|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 213/2024/DS-PT
Ngày: 15-5-2024
V/v: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Hà Chí Quốc.
Các Thẩm phán:
- Ông Phạm Văn Diệp;
- Ông Hồ Văn Cường.
Thư ký phiên tòa: ông Đặng Minh Huy – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên toà: bà Đoàn Thị Thủy Tiên - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 04 tháng 4 và ngày 15 tháng 5 năm 2024 tại Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh mở phiên tòa xét xử công khai phúc thẩm vụ án dân sự thụ lý số 352/2023/TLPT-DS ngày 20 tháng 10 năm 2023, về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số 96/2023/DS-ST, ngày 18 tháng 8 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 408/2023/QĐ-PT, ngày 03 tháng 11 năm 2023, giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Mỹ H, sinh năm 1966; địa chỉ: Số G, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt tại phiên tòa ngày 04-4-2024 và vắng mặt tại phiên tòa ngày 15-5-2024)
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn H1, sinh năm 1958; địa chỉ: Số C C, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh là người đại diện theo uỷ quyền (văn bản uỷ quyền ngày 01-12-2022) có mặt.
-
Bị đơn: Ông Bùi Văn L, sinh năm 1976; địa chỉ: Số A, đường T, ấp T, xã S, Huyện D, tỉnh Tây Ninh (vắng mặt).
Người đại diện theo ủy quyền của ông L: anh Nguyễn Phước Đ, sinh năm: 1992; địa chỉ: số A, đường C, Phường B, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt)
2
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông L: bà Trần Thị 1 – là Luật sư Văn phòng luật sư Nguyễn Văn H2 thuộc Đoàn luật sư Thành phố H.
-
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Thị C; sinh năm 1977; địa chỉ: Ấp K, xã C, Huyện D, tỉnh Tây Ninh, có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị Trúc S, sinh năm 1989; nơi cư trú: Ấp K, xã C, Huyện D, tỉnh Tây Ninh, có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.
- Nguyễn Minh T; sinh năm 1992; hộ khẩu thường trú: 2 B, P, thành phố T, tỉnh Bình Dương; tạm trú: Tổ A, ấp K, xã C, Huyện D, tỉnh Tây Ninh, có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.
-
Người kháng cáo:
- Ông Nguyễn Văn H1 – là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn;
- Ông Bùi Văn L – là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 28 tháng 10 năm 2023 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Mỹ H và người đại diện theo uỷ quyền của bà H là ông Nguyễn Văn H1 trình bày:
Bà Nguyễn Thị Mỹ H là phật tử và có buôn bán hoa lan tại chợ H3, bà H thường đi chùa L3 tại xã suối đá Huyện D, tỉnh Tây Ninh. Ông Bùi Văn L là Trụ trì chùa và có trồng hoa lan để bán nên quen biết nhau. Qua một thời gian quen biết, bà H có cho ông Bùi Văn L vay số tiền: 2.050.000.000 đồng, giao tiền bằng bằng hình thức chuyển khoản vào tài khoản số [...] cho ông Bùi Văn L, cụ thể:
- Ngày 11-3-2020 chuyển số tiền 200.000.000 đồng.
- Ngày 31-3-2020 chuyển số tiền 20.000.000 đồng.
- Ngày 11-5-2020 chuyển số tiền 800.000.000 đồng.
- Ngày 20-5-2020 chuyển số tiền 50.000.000 đồng.
- Ngày 15-7-2020 chuyển số tiền 150.000.000 đồng.
- Ngày 04-8-2020 chuyển số tiền 830.000.000 đồng.
Lãi suất thoả thuận là 1%/tháng, thời hạn 6 tháng. Từ khi vay ông L không trả gốc hay tiền lãi cho bà H. Nay bà Nguyễn Thị Mỹ H yêu cầu ông Bùi Văn L trả cho bà H số tiền là 2.050.000.000 đồng. Tại toà, đại diện nguyên đơn không yêu cầu tính lãi, nếu ông L chứng minh được số tiền đã trả cho bà H thì bà H đồng ý khấu trừ vào số tiền 2.050.000.000 đồng.
Đối với yêu cầu khấu trừ tiền nhà ông L chuyển cho bà C: Bà H không đồng ý, vì bà H đã trả tiền nhà cho bà C là 600.000.000 đồng, còn 500.000.000 đồng bà H nhờ ông L chuyển dùm cho bà C để thanh toán tiền mua nhà.
3
* Bị đơn ông Bùi Văn L trình bày:
Ông có vay 1.850.000.000 đồng của bà H, cụ thể:
- Ngày 11-3-2020 số tiền 200.000.000 đồng.
- Ngày 31-3-2020 số tiền 20.000.000 đồng.
- Ngày 11-5-2020 số tiền 800.000.000 đồng.
- Ngày 04-8-2020 số tiền 830.000.000 đồng.
Lãi suất tính theo ngân hàng nhưng ông không nhớ là bao nhiêu, không phải lãi suất 1%/tháng như bà H trình bày, thời hạn bà H cho vay là 10 năm nhưng ông không có chứng cứ chứng minh, bà H chỉ nói miệng với ông. Riêng số tiền 50.000.000 đồng chuyển khoản ngày 20-5-2020 và số tiền 150.000.000 đồng chuyển khoản ngày 15-7-2020 là tiền bà H chuyển khoản để mua lưới và sắt để trồng lan. Ông xác nhận chỉ vay của bà H 1.850.000.000 đồng. Quá trình vay, ông có trả lãi và gốc chung cho bà H từ tháng 12/2020 đến tháng 04/2022 là 430.700.000 đồng, trong đó chuyển khoản vào tài khoản của bà H là 282.700.000 đồng, số tiền còn lại nhắn tin trên điện thoại. Ông đồng ý trả cho bà H số tiền 1.850.000.000 đồng và khấu trừ số tiền ông đã trả cho bà H 430.700.000 đồng.
Ngoài ra, bà H có nhận chuyển nhượng nhà đất của bà Nguyễn Thị C, bà H có nhờ ông chuyển cho bà C số tiền 1.100.000.000 đồng nên ông yêu cầu bà H trả lại cho ông 1.100.000.000 đồng khấu trừ tiền mà ông nợ bà H. Số tiền ông giao cho bà C, cụ thể: Ông đưa tiền mặt 300.000.000 đồng, chuyển khoản 400.000.000 đồng cho bà C, ông nhờ bà Trúc S đưa cho bà C hai lần 300.000.000 đồng và nhờ Nguyễn Minh T đưa cho bà C 100.000.000 đồng. Trước đây ông có yêu cầu tranh chấp tiền đầu tư trồng L1 với bà H, nay ông rút yêu cầu phản tố đối với số tiền đầu tư trồng lan chỉ yêu cầu bà H khấu trừ tiền 1.100.000.000 đồng mà ông đã chuyển cho bà C dùm cho bà H.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị C trình bày:
Bà có chuyển nhượng nhà đất cho bà H số tiền 1.100.000.000 đồng. Bà H nói với bà cứ đến chùa gặp ông L nhận tiền. Bà nhận tiền cụ thể như sau: Bà không nhớ ngày tháng nhận tiền, chỉ nhớ lần đầu bà lên chùa L3 để nhận tiền cọc 100.000.000 đồng từ ông T (tự thầy T1). Khoảng 3, 4 ngày sau bà lên chùa nhận tiếp 300.000.000 đồng từ cô S (tự H1). Khoảng vài ngày sau bà có nhận thêm 300.000.000 đồng tiền mặt từ ông L, còn 400.000.000 đồng đến ngày ra công chứng thì ông L chuyển khoản cho bà. Bà đã nhận đủ số tiền 1.100.000.000 đồng từ bà S, ông L, ông T, còn việc bà H với ông L có hùn hạp mua nhà đất hay có nhờ trả tiền như thế nào thì bà không biết, bà không có ý kiến hay yêu cầu gì trong vụ kiện này.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Minh T và bà Nguyễn Thị Trúc S trình bày:
Ông T, bà S là đệ tử của ông L. Bà C là phật tử có đến chùa H4 nên ông T, bà S có biết bà C. Khoảng cuối năm 2019, đầu năm 2020, ông L có nhờ ông T,
4
giao dùm cho bà C 100.000.000 đồng và có nhờ bà S giao tiền cho bà C hai lần, lần thứ nhất giao 100.000.000 đồng, lần thứ hai giao 200.000.000 đồng. Ông T, bà S có nghe ông L nói trả tiền nhà cho bà C, còn ai là người mua nhà thì ông T, bà S không biết.
Bản án sơ thẩm số 96/2023/DS-ST ngày 18 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh, quyết định:
Căn cứ vào các Điều 463, 466 và Điều 468 của Bộ luật dân sự; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
-
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” của bà Nguyễn Thị Mỹ H đối với ông Bùi Văn L
Buộc ông Bùi Văn L trả cho bà Nguyễn Thị Mỹ H số tiền 1.795.800.000 (một tỷ bảy trăm chín mươi lăm triệu tám trăm nghìn) đồng. Ghi nhận bà H không yêu cầu tính lãi.
-
Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố khấu trừ trả tiền nhà đất của ông Bùi Văn L đối với bà Nguyễn Thị Mỹ H. Buộc bà Nguyễn Thị Mỹ H trả cho ông Bùi Văn L số tiền 500.000.000 (năm trăm triệu) đồng.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về nghĩa vụ thi hành án, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
+ Theo đơn kháng cáo ngày 12 tháng 9 năm 2023 của ông Nguyễn Văn H1 là người đại diện hợp pháp của nguyên đơn, kháng cáo đối với bản án số 96/2023/DS-ST ngày 18/8/2023 của Toà án nhân dân huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh. Yêu cầu Toà án cấp phúc thẩm buộc ông Bùi Văn L phải trả đủ số tiền gốc đã vay của bà Nguyễn Thị Mỹ H là 2.050.000.000 đồng, bà H không chấp nhận cấn trừ số tiền 500.000.000 đồng cho anh Bùi Văn L. Buộc ông L phải trả số tiền lãi của khoản tiền vay theo quy định của pháp luật từ khi vay đến khi xét xử.
+ Theo đơn kháng cáo ngày 06 tháng 9 năm 2023 của ông Bùi Văn L, kháng cáo đối với bản án số 96/2023/DS-ST ngày 18/8/2023 của Toà án nhân dân huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh. Yêu cầu Toà án cấp phúc thẩm xem xét lại bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Mỹ H là ông Nguyễn Văn H1 tranh luận: giữ nguyên yêu cầu kháng cáo đề nghị sửa bản án sơ thẩm theo hướng buộc ông Bùi Văn L phải trả cho bà Nguyễn Thị Mỹ H số tiền 2.050.673.200 đồng tiền gốc và 881.500.000 đồng tiền lãi (tiền lãi tính từ tháng 8 năm 2020 đến tháng 3 năm 2024, với lãi suất 1%/tháng), tổng cộng là 2.931.500.000 đồng và không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn.
- Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Bùi Văn L là anh Nguyễn Phước Đ và luật sư Trần Thị L2 tranh luận: yêu cầu cấn trừ các khoản tiền 1,1 tỷ
5
tiền trả cho bà C, tiền bán lan giữa ông L2 và bà H số tiền: 144.120.000 đồng, số tiền hùn vốn trồng lan tại Đ, Lâm Đồng: 200.000.000 đồng, số tiền ông L2 chuyển khoản trả cho bà H: 380.700.000 đồng. Tổng cộng sau khi cấn trừ thì ông L2 chỉ đồng ý trả cho bà H số tiền: 325.180.000 đồng. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của ông L2, không chấp nhận kháng cáo của bà H, sửa bản án sơ thẩm.
Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa:
- Về tố tụng: việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung: đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn. Căn cứ khoản 2 Điều 308 BLTTDS, sửa bản án sơ thẩm theo hướng:
+ Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” của bà H đối với ông L2.
+ Buộc ông L2 trả số tiền vay 1.850.000.00 đồng; khấu trừ số tiền vay ông L2 đã trả là 254.200.000 đồng. Ghi nhận bà H không yêu cầu tính lãi.
+ Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” của bà H đối với ông L2, về số tiền 200.000.000 đồng.
+ Chấp nhận yêu cầu phản tố của ông L2; khấu trừ số tiền 1.100.000.000 đồng, ông L2 đã đưa cho bà C theo yêu cầu của bà H, để bà H nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ bà C.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa; kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử xét thấy:
[1] Về tố tụng: đơn kháng cáo của ông Bùi Văn L và ông Nguyễn Văn H1 là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn làm trong thời hạn luật định, nội dung kháng cáo thuộc phạm vi xét xử phúc thẩm phù hợp với quy định tại Điều 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Xét kháng cáo của nguyên đơn về việc không đồng ý cấn trừ số tiền 500.000.000 đồng, thấy rằng:
Theo Biên bản lấy lời khai của bà Nguyễn Thị C là người mua đất thể hiện: Bà có chuyển nhượng nhà đất cho bà H số tiền 1.100.000.000 đồng, bà H nói với bà cứ đến chùa gặp ông L nhận tiền. Bà nhận đủ số tiền 1.100.000.000 đồng tiền bà chuyển nhượng nhà đất cho bà H từ bà S, ông L, ông T, còn việc bà H với ông L có hùn hạp mua nhà đất hay bà H có nhờ ai trả tiền thì bà không biết.
6
Ông L có cung cấp tin nhắn trên điện thoại thể hiện từ tin nhắn của bà H vào ngày 05/8/2020 có ghi: “SP ghi giấy tờ tay có nhận tiền là 2 tỷ 150 triệu đi” “Vì 2 tỷ 700 trừ tiền mua nhà thì còn lại 2 tỷ 150 triệu để cho dễ nhớ và coi tiền lời chia ra với SP” (BL209). Tin nhắn từ bà H có ghi “Trừ tiền căn nhà đó ra không tính tiền với SP đâu nhe. Nếu tính tiền nhà là của SP 2 tỷ 150 triệu. nhưng trừ 550 triệu nhà ra cho nên SP có 1 tỷ 600” (BL 208). Tin nhắn từ bà H “Còn phần tiền căn nhà ở Cầu K 1 tỷ 100. Thầy trò phải chia đều tiền lời nửa như vậy SP gánh hơi mệt. .” BL 205). Tin nhắn từ ông L “Nhưng mình đổ vô cái nhà hết 1 tỷ 1 rồi” (BL 206).
Như đoạn tin nhắn bên trên thể hiện, do ông L và bà H có quan hệ qua lại tiền bạc với nhau nhiều lần, liên quan nhiều vấn đề khác nhau nhưng không làm hợp đồng, nội dung tin nhắn cũng không rõ ràng, khi thì trừ tiền mua nhà đất 550.000.000 đồng (BL209) khi thì không trừ tiền mua nhà đất (BL208), khi thì thể hiện có hùn mua nhà đất với nhau (BL 205, 206). Nội dung tin nhắn không thể hiện rõ tiền ông L trả cho bà C là tiền của bà H nhưng chỉ nhờ ông L trả giúp hay tiền của ông L trả giúp cho bà H. Thời điểm bà H và bà C ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì ông L vẫn còn nợ bà H, ông L cho rằng ông trả hết tiền mua nhà 1.100.000.000 đồng cho bà H là tiền của ông nhưng ông không có bất kỳ văn bản, chứng cứ nào chứng minh bà H và ông L thỏa thuận ông L trả tiền thay cho bà H.
Tại bản tự khai (BL 169-170) ông L thừa nhận trả tiền giúp cho bà H 500.000.000 đồng, sau đó ông L thay đổi lời khai và trình bày trả giúp cho bà H 1.100.000.000 đồng. Tại biên bản hòa giải ngày 27/6/2023, đại diện của bà H và bà H có trình bày bà H nhờ ông L chuyển dùm cho bà C 500.000.000 đồng để thanh toán tiền mua nhà nhưng bà H không chứng minh được số tiền 500.000.000 đồng này bà H có đưa cho ông L nhưng ông L có trả cho bà C nên có cơ sở xác định ông L có trả tiền mua nhà dùm bà H là 500.000.000 đồng. Vì vậy có căn cứ chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của ông L khấu trừ số tiền 500.000.000 đồng ông L trả cho bà C dùm cho bà H vào số tiền vay.
[3] Xét kháng cáo của ông L thấy rằng:
Đối với yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Mỹ H yêu cầu ông Bùi Văn L trả số tiền 2.050.000.000 đồng.
Bà Nguyễn Thị Mỹ H có cho ông Bùi Văn L vay tiền bằng hình thức chuyển khoản vào số tài khoản của ông L số tiền 2.050.000.000 đồng. Ông L xác nhận có nhận số tiền 2.050.000.000 đồng do bà H chuyển khoản cho ông, cụ thể như sau: Ngày 11-3-2020 chuyển số tiền 200.000.000 đồng; ngày 31-3-2020 chuyển số tiền 20.000.000 đồng; ngày 11-5-2020 chuyển số tiền 800.000.000 đồng; ngày 20-5-2020 chuyển số tiền 50.000.000 đồng; ngày 15-7-2020 chuyển số tiền 150.000.000 đồng; ngày 04-8-2020 chuyển số tiền 830.000.000 đồng nhưng ông L chỉ thừa nhận có vay của bà H số tiền 1.850.000.000 đồng, còn số tiền 200.000.000 đồng bà H chuyển khoản vào ngày 20-5-2020 và ngày 15-7-2020 ông L có nhận nhưng không phải là tiền vay. Vì vậy, số tiền 1.850.000.000
7
đồng ông L thừa nhận có nhận và vay của bà H nên không cần phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Đối với số tiền 200.000.000 đồng, ông L cho rằng số tiền này bà H chuyển khoản cho ông L để mua sắt và lưới trồng lan, không phải tiền ông L vay. Khi phát sinh tranh chấp các bên chỉ cung cấp chứng cứ là bản sao kê của ngân hàng và tin nhắn trên điện thoại. Nội dung tin nhắn từ máy bà H thể hiện: “Chiều khoảng 3 giờ chuyển khoảng 150 triệu để SP mua sắt và lưới”(BL 291) và “có được 50 triệu SP lên Lâm Đồng xoay sở được không”(B1 294) tin nhắn từ máy ông Lâm nhắn lại “Vậy chuyển qua cho SP đi” (BL 294) theo nội dung trên thể hiện bà H có chuyển khoản cho ông L số tiền 200.000.000 đồng vào 20-5-2020 và ngày 15-7-2020 như bà H trình bày, cũng như lời xác nhận của ông L, nhưng nội dung tin nhắn các bên cung cấp không rõ ràng, nhưng ông L xác nhận bà H có chuyển khoản cho ông L số tiền 200.000.000 đồng vào ngày 20-5-2020 và ngày 15-7-2020 nên ông L có trách nhiệm trả cho bà H là có căn cứ. Ông L có trách nhiệm trả cho bà H tổng số tiền 2.050.000.000 đồng. Tại phiên toà sơ thẩm, ông H1 là đại diện theo uỷ quyền của bà H không yêu cầu tính lãi nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
- Đối với yêu cầu khấu số tiền 430.700.000 đồng của ông Bùi Văn L, thấy rằng:
Ông L trình bày từ tháng 12/2020 đến tháng 04/2022 ông L có trả cho bà H số tiền 430.700.000 đồng, trong đó chuyển khoản vào tài khoản của bà H là 282.700.000 đồng, số tiền còn lại được thể hiện trên tin nhắn điện thoại: Ông L có cung cấp uỷ nhiệm chi nguồn cung cấp từ Ngân hàng TMCP S1 - Chi nhánh T2 thể hiện từ số tài khoản số [...] của ông Bùi Văn L chuyển cho người thụ hưởng là bà Nguyễn Thị Mỹ H, số tài khoản 22222738 và số tài khoản 0071003265606 tổng số tiền 254.200.000 đồng nên có căn cứ ông L có trả cho bà H số tiền 254.200.000 đồng.
Tại phiên tòa sơ thẩm, ông H1 là đại diện cho bà H cũng thống nhất nếu tên người thụ hưởng là bà Nguyễn Thị Mỹ H thì ông cũng đồng ý khấu trừ vào số tiền 2.050.000.000 đồng cho ông L nên ghi nhận. Đối với số tiền còn lại là 176.500.000 đồng, ông L trình bày nhờ người khác chuyển và trừ vào tiền bán hoa lan nhưng ông không cung cấp được chứng cứ chứng minh cho lời trình bày là có căn cứ, các tin nhắn trên điện thoại cung không thể hiện rõ nội dung có trả số tiền còn lại nên không có căn cứ chấp nhận khấu trừ số tiền còn lại là 176.500.000 đồng.
Từ nhưng phân tích trên cho thấy: có căn cứ buộc ông Bùi Văn L trả cho bà Nguyễn Thị Mỹ H số tiền 1.795.800.000 (một tỷ bảy trăm chín mươi lăm triệu tám trăm nghìn) đồng. Ghi nhận bà H không yêu cầu tính lãi và bà H có nghĩa vụ trả cho ông L số tiền 500.000.000 đồng. Sau khi cấn trừ hai khoản tiền trên thì ông Bùi Văn L còn phải trả cho bà Nguyễn Thị Mỹ H số tiền 1.295.800.000 đồng.
8
Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn yêu cầu tính lãi đối với số tiền vay là không có căn cứ vì cấp sơ thẩm bà H không yêu cầu tính lãi và đã được cấp sơ thẩm ghi nhận. Việc yêu cầu tính lãi tại giai đoạn phúc thẩm là vượt quá yêu cầu khởi kiện ban đầu nên tòa án cấp phúc thẩm không xem xét đối với yêu cầu trên.
Tại cấp sơ thẩm, ông Bùi Văn L đã rút yêu cầu khởi kiện đối với bà Nguyễn Thị Mỹ H đối với tranh chấp hợp đồng đầu tư trồng lan, phần nhận định của cấp sơ thẩm có xem xét và đình chỉ yêu cầu của ông L nhưng phần quyết định của bản án sơ thẩm không thể hiện là thiếu sót, cấp phúc thẩm bổ sung cho đầy đủ là phù hợp với quy định của pháp luật, cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm.
[4] Từ đó cho thấy, Toà án cấp sơ thẩm đã đánh giá chứng cứ khách quan và toàn diện nên kháng cáo của bà H và ông L là không có căn cứ nên không chấp nhận.
[5] Về án phí phúc thẩm: Ông Bùi Văn L và người đại diện theo ủy quyền của bà H kháng cáo nhưng không được chấp nhận nên phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị Mỹ H và ông Bùi Văn L.
- - Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 96/2023/DS-ST ngày 18 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh;
- - Căn cứ vào các Điều 357, 463, 466 và 468 Bộ luật Dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự. Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
- Căn cứ vào các Điều 463, 466 và Điều 468 của Bộ luật dân sự; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
-
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” của bà Nguyễn Thị Mỹ H đối với ông Bùi Văn L.
Buộc ông Bùi Văn L trả cho bà Nguyễn Thị Mỹ H số tiền 1.795.800.000 (một tỷ bảy trăm chín mươi lăm triệu tám trăm nghìn) đồng. Ghi nhận bà H không yêu cầu tính lãi.
-
Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố khấu trừ trả tiền nhà đất của ông Bùi Văn L đối với bà Nguyễn Thị Mỹ H. Buộc bà Nguyễn Thị Mỹ H trả cho ông Bùi Văn L số tiền 500.000.000 (năm trăm triệu) đồng.
9
-
Kể từ khi bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên phải thi hành án chưa trả số tiền nêu trên thì hàng tháng bên phải thi hành án còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
-
Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của ông Bùi Văn L về việc tranh chấp hợp đồng đầu tư trồng lan đối với bà Nguyễn Thị Mỹ H.
-
Về án phí:
-
Án phí sơ thẩm:
Ông Bùi Văn L chịu án phí 93.874.000 (chín mươi ba triệu tám trăm bảy mươi bốn nghìn) đồng án phí. Ông L đã nộp tạm ứng án phí số tiền 36.741.000 đồng theo Biên lai thu số 0013195 ngày 17-3-2023 của Chi cục thi hành án dân sự Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh. Ông L còn phải nộp thêm số tiền 57.133.000 (năm mươi bảy triệu một trăm ba mươi ba nghìn) đồng.
Bà Nguyễn Thị Mỹ H phải chịu 24.000.000 (hai mươi bốn triệu) đồng. Bà H đã nộp tạm ứng án phí số tiền 36.506.732 đồng theo Biên lai thu số 0012710 ngày 28-10-2022 của Chi cục thi hành án dân sự Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh. Hoàn trả cho bà H tiền tạm ứng án phí còn thừa là 12.506.732 (mười hai triệu năm trăm lẻ sáu nghìn bảy trăm ba mươi hai) đồng.
-
Án phí phúc thẩm:
+ Ông Bùi Văn L phải chịu 300.000 nghìn đồng án phí dân sự phúc thẩm. Khấu trừ số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí ông L đã nộp theo Biên lai thu số 0013811 ngày 06 tháng 9 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh.
+ Bà Nguyễn Thị Mỹ H phải chịu 300.000 nghìn đồng án phí dân sự phúc thẩm. Khấu trừ số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí bà H đã nộp theo Biên lai thu số 0013814 ngày 07 tháng 9 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh.
-
-
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
10
|
Hà Chí Quốc |
Bản án số 213/2024/DS-PT ngày 15/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 213/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 15/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chấp hợp đồng vay
