.
[3]. Về hành vi phạm tội: Xét thấy ngày 27/3/2024 (BL1227) anh Nguyễn Quang M3 sinh năm 2006, anh Nguyễn Thành V2 sinh năm 2006, anh Phùng Tiến M4 sinh năm 2006, anh Dương Gia B1 sinh năm 2006, anh Nguyễn Dương A2 sinh năm 2007, anh Trần Minh H16 sinh năm 2005 trình báo sự việc khoảng 21 giờ 30 ngày 23/3/2024 6 các anh bị 1 nhóm đối tượng đuổi đánh khi các anh đang đi xe máy, nhóm đối tượng sử dụng kiếm chém vào xe máy của anh Phùng Tiến M4 chở Dương Gia B1 là xe máy Wave anpha màu trắng biển số 19N1-91747 và dùng kiếm chém vào chân trái của anh Nguyễn Quang M3 gây thương tích mu bàn chân trái của anh Quang M3. Căn cứ vào đơn trình báo, qua truy xét đã làm rõ được 19 đối tượng có hành vi tập hợp lực lượng, sử dụng xe máy là xe Wave, mang theo 3 thanh kiếm, 1 dao mèo, chuẩn bị 1 cây đinh ba nhưng không mang theo mà để bụi cây, rồi chia nhau chở mỗi xe máy 2 người, có xe chở 3 người, có 4 người cầm kiếm theo là H16, H9, T2, Văn A và Đ1 cầm dao mèo ngồi sau các xe máy. Các bị cáo di chuyển từ T, Bắc Ninh vào nội thành Hà Nội qua cầu V, qua B, rồi vòng về V, Vinhome O. Quá trình đi đua xe, các bị cáo có hành vi đánh võng, lạng lách, bấm còi inh ỏi, cầm kiếm dao khua lên trời để dọa người đi đường. Khi về đến Vinhome Ocean P, các bị cáo gặp 3 xe máy, mỗi xe chở 2 người trong đó có xe SH trắng và 2 xe wave, bị cáo H16 hô đuổi theo thì tất cả các bị cáo đã đuổi theo 3 xe máy, có 1 xe SH chạy thoát còn 2 xe wave bị các bị cáo đuổi kịp và cùng quây 4 người và chửi, dùng kiếm chém vào đầu đuôi xe máy, chém vào chân của anh Nguyễn Quang M3, đến khi 4 người bỏ chạy được thì các bị cáo di chuyển về lại T Bắc Ninh. Lời khai của 2 người bị hại, 4 người làm chứng trực tiếp và các nhân chứng người liên quan khác trong vụ án phù hợp với lời khai của 19 bị cáo và 4 người liên quan khác (có hành vi đua xe cùng 19 bị cáo) không đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, đủ cơ sở kết luận vào hồi 21 giờ 30 ngày 23/3/2024, 19 bị cáo gồm 1 bị cáo đủ tuổi thành niên là Nguyễn Thành N5, 18 bị cáo trên 16 tuổi dưới 18 tuổi gồm Nguyễn Bá H, Nguyễn Văn H9, Nguyễn Văn A, Trần Kim C1, Nguyễn Đắc T, Nguyễn Văn Q1, Nguyễn Văn H8, Nguyễn Phú T2, Nguyễn Đức T4, Nguyễn Thế A1, Nguyễn Hoàng L, Lê Minh N2, Hoàng Công T12, Nguyễn Văn Đ1, Phùng Bá L3, Nguyễn Hữu T7, Nguyễn Văn T17, Nguyễn Văn T6 và 4 người liên quan gồm Nguyễn Đình L5 sinh 27/11/2008, Phạm Văn T14 sinh 29/4/2008, Phạm Đình H15 sinh 15/8/2008, Nguyễn Thế S5 sinh 02/3/2009 cùng nhau sử dụng xe máy, kiếm, dao mèo, gậy đinh ba đi đua xe (chạy tốc độ cao, đánh võng, lạng lách, bấm còi, hò hét, khua kiếm trên đường, mang dao mèo theo người), tìm người để đánh ra oai, phá hoại tài sản của người khác đã đủ yếu tố cấu thành tội Gây rối trật tự công cộng định khung tại điểm b khoản 2 Điều 318 BLHS là có dùng hung khí hoặc có hành vi phá phách. Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm khách thể là trật tự công cộng, nếp sống văn minh của xã hội, gây mất trật tự trị an tại địa phương, tạo dư luận xấu trong quần chúng nhân dân, cần phải xử lý nghiêm mức án trong khung hình phạt để răn đe các bị cáo và phòng ngừa chung với xã hội.
Đối với hành vi gây thương tích của Văn A đối với anh Quang M3, anh Quang M3 không giám định, đã nhận bồi thường, có đơn xin không xử lý hình sự đối với các bị cáo nên không có căn cứ khởi tố vụ án Cố ý gây thương tích.
Đối với hành vi hủy hoaị xe máy của anh Tiến M4, hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện G định giá thiệt hại xe máy là 120.000 đồng, không đủ căn cứ xử lý hình sự về hành vi này là có căn cứ.
Về vai trò của các bị cáo trong vụ án: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, các bị cáo phạm tội không có bàn bạc, không phân công nhiệm vụ cụ thể, nhưng xác định:
+ Bị cáo H: Vai trò khởi xướng, rủ rê Đ1, L, C1, T, Văn A, Q1, H8 đi đua xe, đánh nhau, gây rối trật tự công cộng; H bảo Văn A mang kiếm đi; H ngồi sau cầm kiếm; H dùng kiếm chém 2 nhát vào đầu xe của Tiến M4 làm mặt nạ trước bị xước nhẹ.
+ Bị cáo Văn A: Văn A rủ thêm H9, T2, A1; Văn A mang 4 thanh kiếm; Văn A ngồi sau cầm kiếm; Văn A dùng tay đánh 1 cái vào đầu và dùng kiếm chém 1 nhát vào mu bàn chân trái của Quang M3 làm Quang M3 đứt gân bàn chân trái.
Nên đánh giá hành vi của H và Văn A có vai trò nguy hiểm như nhau trong vụ án, nên có mức hình phạt bằng nhau và cao nhất trong vụ án.
+ Bị cáo H9, Đ1, T2 cầm kiếm ngồi sau xe giơ lên khua dọa người đi đường
+ Bị cáo T, Thế A1, Q1, C1, T4, H8, Nghĩa là người lái xe
Xét thấy các bị cáo H9, Đ1, T2 cầm kiếm, các bị cáo T, Thế A1, Q1, C1, T4, H8 là người lái xe, bị cáo T17 và T12 chỉ ngồi sau nhưng có 1 hành vi tiếp theo ngày 25/3/2024 nên xác định vai trò như nhau đứng thứ 2 trong vụ án, nên các bị cáo này có mức hình phạt bằng nhau, thấp hơn nhóm bị cáo H và Văn A.
+ Bị cáo N2 lái xe, bị cáo L3 ngồi sau nhưng đều bị bắt khẩn cấp, chỉ có 1 hành vi phạm tội ngày 23/3/2024
+ 4 bị cáo L, N5, T10, T6 ngồi sau, chỉ có 1 hành vi phạm tội ngày 23/3/2024.
Xét thấy 6 bị cáo L, N5, T10, T6, N2, L3 phạm tội lần đầu vì ngày 23/3/2024 phạm tội khi chưa có hành vi vi phạm nào khác, vai trò trong vụ án ở mức thấp nhất nên 6 bị cáo này có mức hình phạt bằng nhau.
(Còn lại 13 bị cáo khác là có hành vi phạm tội tiếp ngày 25/3/2024 cũng là gây rối trật tự công cộng và bị Tòa án Thuận Thành Bắc Ninh xử ngày 11/9/2024)
Tuy nhiên, khi lượng hình 18 bị cáo (trừ bị cáo N5, vì bị cáo N5 sinh ngày 12/3/2006, phạm tội ngày 23/3/2006 khi phạm tội đã đủ 18 tuổi) đều dưới 18 tuổi, căn cứ các Điều 91, 101 BLHS các bị cáo phải chịu không quá ¾ mức hình phạt người thành niên.
Về nhân thân:
-Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có. Bị cáo Văn A và Thế A1 đã có 1 tiền sự đều chưa được xóa, thể hiện nhân thân xấu. Hành vi xảy ra sau thì xử trước nên khi xét xử vụ án này, các bị cáo có 1 bản án có hiệu lực pháp luật về hành vi cùng loại để xem xét toàn diện nhân thân của các bị cáo
- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
+ Các bị cáo đều khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải theo điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS
+ Tại phiên tòa các bị cáo đều nhất trí cùng nhau bồi thường cho người bị hại mặc dù trước phiên tòa 3 bị cáo là H, Văn A và T2 đã bồi thường cho người bị hại số tiền là 20.000.000 đồng và tại phiên tòa H, Văn A, T2 nhất trí cho 16 bị cáo khác được cùng 3 bị cáo bồi thường, nên ghi nhận sự thỏa thuận của các bị cáo tại phiên tòa, xác định các bị cáo đều đã bồi thường cho người bị hại nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ tại điểm b khoản 1 Điều 51 BLHS
+ 06 bị cáo L, N5, T10, T6, A1, T4 đầu thú; Cụ nội bị cáo Văn A là mẹ Việt Nam A, chú ruột bị cáo T là liệt sỹ - bố mẹ bị cáo được thờ và hưởng chế độ liệt sỹ, ông ngoại bị cáo H, ông nội bị cáo T12, ông nội bị cáo N2, ông ngoại bị cáo C1 là người có công với cách mạng là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS.
Căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự phân tích ở trên, HĐXX xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo.
Đối với 13 bị cáo gồm: H, Văn A, H9, C1, T, Q1, H8, T2, T4, A1, T12, Đ1, T17 hành vi phạm tội vai trò chính, liên tiếp có 2 hành vi phạm tội ngày 23/3/2024 và 25/3/2024, đã bị áp dụng hình phạt tù có thời hạn 1 hành vi cùng loại nên cần phải cách ly 13 bị cáo này ra khỏi xã hội một thời gian trong khung hình phạt.
Đối với 13 bị cáo gồm H, Văn A, H9, C1, T, Q1, H8, T2, T4, A1, T12, Đ1, T17 ngày 11/9/2024 bị Tòa án Thuận T17 xét xử bản án số 96/2024/HSST hành vi Gây rối trật tự công cộng ngày 25/3/2024, bản án đã có hiệu lực pháp luật, căn cứ các Điều 55, 56, 104 BLHS tổng hợp hình phạt của bản án này và bản án số 96 của Thuận T16 đối với 13 bị cáo.
Đối với 6 bị cáo gồm L, N5, T6, T10, L3, N2 có 1 hành vi vi phạm, vai trò trong vụ án là thấp nhất, có nơi cư trú rõ ràng, lần đầu phạm tội, có 2 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 nên đủ điều kiện áp dụng Điều 65 BLHS và Điều 1 Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán TANDTC cho 6 bị cáo được cải tạo ngoài xã hội cũng đủ tác dụng giáo dục và phòng ngừa chung.
[4]. Về hình phạt bổ sung: Căn cứ Điều 91 BLHS về nguyên tắc xét xử đối với người dưới 18 tuổi không áp dụng hình phạt bổ sung nên không áp dụng hình phạt bổ sung với các bị cáo. Do không áp dụng hình phạt bổ sung với các bị cáo khác, nên bị cáo N5 đủ 18 tuổi cũng không áp dụng hình phạt bổ sung với bị cáo N5.
[5].Về dân sự:
+ Ghi nhận sự thỏa thuận của 16 bị cáo (H9, Đ1, T, A1, Q1, Chiến T18, H8, T16, T12, N2, L3, L, N5, T10, T6) với 3 bị cáo H, Văn A, T2 cùng những người đại diện hợp pháp đã cùng bồi thường cho anh Nguyễn Quang M3 số tiền 20.000.000 đồng. Nếu các bên có tranh chấp về việc phân chia số tiền đóng góp sẽ giải quyết trong vụ án khác.
+ Đối với xe máy của anh Phùng Tiến M4 bị hư hỏng nhẹ, anh Tiến M4 không yêu cầu bồi thường dân sự, HĐXX không xem xét giải quyết.
[6]. Về vật chứng:
+ 01 chiếc USB bên trong có lưu 02 đoạn video ghi lại hình ảnh liên quan đến vụ án do ông Lê Hồng H19, sinh năm 1984 ở T, Đ, G giao nộp là chứng cứ vụ án, tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án
+ 01 con dao (Dao mèo) có chuôi bằng gỗ màu vàng dài 20cm; bao dao bằng gỗ màu vàng dài 54cm; lưỡi dao bằng kim loại sáng màu có nhiều vết hoen rỉ dài 46,5cm, bản rộng 4,5cm có một đầu nhọn cong về phía sống dao, dao có 01 cạnh sắc, đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo Nguyễn Văn Đ1 là vật liên quan đến tội phạm cho tịch thu tiêu hủy
+ 01 xe máy Honda wave màu đen mang BKS: 99F1-668.53, có số khung: RLHJA393XPY622231; số máy: JA070E0082594, có 01 gương chiếu hậu bên phải, đã qua sử dụng, xác định của bà Ngô Thị D1 (Mẹ đẻ của Phạm Đình H15); Ngày 05/9/2024 Cơ quan CSĐT – Công an huyện G đã trao trả bà D1, HĐXX không giải quyết.
+ 01 xe máy Honda Vision màu đen, mang BKS: 99F1-67967, có số khung: RLHJK0359PZ111044, số máy: JK03E7811069, có 01 gương chiếu hậu bên trái, đã qua sử dụng, xác định của ông Nguyễn Văn H5 (Bố đẻ của Nguyễn Hoàng L); Cơ quan CSĐT – Công an huyện G đã trả xe máy cho bà D1; HĐXX không xem xét giải quyết.
+ 01 xe máy Honda wave A màu đen, mang BKS: 99F1-68019, có số khung: RLHJA3937PY623577; số máy: JA07E0084478, đã qua sử dụng, xác định của ông Phùng Bá M2 (Bố đẻ của Phùng Bá L3); Ngày 05/9/2024 Cơ quan CSĐT – Công an huyện G đã trả xe máy cho ông M2, HĐXX không giải quyết.
+ 01 xe máy Honda Wave A màu xanh tím than, mang BKS: 99F1-63993, có số khung: RLHJA3928PY480680; số máy: JA39E3101747, đã qua sử dụng; qua xác minh đây là xe của chị Nguyễn Thị N1 sinh năm 1977, trú tại Ngũ T, T, Bắc Ninh mua để sử dụng và cho Đ1 đứng tên khi nào Đ1 có giấy phép lái xe mới giao xe cho Đ1; Ngày 23/3/2024, chị N1 không biết Đ1 lấy xe để làm phương tiện đi phạm tội, tài sản của chị N1 mua khi Đ1 chưa đủ tuổi thành niên, nên trả lại xe cho chị N1 có căn cứ.
+ 01 xe máy Honda wave màu xanh tím than, mang BKS: 99AF-06687, có số khung: RLHJA3935PY044412; số máy: JA70E0059274, không có gương chiếu hậu, đã qua sử dụng, qua xác minh là xe của anh Nguyễn Văn Đ2, sinh năm 1972, trú tại S, T, Bắc Ninh mua để sử dụng và cho T6 đứng tên khi nào T6 có giấy phép lái xe mới giao xe cho T6. Ngày 23/3/2024, anh Đ2 không biết T6 lấy xe để làm phương tiện đi gây rối, nên trả lại xe cho anh Đ2 có căn cứ.
+ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu vàng, dung lượng 256GB, số IMEI: 359151074028646, bên trong không lắp SIM, thu giữ của Nguyễn Đình L5; qua kiểm tra không phát hiện nội dung liên quan đến vụ việc; trả lại cho L5 là có căn cứ.
+ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu xanh ngọc, có số IMEI: 8666890476967970, bên trong lắp SIM số 0369018621 bị vỡ màn hình phía trước và phía sau lưng, đã qua sử dụng thu giữ của Lê Minh N2 giao nộp, N2 sử dụng để giao dịch gọi nhau đi đua xe, cho tịch thu sung công.
+ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X màu trắng, có số IMEI: 354871094258155, bên trong lắp SIM số 0362967583 đã qua sử dụng thu giữ của Nguyễn Văn T10, T10 sử dụng để giao dịch gọi nhau đi đua xe, cho tịch thu sung công.
+ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X màu trắng, có số IMEI: 354873091348476 bên trong lắp SIM số: 0359138994 đã qua sử dụng thu giữ của Nguyễn Văn T6, T6 sử dụng để giao dịch gọi nhau đi đua xe, cho tịch thu sung công.
+ 01 điện thoại Iphone XS màu đen, có số IMEI: 356171099149311 bên trong lắp SIM số: 0984975313 đã qua sử dụng thu giữ của Nguyễn Văn N3, N3 sử dụng để giao dịch gọi nhau đi đua xe, cho tịch thu sung công.
+ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu đen, có số IMEI: 359476086372868, bên trong lắp SIM số: 0868670724 bị vỡ màn hình, đã qua sử dụng thu giữ của Nguyễn Văn L4, qua kiểm tra không phát hiện nội dung liên quan đến vụ việc; trả lại cho L4 là có căn cứ.
+ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5s màu vàng, có số IMEI: 013971005150666 đã qua sử dụng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s, màu ghi (Tài sản của L3 đưa Đ1 sử dụng), có số IMEI: 355690073723370 đã qua sử dụng thu giữ của Nguyễn Văn Đ1, Đ1 khai sử dụng Ip 5s để liên lạc rủ nhau đi đua xe, L3 khai sử dụng Iphone 6s để liên lạc đi đua xe, nên cho tịch thu sung công 2 chiếc điện thoại của Đ1 và L3.
+ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax màu vàng, có số IMEI 1: 357677124879564; IMEI 2: 357677124799481 đã qua sử dụng thu giữ của Phùng Bá L3, điện thoại này L3 không sử dụng vào việc phạm tội, trả lại cho L3 là có căn cứ.
+ Đối với xe máy của Phạm Văn T14, Nguyễn Văn A, Trần Kim C1, Nguyễn Đức T4 và Nguyễn Văn H8 và xe máy bị hại là anh Nguyễn Quang M3, anh Phùng Tiến M4 đều tự ý lấy đi, không xin phép chủ sở hữu là bà Lê Thị L6 (mẹ đẻ T14), ông Nguyễn Mạnh C (bố đẻ Nguyễn Văn A), ông Trần Kim T1 (bố đẻ C1), ông Nguyễn Đức V3 (bố T4), ông Nguyễn Văn M (bố đẻ H8), ông Nguyễn Trung K1 (bố đẻ Quang M3) và ông Phùng Văn H13 (bố đẻ Tiến M4). Do vậy không có căn cứ xử lý bà L6, ông C, ông T1, ông V3, ông M4, ông K1 và ông H13 về tội giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ được quy định tại Điều 264 Bộ luật hình sự. Hiện các xe máy của Phạm Văn T14, Nguyễn Văn A, Trần Kim C1, Nguyễn Đức T4 và Nguyễn Văn H8 Cơ quan CSĐT - Công an thị xã T thu giữ; HĐXX không xem xét giải quyết.
[7]. Về án phí: Do các bị cáo phạm tội khi đã 16 tuổi, không là trẻ em theo Điều 1 Luật trẻ em, theo điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326 về án phí nên các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm khi bị kết án.
[8]. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, những người đại diện hợp pháp cho các bị cáo, người bào chữa cho các bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
[9]. Về hành vi, việc khác cần giải quyết trong vụ án:
+ Đối với hành vi của Nguyễn Văn L4, Nguyễn Đình L5, Phạm Văn T14 và Phạm Đình H15 cũng tham gia gây rối trật tự công cộng ngày 23/3/3034 trên địa bàn huyện G cùng nhóm của Nguyễn Bá H. Đối với 01 chiếc đinh ba do Cơ quan điều tra - Công an thị xã T đã thu giữ là chiếc đinh ba Nguyễn Văn L4 (dưới 16 tuổi) mượn của Nguyễn Thế S5 (dưới 16 tuổi). S5 biết việc Văn L4 mang đi đua xe, đánh nhau, gây rối trật tự công cộng ngày 23/3/2024 nhưng vẫn đồng ý cho mượn. Do các đối tượng trên chưa đủ tuổi 16 tuổi, căn cứ khoản 2 Điều 12 BLHS quy định người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng chịu trách nhiệm hình sự 28 tội (trong đó không có Điều 318) nên Cơ quan CSĐT – Công an huyện G đã công văn cùng tài liệu đến UBND xã, phường nơi Nguyễn Văn L4, Nguyễn Đình L5, Phạm Văn T14, Phạm Đình H15 và Nguyễn Thế S5 cư trú để đề nghị UBND xã, phường lập hồ sơ, áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường đối với anh Nguyễn Văn L4, Nguyễn Đình L5, Phạm Văn T14, Phạm Đình H15 và Nguyễn Thế S5 mà không truy cứu trách nhiệm hình sự là có căn cứ, HĐXX không xem xét giải quyết.
+ Đối với Nguyễn Hải A4 điều khiển xe máy chở H9 và Lê Việt T15 (ngồi sau cùng) do khi gặp nhóm của Nguyễn Bá H đi chậm, dàn hàng ngang và có người cầm theo kiếm, đinh ba thì T15 bảo Hải A4 đi qua nhóm này để đi về. Khi xe của Nguyễn Hải A4 từ phía sau vượt lên cách nhóm của H khoảng 2 đến 3 mét thì T15 rút thanh kiếm để ở bô xe của Hải A4 (Hải A4 và H9 không biết T15 cầm kiếm theo) khua về nhóm của H mục đích để nhóm của H không đuổi theo nhưng không trúng ai. Hành vi của Nguyễn Hải A4, Nguyễn Minh H17 và Lê Việt T15 không gây cản trở, ách tắc giao thông, không lạng lách, đánh võng, bấm còi, không gây thiệt hại và gây thương tích cho ai khi gặp nhóm của Nguyễn Bá H nên không cấu thành tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại Điều 318 Bộ luật hình sự; HĐXX không xem xét giải quyết là có căn cứ. Kiếm của T15 không thu giữ được, nên không giám định được nên không có căn cứ xử lý T15 về hành vi tàng trữ vũ khí thô sơ, HĐXX không giải quyết.
+ Đối với Nguyễn Hải A4, Nguyễn Minh H17, Đào Dương Quang A5, Lê Việt T15 khi tham gia giao thông vi phạm các lỗi như: Không đội mũ bảo hiểm; chở người ngồi trên xe không đội mũ bảo hiểm, điều khiển xe không có gương chiếu hậu bên trái người điều khiển; không mang giấy đăng ký xe, điều khiển xe mô tô không có giấy chứng nhận bảo hiểm dân sự, người được chở trên xe không đội mũ bảo hiểm...đều bị công an huyện G ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính; HĐXX không xem xét giải quyết là có căn cứ.
+ Đối với nhóm phía bị hại gồm: Nguyễn Quang M3, Phùng Tiến M4, Trần Minh H16, Nguyễn Thành V2, Dương Gia B1, Nguyễn Dương A2 và nhóm các bị cáo gồm: Trần Kim C1, Nguyễn Thế A1, Nguyễn Đức T4, Lê Minh N2, Nguyễn Đắc T, Nguyễn Văn Q1, Nguyễn Văn T6, Nguyễn Bá H, Nguyễn Phú T2, Nguyễn Văn H8, Hoàng Công T12, Nguyễn Văn Đ1, Phùng Bá L3, Nguyễn Hữu T7, Nguyễn Văn H9, Nguyễn Văn A, Nguyễn Văn T10, Nguyễn Văn L4, Phạm Đình H15, Nguyễn Đình L5 và Phạm Văn T19khi tham gia giao thông vi phạm các lỗi như: Không đội mũ bảo hiểm; chở người ngồi trên xe không đội mũ bảo hiểm, điều khiển xe không có gương chiếu hậu bên trái người điều khiển; không mang giấy đăng ký xe, điều khiển xe mô tô không có giấy chứng nhận bảo hiểm dân sự, người được chở trên xe không đội mũ bảo hiểm... đều bị công an huyện G ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính; HĐXX không xem xét giải quyết là có căn cứ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Bá H, Nguyễn Văn H9, Nguyễn Văn A, Trần Kim C1, Nguyễn Đắc T,Nguyễn Văn Q1, Nguyễn Văn H8,Nguyễn Phú T2, Nguyễn Đức T4, Nguyễn Thế A1, Nguyễn Hoàng L, Nguyễn Văn N3, Lê Minh N2, Hoàng Công T12, Nguyễn Văn Đ1, Phùng Bá L3, Nguyễn Hữu T7, Nguyễn Văn T10 và Nguyễn Văn T6 cùng phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
2. Căn cứ:
+ Điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s, b khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 BLHS với các bị cáo L, N3, T10, T6, A1, Văn A, H, T, T12, N2, C1, T4; Điều 38 BLHS đối với 13 bị cáo H, Văn A, H9, C1, T, Q1, H8, T2, T4, A1, Đ1, T7, T12; Điều 65 BLHS với 06 bị cáo L, N3, T10, T6, N2, L3; Điều 91 và 101 BLHS với 18 bị cáo (Trừ bị cáo N3); Các Điều 55, 56, 104 BLHS đối với 13 bị cáo H, Văn A, H9, C1, T, Q1, H8, T2, T4, A1, T12, Đ1, T7; Điều 47, 17, 58 BLHS;
+ Các Điều 106, 136, 331, 332, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự;
+ Điều 2 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán TANDTC hướng dẫn áp dụng Điều 65 của BLHS về án treo; Điều 1 Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán TANDTC sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018 đối với 6 bị cáo L, N3, T10, T6, N2, L3;
+ Điểm đ khoản 1 Điều 12, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
3. Xử phạt:
3.1. Bị cáo Nguyễn Bá H 21 (Hai mươi mốt) tháng tù. Tổng hợp hình phạt 22 (Hai mươi hai) tháng tù của bản án số 96 ngày 11/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, buộc bị cáo H phải chấp hành hình phạt của hai bản án là 43 (Bốn mươi ba) tháng tù, hạn tù tính từ ngày bắt 31/10/2024, được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/3/2024 đến ngày 23/4/2024.
3.2. Bị cáo Nguyễn Văn A 21 (Hai mươi mốt) tháng tù. Tổng hợp hình phạt 22 (Hai mươi hai) tháng tù của bản án số 96 ngày 11/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, buộc bị cáo Văn A phải chấp hành hình phạt của hai bản án là 43 (Bốn mươi ba) tháng tù, hạn tù tính từ ngày bắt 15/11/2024, được trừ thời gian tạm giữ tạm giam từ ngày 26/3/2024 đến 23/4/2024.
3.3. Bị cáo Nguyễn Văn H9 20 (Hai mươi) tháng tù. Tổng hợp hình phạt 20 (Hai mươi) tháng tù của bản án số 96 ngày 11/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, buộc bị cáo H9 phải chấp hành hình phạt của hai bản án là 40 (Bốn mươi) tháng tù, hạn tù tính từ ngày bắt 31/10/2024, được trừ thời hạn bị tạm giữ tạm giam của bản án 96 từ ngày 26/3/2024 đến ngày 26/4/2024.
3.4. Bị cáo Trần Kim C1 20 (Hai mươi) tháng tù. Tổng hợp hình phạt 16 (Mười sáu) tháng tù của bản án số 96 ngày 11/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, buộc bị cáo C1 phải chấp hành hình phạt của hai bản án là 36 (Ba mươi sáu) tháng tù, hạn tù tính từ ngày bắt 31/10/2024, được trừ thời hạn bị tạm giữ tạm giam của bản án 96 từ ngày 26/3/2024 đến ngày 23/4/2024.
3.5. Bị cáo Nguyễn Đắc T 20 (Hai mươi) tháng tù. Tổng hợp hình phạt 16 (Mười sáu) tháng tù của bản án số 96 ngày 11/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, buộc bị cáo T phải chấp hành hình phạt của hai bản án là 36 (Ba mươi sáu) tháng tù, hạn tù tính từ ngày bắt 31/10/2024, được trừ thời hạn bị tạm giữ tạm giam của bản án 96 từ ngày 26/3/2024 đến ngày 23/4/2024.
3.6. Bị cáo Nguyễn Văn Q1 20 (Hai mươi) tháng tù. Tổng hợp hình phạt 20 (Hai mươi) tháng tù của bản án số 96 ngày 11/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, buộc bị cáo Q1 phải chấp hành hình phạt của hai bản án là 40 (Bốn mươi) tháng tù, hạn tù tính từ ngày bắt 31/10/2024được trừ thời hạn bị tạm giữ tạm giam của bản án 96 từ ngày 26/3/2024 đến ngày 23/4/2024.
3.7. Bị cáo Nguyễn Văn H8 20 (Hai mươi) tháng tù. Tổng hợp hình phạt 16 (Mười sáu) tháng tù của bản án số 96 ngày 11/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, buộc bị cáo H8 phải chấp hành hình phạt của hai bản án là 36 (Ba mươi sáu) tháng tù, hạn tù tính từ ngày bắt 31/10/2024, được trừ thời hạn bị tạm giữ tạm giam của bản án 96 từ ngày 26/3/2024 đến ngày 23/4/2024.
3.8. Bị cáo Nguyễn Phú T2 20 (Hai mươi) tháng tù. Tổng hợp hình phạt 23 (Hai mươi ba) tháng tù của bản án số 96 ngày 11/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, buộc bị cáo T2 phải chấp hành hình phạt của hai bản án là 43 (Bốn mươi ba) tháng tù, hạn tù tính từ ngày bắt 31/10/2024, được trừ thời hạn bị tạm giữ tạm giam của bản án 96 từ ngày 07/4/2024 đến ngày 26/4/2024.
3.9. Bị cáo Nguyễn Đức T4 20 (Hai mươi) tháng tù. Tổng hợp hình phạt 16 (Mười sáu) tháng tù của bản án số 96 ngày 11/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, buộc bị cáo T4 phải chấp hành hình phạt của hai bản án là 36 (Ba mươi sáu) tháng tù, hạn tù tính từ ngày bắt 31/10/2024, được trừ thời hạn bị tạm giữ tạm giam của bản án 96 từ ngày 09/4/2024 đến ngày 23/4/2024 và thời gian tạm giữ của bản án này từ ngày 02/4/2024 đến ngày 05/4/2024.
3.10. Bị cáo Nguyễn Thế A1 20 (Hai mươi) tháng tù. Tổng hợp hình phạt 16 (Mười sáu) tháng tù của bản án số 96 ngày 11/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, buộc bị cáo A1 phải chấp hành hình phạt của hai bản án là 36 (Ba mươi sáu) tháng tù, hạn tù tính từ ngày bắt 31/10/2024, được trừ thời hạn bị tạm giữ tạm giam của bản án 96 từ ngày 09/4/2024 đến ngày 26/4/2024 và thơi gian đầu thú tạm giữ của bản án này từ ngày 30/3/2024 đến ngày 05/4//2024.
3.11. Bị cáo Nguyễn Hữu T7 20 (Hai mươi) tháng tù. Tổng hợp hình phạt 16 (Mười sáu) tháng tù của bản án số 96 ngày 11/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, buộc bị cáo T7 phải chấp hành hình phạt của hai bản án là 36 (Ba mươi sáu) tháng tù, hạn tù tính từ ngày bắt 31/10/2024, được trừ thời hạn bị tạm giữ tạm giam của bản án 96 từ ngày 05/4/2024 đến ngày 26/4/2024.
3.12. Bị cáo Hoàng Công T12 20 (Hai mươi) tháng tù. Tổng hợp hình phạt 16 (Mười sáu) tháng tù của bản án số 96 ngày 11/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, buộc bị cáo T12 phải chấp hành hình phạt của hai bản án là 36 (Ba mươi sáu) tháng tù, hạn tù tính từ ngày bắt 31/10/2024, được trừ thời hạn bị tạm giữ tạm giam của bản án 96 từ ngày 09/4/2024 đến ngày 23/4/2024 và thời gian tạm giữ của bản án này từ ngày 27/3/2024 đến ngày 05/4/2024.
3.13. Bị cáo Nguyễn Văn Đ1 20 (Hai mươi) tháng tù. Tổng hợp hình phạt 16 (Mười sáu) tháng tù của bản án số 96 ngày 11/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, buộc bị cáo Đ1 phải chấp hành hình phạt của hai bản án là 36 (Ba mươi sáu) tháng tù, hạn tù tính từ ngày bắt 31/10/2024, được trừ thời hạn bị tạm giữ tạm giam của bản án 96 từ ngày 09/4/2024 đến ngày 23/4/2024 và thời gian bắt khẩn cấp, tạm giữ của bản án này từ ngày 27/3/2024 đến ngày 05/4/2024.
3.14. Bị cáo Lê Minh N2 18 (Mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 (Ba mươi sáu) tháng tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo N2 về UBND xã N, huyện T, tỉnh Bắc Ninh quản lý, giám sát, theo dõi trong thời gian thử thách của án treo.
3.15. Bị cáo Phùng Bá L3 18 (Mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 (Ba mươi sáu) tháng tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo L3 về UBND xã N, huyện T, tỉnh Bắc Ninh quản lý, giám sát, theo dõi trong thời gian thử thách của án treo.
3.16. Bị cáo Nguyễn Văn T10 18 (Mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 (Ba mươi sáu) tháng tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo T10 về UBND phường X, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh quản lý, giám sát, theo dõi trong thời gian thử thách của án treo.
3.17. Bị cáo Nguyễn Văn T6 18 (Mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 (Ba mươi sáu) tháng tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo T6 về UBND xã S, huyện T, tỉnh Bắc Ninh quản lý, giám sát, theo dõi trong thời gian thử thách của án treo.
3.18. Bị cáo Nguyễn Hoàng L 18 (Mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 (Ba mươi sáu) tháng tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo L về UBND xã S, huyện T, tỉnh Bắc Ninh quản lý, giám sát, theo dõi trong thời gian thử thách của án treo.
3.19. Bị cáo Nguyễn Văn N3 24 (Hai mươi tư) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 (Bốn mươi tám) tháng tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo N3 về UBND xã S, huyện T, tỉnh Bắc Ninh quản lý, giám sát, theo dõi trong thời gian thử thách của án treo.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Áp dụng khoản 5 Điều 65 của BLHS: Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
4. Về hình phạt bổ sung: Không
5. Về dân sự:
+ Ghi nhận 19 bị cáo tự nguyện bồi thường cho anh Quang M3 số tiền 20.000.000 đồng (tương ứng mỗi bị cáo 1.053.000 đồng). Ghi nhận 19 bị cáo tự thỏa thuận đóng góp với nhau sau phiên tòa số tiền đã bồi thường, nếu có tranh chấp sẽ giải quyết trong vụ án khác.
+ Anh Quang M3 và Tiến M4 không còn yêu cầu gì khác về dân sự, HĐXX không giải quyết.
6. Về vật chứng:
6.1. Tịch thu tiêu hủy: 01 con dao có chuôi bằng gỗ màu vàng dài 20cm; bao dao bằng gỗ màu vàng dài 54cm; lưỡi dao bằng kim loại sáng màu có nhiều vết hoen rỉ dài 46,5cm, bản rộng 4,5cm có một đầu nhọn cong về phía sống dao, dao có 01 cạnh sắc, đã qua sử dụng.
6.2. Lưu giữ kèm hồ sơ: 01 chiếc USB bên trong có lưu 02 đoạn video ghi lại hình ảnh liên quan đến vụ án
6.3. Tịch thu sung công:
- 01 điện thoại Redmi màu xanh ngọc của bị cáo Lê Minh N2
- 01 điện thoại Iphone X màu trắng của bị cáo Nguyễn Văn T10
- 01 điện thoại Iphone X màu trắng của bị cáo Nguyễn Văn T6
- 01 điện thoại Iphone XS màu đen của bị cáo Nguyễn Văn N3
- 01 điện thoại Iphone 5s màu vàng của bị cáo Nguyễn Văn Đ1
- 01 điện thoại Iphone 6s màu ghi của bị cáo Phùng Bá L3
6.4 Trả lại:
- Bà Nguyễn Thị N1 01 xe máy Honda wave an pha màu xanh tím than mang BKS 99F1-63993, số khung RLHJA3928PY480684, số máy JA39E3101747, đã qua sử dụng.
- Ông Nguyễn Văn Đ2 01 xe máy Honda wave màu xanh tím than, mang BKS 99AF-06687, số khung RLHJA3935PY044412, số máy JA70E0059274, không có gương chiếu hậu, đã qua sử dụng.
- Anh Nguyễn Đình L5 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu vàng, dung lượng 256GB, số IMEI: 359151074028646, bên trong không lắp SIM.
- Anh Nguyễn Văn L4 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu đen, có số IMEI: 359476086372868, bên trong lắp SIM số: 0868670724 bị vỡ màn hình.
- Bị cáo Phùng Bá L3 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax màu vàng.
(Biên bản giao nhận vật chứng ngày 18/11/2024 của Chi cục THADS huyện G)
7. Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 BLTTHS và khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án, lệ phí Tòa án. Các bị cáo Nguyễn Bá H, Nguyễn Văn H9, Nguyễn Văn A, Trần Kim C1, Nguyễn Đắc T,Nguyễn Văn Q1, Nguyễn Văn H8, Nguyễn Phú T2, Nguyễn Đức T4, Nguyễn Thế A1, Nguyễn Hoàng L, Nguyễn Văn N3, Lê Minh N2, Hoàng Công T12, Nguyễn Văn Đ1, Phùng Bá L3, Nguyễn Hữu T7, Nguyễn Văn T10 và Nguyễn Văn T6 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm
8. Về quyền kháng cáo:
+ Báo cho 19 bị cáo Nguyễn Bá H, Nguyễn Văn H9, Nguyễn Văn A, Trần Kim C1, Nguyễn Đắc T,Nguyễn Văn Q1,Nguyễn Văn H8,Nguyễn Phú T2, Nguyễn Đức T4, Nguyễn Thế A1, Nguyễn Hoàng L, Nguyễn Văn N3, Lê Minh N2, Hoàng Công T12, Nguyễn Văn Đ1, Phùng Bá L3, Nguyễn Hữu T7, Nguyễn Văn T10 và Nguyễn Văn T6, người đại diện theo pháp luật của 18 bị cáo (trừ bị cáo N3), người bào chữa cho các bị cáo chưa đủ 18 tuổi, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan khác có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án;
+ Báo cho người bị hại anh Nguyễn Quang M3 và Phùng Tiến M4 và người đại diện theo pháp luật của 2 bị hại, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, bà Nguyễn Thị N1, anh Nguyễn Văn Đ2, anh Nguyễn Văn L4, Nguyễn Đình L5, Phạm Văn T20, Phạm Đình H15 và người đại diện của họ vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thiên Hương |
Bản án số 213/2024/HS-ST ngày 22/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LÂM về gây rối trật tự công cộng (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 213/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Gây rối trật tự công cộng (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LÂM
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Bá H SN 2006 và ĐP
