TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 213/2024/DS-PT Ngày 19-4-2024 V/v: “Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản” | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Ông Phan Đức Phương.
Các Thẩm phán:Ông Hà Huy Cầu.
Ông Mai Xuân Thành.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lã Thị Thu Hoài - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đức - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 4 năm 2024, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 653/2023/TLPT-DS ngày 10 tháng 11 năm 2023 về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 70/2023/DS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 104/2024/QĐPT-DS ngày 03 tháng 01 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Lê Thị Ả, sinh năm 1936 (có mặt).
Địa chỉ: Số D ấp X, xã T, huyện C, tỉnh Long An.
Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1966 (có mặt).
Địa chỉ: Số D ấp X, xã T, huyện C, tỉnh Long An (theo văn bản uỷ quyền ngày 23/6/2021).
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn:
Ông Nguyễn Văn K – Trợ giúp viên của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh L (có mặt).
Bị đơn:
- Ông Nguyễn Xuân V, sinh năm 1977 (có mặt).
Địa chỉ: Số A ấp X, xã T, huyện C, tỉnh Long An. - Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1969 (có mặt).
Địa chỉ: Số E ấp X, xã T, huyện C, tỉnh Long An.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Long An.
Địa chỉ: Số C Đ, Khu phố B, thị trấn T, huyện C, tỉnh Long Anng An.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn K1; chức vụ: Chủ tịch.
Người đại diện hợp pháp: Ông Phạm Văn T; chức vụ: Phó Chủ tịch.
Người được cử tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Ngọc Thảo S; chức vụ: Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường huyện C (vắng mặt).
Ông Nguyễn Văn V1; chức vụ: Giám đốc Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C (vắng mặt). - Văn phòng C.
Địa chỉ: Số C Đường T, ấp X, thị trấn T, huyện C, tỉnh Long Anng An.
Người đại diện theo pháp luật: Bà Trần Ngọc Xuân T1; chức vụ: Trưởng văn phòng. - Bà Nguyễn Thị Kim T2, sinh năm 1968 (có mặt).
Địa chỉ: Số D ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Long Anng An. - Ông Nguyễn Xuân Q, sinh năm 1970 (vắng mặt).
Địa chỉ: Số A ấp X, xã T, huyện C, tỉnh Long An. - Bà Nguyễn Thị Lệ T3, sinh năm 1972 (vắng mặt).
Địa chỉ: Số C ấp B, xã P, huyện C, tỉnh Long An. - Ông Nguyễn Tất T4, sinh năm 1996 (vắng mặt).
- Bà Lâm Thị D, sinh năm 1963 (vắng mặt).
- Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1968 (vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Tổ E, ấp G, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước. - Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1977 (vắng mặt).
Địa chỉ: Số A Tổ D, Khu phố 1, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. - Bà Nguyễn Thị Á, sinh năm 1968 (có mặt).
Địa chỉ: Số A Khu phố E, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bà Nguyễn Thị H2, sinh năm 1976 (có mặt).
Địa chỉ: Số D ấp X, xã T, huyện C, tỉnh Long An.
Người đại diện theo uỷ quyền của ông T4, bà D, ông H, bà H1, bà Á, bà H2: Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1966 (có mặt).
Người kháng cáo: Nguyên đơn, bà Lê Thị Ả.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn, bà Lê Thị Á và người đại diện hợp pháp trình bày:
Bà Ảnh sử dụng đất tại thửa 689, tờ bản đồ số 3, diện tích 1.898m², tọa lạc tại xã T, huyện C, tỉnh Long An từ trước năm 1975 cho đến nay, nguồn gốc đất là do ông bà tổ tiên để lại. Tháng 7/2020, ông Nguyễn Văn L cho rằng phần đất này là của ông Nguyễn Xuân V (em ông L) nên tự cầm búa phá sập 45m hàng rào, chặt 3 bụi chuối, 2 cây xoài và cây dừa, đến khi có sự can thiệp của Công an xã thì ông L mới dừng lại, thiệt hại tính thành tiền là 5.000.000 đồng,
Ngày 20/8/2020, khi UBND xã T tiến hành hòa giải tranh chấp đất giữa gia đình bà với ông V, ông L, thì bà mới biết thửa đất 689 đã được UBND huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (giấy CNQSDĐ) cho ông V vào ngày 31/5/2013.
Thửa đất 689 do ông V đứng tên có diện tích 2.615m², thực tế ông V sử dụng phần 717m², còn bà Ả đang sử dụng 1.898m². Việc ông V được cấp giấy CNQSDĐ thửa đất 689 khi gia đình bà đang sử dụng là không đúng. Xung quanh thửa đất 689 là các thửa đất của gia đình bà, gồm thửa 687, 691, 695, 696 (nguyên một dải đất từ Đường tỉnh 827 chạy vào), gia đình bà không biết đã được cấp giấy CNQSDĐ các thửa nào chỉ biết sử dụng trong đó có thửa đất 689 nêu trên.
Nay bà Ảnh khởi kiện yêu cầu hủy một phần giấy CNQSDĐ số L 530134 ngày 29/9/1997 do UBND huyện C cấp cho ông Nguyễn Văn N1 đối với thửa đất số 689, tờ bản đồ số 3, toạ lạc tại ấp X, xã T; hủy một phần giấy CNQSDĐ số BN 875520 ngày 31/5/2013 do UBND huyện C cấp cho ông Nguyễn Xuân V đối với thửa đất số 689, tờ bản đồ số 3, tọa lạc tại ấp X, xã T; hủy một phần Văn bản thuận phân di sản thừa kế do Văn phòng C chứng nhận số 1580, quyền số 01 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 25/4/2013 đối với thửa đất 689, tờ bản đồ số 3, toạ lạc tại ấp X, xã T; công nhận cho bà Ả được quyền đăng ký cấp giấy CNQSDĐ đối với thửa đất số 689, tờ bản đồ số 3, tọa lạc tại ấp X, xã T; buộc ông Nguyễn Văn L bồi thường thiệt hại cho bà Lê Thị Ả số tiền 5.000.000 đồng do có hành vi phá hoại tài sản, cây cối, hàng rào trên thửa đất 689 nêu trên; hủy giấy CNQSDĐ do UBND huyện C cấp cho ông Nguyễn Văn H3 đối với thửa đất số 456, tờ bản đồ số 3, tọa lạc tại ấp X, xã T, huyện C, tỉnh Long An.
Bị đơn trình bày:
Ông Nguyễn Xuân V trình bày:
Ông V có ông nội (chết trước năm 1975), bà nội là Võ Thị M (chết năm 2019). Cha của ông là Nguyễn Văn N1 (chết ngày 13/05/2012) và mẹ là Nguyễn Thị N2 (chết ngày 13/12/1999). Cha và mẹ của ông có 05 người con gồm: Bà Nguyễn Thị Kim T2, ông Nguyễn Văn L, ông Nguyễn Xuân Q, bà Nguyễn Thị Lệ T3 và ông.
Từ trước đến năm 1975, bà nội của ông có sử dụng một phần đất, sau năm 1975 thì giao cho cha ông Na quản lý sử dụng và ngày 29/09/1997, ông N1 được UBND huyện C cấp giấy CNQSDĐ, gồm 05 thửa là : Thửa 505 (diện tích 1.667m², loại đất lúa); thửa 686 (diện tích 1.164m², loại đất lúa); thửa 688 (diện tích 2.253m², loại đất lúa); thửa 689 (diện tích 2.615m², loại đất ở tại nông thôn) và thửa 803 (diện tích 1.655m², loại đất lúa). Các thửa đất trên đều cùng tờ bản đồ số 3, tọa lạc ấp X, xã T, huyện C, tỉnh Long An.
Sau khi ông N1 chết năm 2012, thì ngày 25/4/2013, bà Võ Thị M cùng 05 anh chị em của ông đến Văn phòng C thỏa thuận phân chia giao quyền lại cho ông hưởng dụng toàn bộ 05 thửa đất trên và ông đã được cấp giấy CNQSDĐ số BN 875519 ngày 31/05/2013, đối với thửa 505 (diện tích 1.667m², loại đất lúa), thửa 803 (thửa mới số 384, tờ bản đồ 19, diện tích 1.655m², loại đất lúa,), thửa 686 (diện tích 1.040m², loại đất lúa) và giấy CNQSDĐ số BN 875520 ngày 31/05/2013 đối với thửa 689 (diện tích 2.615m², loại đất ở) và giấy CNQSDĐ số BN 875518 ngày 31/5/2013, đối với thửa 688 (diện tích 2.184m², loại đất lúa).
Thửa 689 là do ông bà nội để lại cho ông N1 canh tác quản lý sử dụng liên tục, có bản đồ bản vẽ và được cấp giấy CNQSDĐ hợp pháp. Việc thỏa thuận phân chia tài sản thừa kế đúng thành phần, đúng thủ tục và có công chứng, hiện nay ông V vẫn sử dụng đúng diện tích, không có lấn chiếm đất của ai và một thời gian dài không có ai tranh chấp.
Việc bà Ả yêu cầu hủy một phần giấy CNQSDĐ thửa 689; hủy một phần văn bản thuận phân chia di sản ngày 25/4/2013 thì ông không đồng ý. Ông không chấp nhận trả đất cho bà Ả tại vị trí các điểm: 6, 7, 8, 9, 10, 11 theo Mảnh trích đo địa chính số 206/2021 được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C ký duyệt ngày 01/03/2022.
Theo Mảnh trích đo địa chính số 206/2021 thì thửa đất số 689 bị biến dạng bị mất khoảng 2.000m². Bản vẽ thể hiện là ông Nguyễn Văn H3 (chồng bà Ả) khai đứng tên giấy đất tại thửa mới 456. Vì vậy, ông yêu cầu hủy một phần giấy CNQSDĐ của ông Nguyễn Văn H3 tại thửa 456; yêu cầu công nhận cho ông được sử dụng toàn bộ thửa 689.
Ông Nguyễn Văn L trình bày: Thống nhất nội dung trình bày của ông Nguyễn Xuân V.
Ủy ban nhân dân huyện C trình bày:
Ngày 29/9/1997, ông Nguyễn Văn N1 được UBND huyện C cấp giấy CNQSDĐ, trong đó có thửa đất số 689, tờ bản đồ số 3, diện tích 2.615m², đất tọa lạc xã T, huyện C, tỉnh Long An. Năm 2013, ông Nguyễn Xuân V nhận thừa kế thửa đất số 689, diện tích 2.615m² của ông N1 và được UBND huyện cấp giấy
CNQSDĐ ngày 31/5/2013 (theo Văn bản thuận phân chia di sản thừa kể số công chứng: 1580, quyền số 01TP/CC-SCC/HĐGD ngày 25/4/2013 của Văn phòng C).
Ngày 29/9/1997, UBND huyện C cấp giấy CNQSDĐ cho ông Nguyễn Văn H3, trong đó có thửa đất số 691, tờ bản đồ số 3, diện tích 1.372m², đất tọa lạc xã T, huyện C, tỉnh Long An. Ngày 24/7/2013, ông H3 được cấp đổi giấy CNQSDĐ, theo đó thửa đất số 691, tờ bản đồ số 3, đổi thành thửa đất số 456, tờ bản đồ số 19 diện tích 1.274,6m². Việc cấp giấy CNQSDĐ số L 530134 ngày 29/9/1997 cho ông Nguyễn Văn N1 thực hiện đúng đối tượng và đúng theo trình tự thủ tục về đất đai; Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BN 875520 ngày 31/05/2013 cho ông Nguyễn Xuân V thực hiện đúng đối tượng và đúng theo trình tự thủ tục về đất đai (theo Văn bản thuận phân chia di sản thừa kế số công chứng: 1580, quyền số 01TP/CC-SCC/HĐGD ngày 25/4/2013 của Văn phòng C).
Đối với việc cấp đổi giấy CNQSDĐ thửa 456, tờ bản đồ số 19, diện tích 1.274,6m² xã T cho ông Nguyễn Văn H3 là không đúng theo quy định tại điểm d, khoản 2, Điều 100 Luật Đất đai năm 2013, lý do: Ông Nguyễn Văn H3 đã chết trước khi cấp đổi giấy CNQSDĐ (theo giấy chứng tử ông Nguyễn Văn H3 chết năm 2005) nên đề nghị hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BP 118119 đối với thửa đất số 456, tờ bản đồ số 19, diện tích 1.274,6m² xã T do UBND huyện C ký ngày 24/7/2013 cho ông Nguyễn Văn H3.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 70/2023/DS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An, quyết định:
Căn cứ: Các Điều 26, 34, 37, 39, 147, 157, 158, 165, 227, 228, 244 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 170, 174, 175, 155, 457, 459, 584, 585, 609, Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 2 Luật Đất đai năm 1993; Điều 5, 17, 100, 166, 170 Luật Đất đai năm 2013; Nghị định số 64/CP ngày 27/9/1993 của Chính phủ và Quyết định số 201/QĐ.ĐKTK ngày 14/7/1989 của T5; Điều 12, 26, 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Tuyên xử:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Ả.
Không chấp nhận hủy một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số L 530134 ngày 29/9/1997 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho ông Nguyễn Văn N1 đứng tên đối với thửa đất số 689, tờ bản đồ số 3, toạ lạc tại ấp X, xã T, huyện C, tỉnh Long An.
Không chấp nhận hủy một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BN 875520 ngày 31/5/2013 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho ông Nguyễn Xuân V đứng tên
đối với thửa đất số 689, tờ bản đồ số 3, tọa lạc tại ấp X, xã T, huyện C, tỉnh Long An.
Không chấp nhận hủy một phần Văn bản thuận phân di sản thừa kế do Văn phòng C chứng nhận số 1580, quyền số 01 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 25/4/2013 đối với thửa đất 689, tờ bản đồ số 3, toạ lạc tại ấp X, xã T, huyện C, tỉnh Long An.
Không công nhận cho bà Lê Thị Ả được quyền đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 689, tờ bản đồ số 3, tọa lạc tại ấp X, xã T, huyện C, tỉnh Long An.
Không chấp nhận yêu cầu buộc ông Nguyễn Văn L bồi thường thiệt hại cho bà Lê Thị Ả số tiền 5.000.000 đồng.
- Đình chỉ yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho ông Nguyễn Văn H3 đứng tên đối với thửa đất số 456, tờ bản đồ số 3, tọa lạc tại ấp X, xã T, huyện C, tỉnh Long An.
- Đình chỉ yêu cầu đối với phần đất tại vị trí số 7, 11 Mảnh trích đo địa chính số 206-2021.
- Ông Nguyễn Xuân V có quyền sở hữu 7 cây dừa, 4 bụi chuối, 01 cây xoài trên phần đất tranh chấp tại vị trí số 6, 8, 9, 10 Mảnh trích đo địa chính số 206-2021.
- Buộc ông Nguyễn Xuân V có trách nhiệm hoàn trả lại cho bà Lê Thị Ả số tiền 1.960.000 đồng giá trị cây trồng.
- Các đương sự có quyền liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để kê khai, đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật đất đai.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về chi phí tố tụng, án phí, quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 03/10/2023, nguyên đơn bà Lê Thị Ả kháng cáo yêu cầu hủy bản án sơ thẩm
Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện hợp pháp của bà Ả giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Ả trình bày:
Bà Ả yêu cầu hủy giấy CNQSDĐ của ông N1 đối với thửa đất số 689 vì cho rằng ông N1 không phải là người trực tiếp sử dụng, toàn bộ diện tích thửa đất là 2.615m² nhưng tranh chấp chỉ có 350m². Việc cấp giấy CNQSDĐ cho ông N1 không đo đạc thực tế. Ông H3 không kê khai đăng ký thửa 689 vì gia đình nghèo, không biết pháp luật chỉ nghĩ rằng phần đất của mình thì được cấp giấy chứng nhận, đến năm 2016 mới biết thửa đất của ông H3 còn thiếu đất nên mới đi đăng ký.
Đối với thỏa thuận phân chia di sản thừa kế của ông N1 cho ông V thì Văn phòng C không đo đạc, tách thửa chỉ công chứng dựa trên diện tích đất mà ông
N1 đã được cấp giấy CNQSDĐ. Tuy nhiên, ông N1 được cấp giấy chứng nhận không đúng nên Văn bản thuận phân di sản thừa kế do Văn phòng C chứng nhận cũng không đúng.
Tại phiên tòa sơ thẩm, ông L thừa nhận có nhổ phá cây của bà Ả nhưng Tòa án cấp sơ thẩm cho rằng các tài sản bị thiệt hại hiện nay không còn nên không định giá được; bà Ả đã có ý kiến cho rằng giá trị tài sản thực tế bị thiệt hại là 5.000.000 đồng, nên yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét yêu cầu bị đơn bồi thường số tiền trên cho bà Ả.
Tòa án cấp sơ thẩm chỉ cho rằng phần diện tích đất tranh chấp là 350m² mà không nhìn được tổng thể yêu cầu khởi kiện của bà Ả là 2615m². Vấn đề này, bà Ả đã yêu cầu nhưng Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét.
Đồng thời, tại Bản án số 26/2020/DS-ST ngày 05/8/2020 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, ông V thừa nhận có thừa kế từ cha ruột là ông N1, ông xác định thửa 689 chỉ đứng tên nhưng thực tế người sử dụng là bà Ả, ông và gia đình không sử dụng thửa đất này, ông yêu cầu gia đình bà Ả giao cho ông 80 triệu đồng thì ông đồng ý làm lại giấy CNQSDĐ sang tên lại cho bà Ả.
Do đó, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của bà Ả, sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Bị đơn trình bày: Ông L, ông V xác nhận phần đất tranh chấp là đất ở, cha ông đã cất nhà trên đó rồi nên không thể nói là không sử dụng. Năm 2018, ông N đem cây qua trồng nên ông mới rào lại và chặt phá. Trên đất chỉ có lá và có căn nhà xây. Ông V, ông L không đồng ý kháng cáo của bà Ả.
Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh có ý kiến:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán chủ toạ phiên toà, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng: Xét thấy Thẩm phán chủ toạ phiên toà, các thành viên Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đã tuân thủ và chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về tính hợp lệ của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của bà Lê Thị Ả làm trong hạn luật định, đúng hình thức. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận về mặt hình thức.
Viện kiểm sát nhận thấy Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét, đánh giá đầy đủ, toàn diện các chứng cứ và giải quyết phù hợp với quy định của pháp luật. Bà Ả kháng cáo nhưng không có căn cứ chứng minh. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của bà Ả, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Về thủ tục tố tụng: Tòa án nhân dân tỉnh Long An thụ lý vụ án và giải quyết là đúng quy định pháp luật. Bà Lê Thị Ả kháng cáo đúng quy định tại Điều 271, 272, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án, vụ án được xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
[1] Khi giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm đã tiến hành thủ tục đo đạc, định giá tài sản tranh chấp. Mảnh trích đo địa chính số 206-2021 do Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện C ngày 21/02/2022, duyệt ngày 01/3/2022, thể hiện phần đất tranh chấp tại vị trí số 6, 7, 8, 9, 10, 11 lần lượt có diện tích 3,8m², 42,9m², 279,7m², 6,2m², 18,3m², 17,7m² thuộc một phần thửa đất số 689, tờ bản đồ số 3, loại đất thổ, toạ lạc tại xã T, huyện C, tỉnh Long An.
[2] Tại Biên bản làm việc ngày 07/3/2023 (bút lục 134), ông N là người đại diện hợp pháp của bà Ả trình bày: “Bà Ảnh yêu cầu khởi kiện hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông Nguyễn Xuân V đứng tên đối với một phần thửa 689 (cũ), tờ bản đồ số 3, tọa lạc tại xã T, huyện C; Yêu cầu công nhận cho bà Ả và các con bà Ả, ông Nguyễn Văn H3 phần đất tại vị trí số 6, 7, 8, 9, 10 theo Mảnh trích đo địa chính số 206-2021 do Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện C đo vẽ ngày 21/02/2022, duyệt ngày 01/3/2022...”. Ngày 22/8/2023, người đại diện hợp pháp của bà Ả có đơn đề nghị định giá tài sản là diện tích 368,6m² theo trích đo địa chính số 206-2021 (bản phân khu 6, 7, 8, 9, 10, 11) ngày 01/3/2022 do Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện C phê duyệt (bút lục 109). Tại Biên bản thẩm định tại chỗ ngày 08/9/2023 (bút lục 140), có ông Nguyễn Văn N (đại diện của bà Ả) tham dự và ký tên, có nội dung: “Hiện trạng phần đất tranh chấp thửa 689, TBĐ số 3, tọa lạc tại ấp X, xã T.
Vật kiến trúc: Không có.
Cây trồng: Cây dừa 07 cây; cây chuối 04 bụi; cây xoài 01 cây”.
[3] Theo Chứng thư thẩm định giá số 2023082.IVC-CT ngày 20/9/2023 của Công ty Cổ phần Đ thì phần đất tranh chấp tại vị trí số 8 (diện tích 279,7m²), số 10 (diện tích 18,3m²) của Mảnh trích đo địa chính số 206-2021 có giá lần lượt là 32.206.082 đồng và 6.378.483 đồng; các cây trên đất có giá trị 1.960.000 đồng. Tại phiên toà sơ thẩm, các đương sự đều thống nhất với kết quả đo đạc, định giá nêu trên, không có đương sự nào yêu cầu đo đạc và định giá lại. Vì vậy, Tòa án căn cứ kết quả đo đạc, định giá trên để giải quyết vụ án là có căn cứ.
[4] Hồ sơ vụ án thể hiện:
[4.1] Ngày 29/9/1997, ông Nguyễn Văn N1 được UBND huyện C cấp giấy CNQSDĐ số L 530134 trong đó có thửa đất số 689, tờ bản đồ số 3, diện tích 2.615m², loại đất thổ, toạ lạc tại xã T, huyện C, tỉnh Long An.
[4.2] Văn bản thuận phân di sản thừa kế được Văn phòng C chứng nhận số 1580, quyền số 01 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 25/4/2013 (bút lục 105-106), thể hiện: Ông Nguyễn Xuân V nhận di sản trong đó có thửa đất số 689 nêu trên. Ngày 31/5/2013, ông V được UBND huyện C cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BN 875520 đối
với thửa đất số 689, tờ bản đồ số 3, diện tích 2.615m², loại đất thổ, toạ lạc tại xã T, huyện C, tỉnh Long An.
[5] Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn và bị đơn đều cho rằng là người trực tiếp sử dụng diện tích đất tranh chấp nhưng đều không có căn cứ chứng minh. Tại Công văn số 660/CV-UBND ngày 15/9/2023 của UBND xã T, huyện C về việc cung cấp thông tin về phần đất tranh chấp, có nội dung: “Riêng UBND xã T không xác định được nguồn gốc phần đất tranh chấp tại vị trí số 6, 7, 8, 9, 10, 11 của Mảnh trích đo địa chính số 206-2021 do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C đo vẽ ngày 21/2/2023, duyệt ngày 01/3/2022 và không xác định được ai là người sử dụng từ trước đến nay đối với phần đất vị trí 6, 7, 8, 9, 10, 11 của Mảnh trích đo địa chính số 206-2021”.
[6] Tại Công văn số 2593/UBND-NC ngày 20/9/2023 của UBND huyện C, có nội dung: “ Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành L 530134 ngày 29/9/1997 cho ông Nguyễn Văn N1 thực hiện đúng đối tượng và đúng theo trình tự thủ tục về đất đai; Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành BN 875520 ngày 31/05/2013 cho ông Nguyễn Xuân V thực hiện đúng đối tượng và đúng theo trình tự thủ tục về đất đai”.
[7] Tại phiên tòa, bà Ả và người đại diện hợp pháp của bà Ả xác định ông H3 và bà Ả được cấp giấy CNQSDĐ các thửa 687, 691, 695, 696 vào năm 1997 nhưng không đăng ký kê khai và đề nghị cấp giấy CNQSDĐ thửa 689 là do gia đình nghèo. Xét thấy, theo Trích lục bản đồ địa chính của Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất huyện C ngày 18/3/2023 (bút lục 151) thì thửa 687, 691, 695 liền kề với thửa 689. Như vậy, lý do bà Ả trình bày là không kê khai và đề nghị cấp giấy CNQSDĐ thửa 689 vì gia đình nghèo là không hợp lý. Trong khi đó, ông N1 được UBND huyện C cấp giấy CNQSDĐ thửa 689 vào ngày 29/9/1997, loại đất thổ. Sau khi ông N1 chết năm 2012 thì các thừa kế của ông N1 đã lập Văn bản thuận phân di sản thừa kế được Văn phòng C chứng nhận số 1580, quyển số 01 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 25/4/2013. Quá trình công khai không có ai phản đối.
[8] Việc bà Ả có trồng cây trên một phần thửa 689 cũng không phải là căn cứ chứng minh bà là người có quyền sử dụng đất. Việc bà Ả chỉ yêu cầu bị đơn bồi 5.000.000 đồng do bị thiệt hại từ hành vi phá hoại tài sản, cây cối, hàng rào trên thửa 689 nhưng không có căn cứ chứng minh giá trị thiệt hại thực tế nên Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét là có căn cứ.
[9] Từ những chứng cứ nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện nguyên đơn là có căn cứ. Vì vậy, Hội đồng xét xử thống nhất ý kiến của Viện kiểm sát, không chấp nhận kháng cáo của bà Ả, giữ nguyên bản án sơ thẩm. Bà Ả phải chịu chi phí tố tụng và được miễn toàn bộ án phí sơ thẩm, phúc thẩm.
[10] Các phần khác của bản án không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ Tố tụng dân sự; Các điều 170, 174, 175, 155, 457, 459, 584, 585, 609, Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 2 Luật Đất đai năm 1993; Các điều 5, 17, 100, 166, 170 Luật Đất đai năm 2013; Nghị định số 64/CP ngày 27/9/1993 của Chính phủ và Quyết định số 201/QĐ.ĐKTK ngày 14/7/1989 của T5; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
- Không chấp nhận kháng cáo của bà Lê Thị Ả.
- Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 70/2023/DS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An.
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Ả về việc:
- Yêu cầu hủy một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số L 530134 ngày 29/9/1997 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho ông Nguyễn Văn N1 đối với thửa đất số 689, tờ bản đồ số 3, toạ lạc tại ấp X, xã T, huyện C, tỉnh Long An.
- Yêu cầu hủy một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BN 875520 ngày 31/5/2013 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho ông Nguyễn Xuân V đối với thửa đất số 689, tờ bản đồ số 3, tọa lạc tại ấp X, xã T, huyện C, tỉnh Long An.
- Yêu cầu hủy một phần Văn bản thuận phân di sản thừa kế do Văn phòng C chứng nhận số 1580, quyền số 01 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 25/4/2013 đối với thửa đất 689, tờ bản đồ số 3, toạ lạc tại ấp X, xã T, huyện C, tỉnh Long An.
- Yêu cầu công nhận cho bà Lê Thị Ả được quyền đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 689, tờ bản đồ số 3, tọa lạc tại ấp X, xã T, huyện C, tỉnh Long An.
- Yêu cầu buộc ông Nguyễn Văn L bồi thường thiệt hại cho bà Lê Thị Ả số tiền 5.000.000 (năm triệu) đồng.
- Đình chỉ vụ án đối với yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Ả về việc:
- Yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho ông Nguyễn Văn H3 đối với thửa đất số 456, tờ bản đồ số 3, tọa lạc tại ấp X, xã T, huyện C, tỉnh Long An.
- Về việc tranh chấp đối với phần đất tại vị trí số 7, diện tích 42,9m² thửa 456 và vị trí số 11, diện tích 17,7m² theo Mảnh trích đo địa chính số 206-2021.
- Ông Nguyễn Xuân V có quyền sở hữu 07 (bảy) cây dừa, 04 (bốn) bụi chuối, 01 (một) cây xoài trên phần đất tranh chấp tại vị trí số 6, 8, 9, 10 Mảnh
trích đo địa chính số 206-2021 do Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện C phê duyệt ngày 01/3/2022.
- Buộc ông Nguyễn Xuân V có trách nhiệm hoàn trả lại cho bà Lê Thị Ả số tiền 1.960.000 (một triệu, chín trăm, sáu mươi nghìn) đồng giá trị cây trồng.
- Về chi phí tố tụng: Buộc bà Lê Thị Ả phải chịu số tiền 22.427.000 (hai mươi hai triệu, bốn trăm hai mươi bảy nghìn) đồng và đã nộp xong.
- Về án phí dân sự sơ thẩm và phúc thẩm: Bà Lê Thị Ả được miễn.
- Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
- Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Đức Phương |
Bản án số 213/2024/DS-PT ngày 19/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản
- Số bản án: 213/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 19/04/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: giữ nguyên bản án sơ thẩm
