Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 213/2024/HS-PT

Ngày: 22/11/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Triệu Thị Luyện
  • - Các Thẩm phán: Bà Trần Thị Hà
  • Ông Nguyễn Việt Hùng

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Hoan – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Ông Hoàng T – Kiểm sát viên.

Trong ngày 22/11/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 245/TLPT-HS ngày 10/10/2024 đối với các bị cáo Nguyễn Văn C, Hoàng Văn H,Trương Quốc T1, Đỗ Văn L do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 23/2024/HS-ST ngày 10/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang.

*Bị cáo kháng cáo:

1. Họ và tên Nguyễn Văn C, sinh năm 1985

Tên gọi khác: Không

Nơi sinh: Huyện S, tỉnh Bắc Giang; Nơi ĐKNKTT và thường trú: Thôn H, xã L, huyện S, tỉnh Bắc Giang.

Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa:12/12; Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không; con ông Nguyễn Hồng T2 (đã chết) và bà Nguyễn Thị L1; có vợ Hoàng Thị C1 và có 02 con;

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 18/11/2021, Nguyễn Văn C bị Chủ tịch UBND xã L, huyện S ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 207/QĐ-XPHC xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi Đánh bạc. Ngày 21/11/2021, Nguyễn Văn C đã nộp phạt đủ số tiền này.

Bị cáo không bị bắt tạm giữ, tạm giam; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên Hoàng Văn H, sinh năm 1978

Tên gọi khác: Không

Nơi sinh: Huyện S, tỉnh Bắc Giang; Nơi ĐKNKTT và thường trú: Thôn Đ, xã D, huyện S, tỉnh Bắc Giang.

1

Dân tộc: Tày; Quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 02/12; Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không; con ông Hoàng Văn V và bà Hoàng Thị P; có vợ Hoàng Thị C2 và có 02 con;

Tiền án, tiền sự: Không có.

Nhân thân: Bản án số 18/2021/HSST ngày 22/07/2021 của TAND huyện Sơn Động tỉnh Bắc Giang xử phạt Hoàng Văn H 08 tháng tù về tội “Đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 16 tháng

Bị cáo không bị bắt tạm giữ, tạm giam; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

3. Họ và tên Trương Quốc T1, sinh năm 1980

Tên gọi khác: Không.

Nơi sinh: Thị xã D, tỉnh Quảng Ninh; Nơi ĐKNKTT: Khu C, phường Đ, thị xã D, tỉnh Quảng Ninh. Nơi thường trú hiện nay: Thôn Đ, xã L, huyện B, tỉnh Quảng Ninh.

Dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa:12/12; Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không; con ông Trương Quốc K (đã chết) và bà Nguyễn Thị T3; có vợ Vũ Thị Thu M và có 02 con;

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

  • -Bản án số 14/2011/HSST ngày 02/12/2011 của Tòa án nhân dân huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh xử phạt Trương Quốc T1 09 tháng tù về tội “Đánh bạc”, thời hạn tù tính từ ngày 01/07/2011.
  • -Ngày 30/11/2016, Trương Quốc T1 bị Công an huyện B, tỉnh Quảng Ninh ra Quyết định xử phạt hành chính 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc. Ngày 04/01/2017, Trương Quốc T1 đã nộp phạt xong.
  • -Bản án số 129/2017/HS-ST ngày 20/12/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xử phạt Trương Quốc T1 09 tháng tù về tội “Đánh bạc”, thời hạn tù tính từ ngày 17/05/2017.

Bị cáo không bị bắt tạm giữ, tạm giam; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

4. Họ và tên Đỗ Văn L, sinh năm 1985

Tên gọi khác: Không; nơi sinh: Thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; Nơi ĐKNKTT và thường trú: Thôn Đ, xã S, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh.

Dân tộc: Dao; Quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 09/12; Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không; con ông Đỗ Văn L2 và bà Bùi Thị K1; có vợ Vi Thị M1 và có 02 con;

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

  • -Ngày 19/02/2019, Đỗ Văn L bị Công an thành phố H, tỉnh Quảng Ninh ra Quyết định xử phạt hành chính 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 19/02/2019, Đỗ Văn L đã nộp phạt đủ số tiền này.
  • - Bản án số 03/2021/HSST ngày 3/3/2021 của Tòa án nhân dân huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh xử phạt Đỗ Văn L 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng tù về tội “Đánh bạc”.

2

Bị cáo không bị bắt tạm giữ, tạm giam; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

*Trong vụ án còn có các bị cáo khác, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan nhưng không có kháng cáo và liên quan đến kháng cáo nên Tòa phúc thẩm không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

1. Buổi tối ngày 31/12/2023, Nguyễn Văn C, Đặng Hữu L3, Đỗ Văn H1, Đỗ Văn L, Trương Quốc T1, Nguyễn Văn P1, Nguyễn Thanh T4, Phạm Văn P2 và Hoàng Văn T5 đến ăn cơm tại quán ăn M2 ở thôn T, xã L, huyện S. Sau khi ăn cơm xong, C cùng mọi người đến quán bi-a của anh Phạm Văn P2 ngồi chơi, uống nước và đánh bi-a. Tại đây, các đối tượng thống nhất lấy đó làm bàn hoặc để ra đường rèn luyện hay tại phạm tội. Trong vụ án này, bị cáo Nguyễn Văn C là người có vai trò cao nhất (trực tiếp xóc cái và có số tiền nhiều nhất). Căn cứ vào tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân, vai trò các bị cáo thấy mức hình phạt Bản án sơ thẩm xử phạt các bị cáo hình phạt tù giam là phù hợp nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Văn C, Đỗ Văn L, Hoàng Văn H; kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo của bị cáo Trương Quốc T1, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm như đề nghị của Viện kiểm sát. Lúc này, Hoàng Văn H đi đến và ngồi xuống bạt cùng mọi người. Sau đó, Hoàng Văn H, Phạm Văn P2, Nguyễn Văn C, Đỗ Văn L, Đỗ Văn H1, Trương Quốc T1, Đặng Hữu L3 cùng nhau đánh bạc dưới hình thức xóc đĩa; C là người xóc cái cho mọi người đánh bạc. Quá trình các đối tượng đánh bạc lần lượt có Trần Văn L4, Hoàng Văn T6, Hoàng Văn T7, Lộc Văn T8 đến và tham gia đánh bạc cùng mọi người. Trong suốt quá trình đánh bạc Nguyễn Văn C là người xóc cái cho mọi người đánh bạc. Các đối tượng đánh bạc đến hồi 22 giờ 50 phút cùng ngày thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S bắt quả tang; thu giữ tại chiếu bạc: Số tiền 17.065.000 đồng; 01 bát sứ; 01 đĩa sứ; 04 quân vị; 01 chiếc thảm bằng vải màu đỏ, hoa văn màu đen; 01 chiếc bật lửa bằng kim loại màu xanh, một mặt màu cam; 01 chiếc điện thoại Nokia đen trắng và một số đồ vật, tài sản khác. Thu giữ trên người các đối tượng: Trần Văn L4: 3.370.000 đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo Y21s, màu xanh; Nguyễn Thanh T4 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 13 Pro; Hoàng Văn T6 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo Y21, màu xanh; Hoàng Văn H2 số tiền 30.220.000 đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 7 plus, màu vàng.

2. Các bị cáo khai hình thức đánh bạc bằng hình thức đánh xóc đĩa như sau: Các đối tượng quy định đặt cược thấp nhất mỗi lần là 100.000 đồng, cao nhất không giới hạn số tiền; bên tay trái của người cầm cái là cửa lẻ, bên tay phải của người cầm cái là cửa chẵn; tỷ lệ thắng thua là 1/1. Các đối tượng sử dụng 01 bát sứ, 01 đĩa sứ và 04 quân vị một mặt được bôi màu, một mặt để trắng; người xóc cái sẽ cho 04 quân vị vào đĩa, úp bát lên rồi dùng tay lắc xóc lên, xóc xuống nhiều lần sau đó đặt xuống để mọi người đặt tiền (bên chẵn hoặc bên lẻ). Sau khi người cầm cái rao hát: nếu 04 quân vị có 03 mặt trắng, 01 mặt màu, 01 mặt trắng hoặc ngược lại thì cửa lẻ thắng; nếu 04 quân vị có 02 mặt trắng, 02 mặt màu hoặc 04 mặt trắng hoặc 04 mặt màu thì cửa chẵn thắng. Người xóc cái có trách nhiệm thu tiền của bên thua trả cho bên thắng, nếu thừa thì được hưởng, nếu thiếu thì lấy tiền của mình bù vào.

3. Quá trình điều tra các bị cáo khai số tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc như sau:

Nguyễn Văn C cùng 2 người khác khai sử dụng và thu được 3.500.000 đồng để đánh bạc. Quá trình đánh bạc, C là người xóc cái đánh bạc với người chơi; khi Công an bắt quả tang, C cùng thua hết tiền và bỏ chạy. Đặng Hữu L3 khai mang theo 5.000.000 đồng, sử dụng 1.500.000 đồng để đánh bạc, khi Công an bắt quả tang, L3 đang hòa tiền, cầm theo 1.500.000 đồng là tiền đánh bạc bỏ chạy và đã làm rơi mất trong lúc bỏ chạy. Đỗ Văn H1 khai mang theo và sử dụng 1.000.000 đồng để đánh bạc, khi Công an bắt quả tang, H1 thua hết tiền và bỏ chạy. Phạm Văn P2 khai mang theo và sử dụng 700.000 đồng để đánh bạc; khi Công an bắt quả tang, P2 thua hết tiền và bỏ chạy. Hoàng Văn H khai mang theo 650.000 đồng, sử dụng 600.000 đồng để đánh bạc; khi Công an bắt quả tang, H thua hết số tiền sử dụng để đánh bạc và bỏ chạy. Trương Quốc T1 khai mang theo và sử dụng 500.000 đồng để đánh bạc; khi Công an bắt quả tang, T1 thua hết tiền này và bỏ chạy. Hoàng Văn T6 khai mang theo và sử dụng 500.000 đồng để đánh bạc, khi Công an bắt quả tang, T6 thua 300.000 đồng, còn 200.000 đồng đã để xuống chiếu bạc. Đỗ Văn L khai mang theo và sử dụng 400.000 đồng để đánh bạc; khi Công an bắt quả tang, L thua hết tiền và bỏ chạy. Trần Văn L4 khai mang theo 3.670.000 đồng, sử dụng 300.000 đồng để đánh bạc; khi Công an bắt quả tang, L4 thua hết số tiền sử dụng để đánh bạc. Lập giao nộp 3.370.000 đồng không sử dụng để đánh bạc. Hoàng Văn T7 khai mang theo và sử dụng 300.000 đồng để đánh bạc, khi Công an bắt quả tang, T7 thua hết tiền và bỏ chạy. Lộc Văn T8 khai mang theo 230.000 đồng, sử dụng 200.000 đồng để đánh bạc, khi Công an bắt quả tang, T8 thua hết số tiền sử dụng để đánh bạc và bỏ chạy.

Tổng số tiền các bị cáo sử dụng vào mục đích đánh bạc là 18.565.000 đồng (trong đó 17.065.000 đồng thu tại chiếu bạc; 1.500.000 đồng L3 sử dụng đánh bạc làm rơi mất khi bỏ chạy).

4. Quá trình điều tra, truy tố các bị cáo Nguyễn Văn C, Đặng Hữu L3, Đỗ Văn H1, Phạm Văn P2, Hoàng Văn H, Trương Quốc T1, Hoàng Văn T6, Đỗ Văn L, Trần Văn L4, Hoàng Văn T7 và Lộc Văn T8 đều thành khẩn nhận hành vi phạm tội của bản thân và đồng phạm.

Bản Cáo trạng số 22/CT-VKS ngày 08/6/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang truy tố các bị cáo Nguyễn Văn C, Đặng Hữu L3, Đỗ Văn H1, Phạm Văn P2, Hoàng Văn H, Trương Quốc T1, Hoàng Văn T6, Đỗ Văn L, Trần Văn L4, Hoàng Văn T7 và Lộc Văn T8 về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Bản án hình sự sơ thẩm số 23/2024/HS-ST ngày 10/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Sơn Động xử:

1. Áp dụng khoản 1, 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt: Nguyễn Văn C 10 (mười) tháng tù về tội “Đánh bạc” thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

2. Áp dụng khoản 1, 3 Điều 321; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt: Đỗ Văn L 07 (bảy) tháng tù về tội “Đánh bạc”, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

3. Áp dụng khoản 1, 3 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt: Trương Quốc T1 07 (bảy) tháng tù về tội “Đánh bạc”, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

4. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt: Hoàng Văn H 07 (bảy) tháng tù về tội “Đánh bạc”, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

*Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo Nguyễn Văn C, Trương Quốc T1 và Đỗ Văn L mỗi bị cáo phải nộp số tiền 10.000.000đ (Mười triệu đồng) sung công quỹ nhà nước. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Hoàng Văn H.

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên xử phạt các bị cáo khác trong vụ án nhưng không có kháng cáo, về xử lý vật chứng, quyền kháng cáo cho các bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 11/7/2023, các bị cáo Nguyễn Văn C, Trương Quốc T1, Hoàng Văn H, Đỗ Văn L nộp đơn kháng cáo với nội dung đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử cho các bị cáo được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Các bị cáo Nguyễn Văn C, Hoàng Văn H, Trương Quốc T1 giữ nguyên kháng cáo xin hưởng án treo. Bị cáo Đỗ Văn L kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo. Các bị cáo trình bày lý do kháng cáo: Bản án sơ thẩm xét xử về tội danh, điều luật áp dụng đối với các bị cáo là đúng người, đúng tội, không oan sai tuy nhiên xử phạt các bị cáo mức tù giam là nặng so với hành vi phạm tội của các bị cáo, các bị cáo là lao động chính trong gia đình, có mẹ già và các con nhỏ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang thực hành quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích các tình tiết của vụ án, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do các bị cáo gây ra, vai trò, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:

-Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Không Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm:

1. Áp dụng khoản 1, 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt: Nguyễn Văn C 10 (mười) tháng tù về tội “Đánh bạc” thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án. Xác nhận bị cáo đã nộp 10.200.0000đồng tiền phạt bổ sung và án phí theo biên lai thu tiền số 0003401 ngày 27/8/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang.

2. Áp dụng khoản 1, 3 Điều 321; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt: Đỗ Văn L 07 (bảy) tháng tù về tội “Đánh bạc”, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án. Xác nhận bị cáo đã nộp số tiền 10.200.0000đồng tiền phạt bổ sung và án phí theo biên lai thu tiền số 0000772 ngày 22/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang.

5

3. Áp dụng khoản 1, 3 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt: Trương Quốc T1 07 (bảy) tháng tù về tội “Đánh bạc”, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án. Xác nhận bị cáo đã nộp số tiền 10.200.0000đồng tiền phạt bổ sung và án phí theo biên lai thu tiền số 0000771 ngày 22/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang

4. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt: Hoàng Văn H 07 (bảy) tháng tù về tội “Đánh bạc”, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

-Về án phí phúc thẩm: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự phúc thẩm. Miễn án phí hình sự phúc thâm cho bị cáo Hoàng Văn H.

Các bị cáo không có ý kiến tranh luận gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của các bị cáo làm trong thời hạn theo quy định tại Điều 331, Điều 332, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự nên được coi là đơn kháng cáo hợp pháp. Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét giải quyết đơn kháng cáo của các bị cáo theo trình tự phúc thẩm.

[2] Xét kháng cáo của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy:

Căn cứ biên bản vụ việc do Công an huyện S lập hồi 23 giờ ngày 31/7/2023; lời khai của các bị cáo, lời khai của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có đủ căn cứ xác định: Hồi 22 giờ 50 phút ngày 31/12/2023, tại khu rừng trồng keo của gia đình ông Ngọc Xuân D, ở thôn T, xã L, huyện S, tỉnh Bắc Giang, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S bắt quả tang Nguyễn Văn C, Đặng Hữu L3, Đỗ Văn H1, Phạm Văn P2, Hoàng Văn H, Trương Quốc T1, Hoàng Văn T6, Đỗ Văn L, Trần Văn L4, Hoàng Văn T7 và Lộc Văn T8 đang có hành vi đánh bạc bằng hình thức đánh xóc đĩa được thua bằng tiền. Bắt giữ được Trần Văn L4, Hoàng Văn T6 và 02 người khác không tham gia đánh bạc, còn các đối tượng khác bỏ chạy thoát sau đó ra đầu thú. Thu giữ tại chiếu bạc số tiền 17.065.000đồng cùng nhiều đồ vật, tài sản khác. Quá trình bỏ chạy, Đặng Hữu L3 cầm theo và làm rơi mất 1.500.000 đồng là tiền sử dụng để đánh bạc. Tổng số tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc là 18.565.000đồng. Hành vi của các bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Bản án hình sơ thẩm số 23/2024/HS-ST ngày 10/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang xét xử các bị cáo về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Qúa trình xét xử sơ thẩm, Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo Nguyễn Văn C theo quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; các bị cáo Đỗ Văn L, Trương Quốc T1, Hoàng Văn H theo điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự là có căn cứ. Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

6

Tại cấp phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Văn C nộp tài liệu về việc bị cáo tự nguyện nộp số tiền phạt và án phí là 10.200.000đồng, 01 phiếu thu ngày 23/4/2024 thể hiện bị cáo nộp số tiền 1.000.000đồng ủng hộ quỹ xóa nhà tạm năm 2024. Các bị cáo Đỗ Văn L, Trương Quốc T1 nộp tài liệu về việc các bị cáo đã tự nguyện nộp tiền phạt và án phí là 10.200.000đồng. Bị cáo Trương Quốc T1 nộp giấy tờ thể hiện bị cáo nộp số tiền 1000.000đồng quỹ đền ơn đáp nghĩa. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự các bị cáo được áp dụng tại cấp phúc thẩm. Bị cáo Hoàng Văn H không có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới tại cấp phúc thẩm.

Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy: Mặc dù tại cấp phúc thẩm các bị cáo Nguyễn Văn C, Đỗ Văn L, Trương Quốc T1 có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới, tuy nhiên các bị cáo đều đã bị xét xử về hình sự hoặc bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc nhưng không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện hay tái phạm tội. Trong vụ án này, bị cáo Nguyễn Văn C là người có vai trò cao nhất (trực tiếp xóc cái và có số tiền nhiều nhất). Căn cứ vào tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân, vai trò các bị cáo thấy mức hình phạt Bản án sơ thẩm xử phạt các bị cáo hình phạt tù giam là phù hợp nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Văn C, Đỗ Văn L, Hoàng Văn H; kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo của bị cáo Trương Quốc T1, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm như đề nghị của Viện kiểm sát.

[3]Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo của các bị cáo không được chấp nhận nên các bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Bị cáo Hoàng Văn H là người dân tộc thiểu số thường xuyên sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

[4] Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, cấp phúc thẩm không xem xét giải quyết.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1.Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự: Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Văn C, Trương Quốc T1, Đỗ Văn L, Hoàng Văn H; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 23/2024/HS-ST ngày 10/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang.

2. Căn cứ khoản 1,khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt: Nguyễn Văn C 10 (mười) tháng tù về tội “Đánh bạc” thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

Xác nhận bị cáo Nguyễn Văn C đã nộp 10.200.000đồng tiền phạt bổ sung và án phí theo biên lai thu tiền số 0003401 ngày 27/8/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang.

3. Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt: Đỗ Văn L 07 (bảy) tháng tù về tội “Đánh bạc”, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

Xác nhận bị cáo Đỗ Văn L đã nộp số tiền 10.200.000đồng tiền phạt bổ sung và án phí theo biên lai thu tiền số 0000772 ngày 22/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang.

4. Căn cứ khoản 1,khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt: Trương Quốc T1 07 (bảy) tháng tù về tội “Đánh bạc”, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

Xác nhận bị cáo Trương Quốc T1 đã nộp số tiền 10.200.000đồng tiền phạt bổ sung và án phí theo biên lai thu tiền số 0000771 ngày 22/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang

5. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt: Hoàng Văn H 07 (bảy) tháng tù về tội “Đánh bạc” thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

6.Về án phí phúc thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội

  • - Các bị cáo Nguyễn Văn C, Trương Quốc T1, Đỗ Văn L mỗi bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự phúc thẩm.
  • - Miễn án phí hình sự phúc thẩm cho bị cáo Hoàng Văn H.

7. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKS tỉnh Bắc Giang;
  • - TAND huyện Sơn Động;
  • - VKSND huyện Sơn Động;
  • - CA huyện Sơn Động;
  • - Chi cục THA huyện Sơn Động ;
  • - Bị cáo;
  • - UBND nơi bị cáo cư trú;
  • - Lưu HSVA, VP

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Triệu Thị Luyện

Nơi nhận:

  • - VKS tỉnh Bắc Giang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bắc Giang;
  • - Cổng thông tin điện tử Tòa án;
  • - Cục THADS tỉnh Bắc Giang;
  • - CA-VKS-TA-CCTHADS sơ thẩm;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu HS, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Nhiên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 213/2024/HS-PT ngày 22/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về hình sự về tội đánh bạc

  • Số bản án: 213/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 22/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: NGUYỄN VĂN C PHẠM TỘI ĐÁNH BẠC
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger