|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
|
Bản án số: 213/2024/DS-PT
Ngày: 05/8/2024
V/v: “Tranh chấp kiện đòi tài sản là
quyền sử dụng đất và yêu cầu trả lại
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quyên
Các Thẩm phán: Ông Trần Nam Phương
Bà Lê Thị Ký
- Thư ký phiên tòa: Ông Thái Văn Nhật – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Phùng Đức Nam – Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 136/2024/TLPT-DS ngày 03 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp kiện đòi tài sản là quyền sử dụng đất và yêu cầu trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”. Do bản án sơ thẩm số 01/2024/DS-ST ngày 18/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện C bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 174/2024/QĐXX-PT ngày 24/6/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 452/2024/QĐ-HPT ngày 16/7/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lý Xương C, sinh năm 1965.
Địa chỉ: số B, đường L, phường A, quận A, Tp
Đại diện theo ủy quyền của bà C: Ông Nguyễn Quang T, sinh năm 1976.
Địa chỉ: số 97a, N, phường X, Tp.L, tỉnh Đồng Nai.
- Bị đơn: Ông Lý Xương P, sinh năm 1978.
Địa chỉ: tổ H, ấp T, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Nai.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Sỳ Quốc H, sinh năm 1963.
Đại diện theo ủy quyền của ông H là bà Lý Xương C.
Địa chỉ: số B, đường L, Phường A, Quận A, Tp .Hồ Chí Minh.
- Bà Trương Thị T1, sinh năm 1933.
Địa chỉ: tổ H, ấp T, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Nai.
- Bà Nhỉn Nhì M, sinh năm 1980.
Địa chỉ: tổ H, ấp T, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Nai.
- Ông Lý Xương M1, sinh năm 1971.
Địa chỉ: tổ H, ấp T, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Nai.
- Ông Lý Xương H1, sinh năm 1972.
Địa chỉ: tổ H, ấp T, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Nai.
- Bà Trần Thị Thu H2, năm sinh 1967.
- Chị Lý Thế D, sinh năm 1989.
- Chị Lý Thế D1, sinh năm 1991.
Cùng địa chỉ: ấp C, xã T, huyện B, tỉnh Long An
(Tất cả các đương sự vắng mặt, ông T có đơn xin vắng mặt, ông P có đơn xin hoãn phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo hồ sơ thể hiện nguyên đơn bà Lý Xương C và đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn do ông Nguyễn Quang T trình bày:
Nguồn gốc của quyền sử dụng đất có diện tích 3.493,8m² thuộc thửa đất số 04, tờ bản đồ số 29 xã B, huyện C, tỉnh Đồng Nai là do ông Lý Vĩnh T2, sinh năm 1915 và bà Trương Thị T1, sinh năm 1933 là cha, mẹ ruột của bà Lý Xương C và ông Lý Xương P tự khai phá vào năm 1973, tổng diện tích đất ông T2, bà T1 khai phá được khoảng 25.600m². Năm 1986 ông T2 chết không để lại di chúc, toàn bộ diện tích đất khai phá do bà T1 canh tác, sau đó bà T1 chia đất cho các con như sau: năm 1988 chia ông M1 diện tích đất 6.100m², năm 1994 chia cho ông H1 diện tích đất 5.800m², ông P đang ở chung với bà T1 nên sử dụng diện tích đất 10.200m², năm 1988 bà C được bà T1 và các em chia cho diện tích đất 3.493,8m² thuộc thửa đất số 04, tờ bản đồ số 29, tọa lạc tại ấp T, xã B. Từ năm 1988 đến năm 1999 vợ chồng bà C cùng sinh sống, canh tác trên thửa đất này. Khi Nhà nước có chính sách cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đồng loạt, bà C đã tiến hành kê khai và ngày 22/5/1997 được UBND huyện X cũ (nay là huyện C) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên bà Lý Xương C.
Năm 2001 do cha chồng của bà C bị bệnh nên bà phải cắt hộ khẩu tại B và chuyển lên Thành phố Hồ Chí Minh sinh sống để tiện chăm sóc. Khi chuyển lên thành phố sinh sống thì bà C đã giao lại toàn bộ thửa đất và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bản chính của thửa đất số 04, tờ bản đồ số 29 cho bà T1 canh tác và thu hoa lợi trên thửa đất này. Năm 2012 khi Nhà nước có chủ trương cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bà C là người đi làm thủ tục cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Khi có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp đổi bà C lấy về và đưa cho ông P cất giữ dùm.
Năm 2018 bà T1 vì tuổi đã cao, sức yếu nên giao thửa đất số 04, tờ bản đồ số 29 cho ông P canh tác. Do hoàn cảnh gia đình đang khó khăn nên bà C yêu cầu ông P trả lại đất và bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để bà C canh tác, sử dụng làm ăn khi tuổi về già nhưng ông P không trả nên bà C đã làm đơn gửi Ban ấp và UBND xã B hòa giải nhưng không thành, ông P vẫn không đồng ý trả đất và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vì ông cho rằng bà C đã giao đất và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông thì quyền sử dụng đất là của ông, nếu bà C muốn lấy lại thì phải trả tiền đầu tư cây trồng, chăm sóc, trông coi rẫy, tiền công nuôi con bà C 04 năm ăn học. Tuy nhiên bà C không chấp nhận trả số tiền này, bởi vì trước khi chuyển lên thành phố Hồ Chí Minh sinh sống thì bà giao quyền sử dụng đất này cho bà T1 là người canh tác chứ không hề giao đất cho ông P và tại thời điểm giao đất cho bà T1 thì trên đất đã có sẵn các loại cây trồng như cà phê, cây tiêu, cây điều để bà T1 canh tác và thu hoa lợi, lợi tức.
Trong quá trình giải quyết vụ án bà C yêu cầu đo đạc và Thẩm định giá tài sản đối với diện tích đất 3493,8m² thuộc thửa đất số 04, tờ bản đồ số 29 xã B. Bà đồng ý với kết quả đo vẽ và Chứng thư thẩm định giá. Theo biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ thì trên phần diện tích đất các bên đang tranh chấp ông P và bà M đã trồng các loại cây trồng sau: 60 cây mít thái; 120 cây nọc tiêu gòng; 01 cây sầu riêng 1; 01 cây sầu riêng 2. Trong quá trình giải quyết vụ án bà C có đơn yêu cầu xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá lại đối với các cây trồng trên đất vì bà cho rằng một số cây trồng trên thửa đất đã xem xét, thẩm định giá lần trước không còn và yêu cầu đo đạc lại thửa đất tranh chấp vì bị đơn ông P có ý kiến không đồng ý với kết quả đo vẽ. Tuy nhiên ngày 31/3/2022 bà C có đơn đề nghị Tòa án không tiến hành thủ tục đo đạc và xem xét, thẩm định lại quyền sử dụng đất đang tranh chấp mà đề nghị Tòa án căn cứ vào trích lục và đo hiện trạng khu đất bản đồ địa chính số 696/2020 ngày 09/3/2020 do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ – chi nhánh C2 thực hiện và Chứng thư thẩm định giá số 618/TĐG – CT ngày 17/3/2020 do Công ty cổ phần T3 thực hiện để làm cơ sở giải quyết.
Nay bà C khởi kiện yêu cầu ông Lý Xương P và bà Nhỉn N Múi trả lại cho bà diện tích đất 3.493,8m² thuộc thửa đất số 04, tờ bản đồ số 29, tọa lạc tại ấp T, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Nai theo trích lục và đo vẽ hiện trạng khu đất bản đồ địa chính số 696/2020 ngày 09/3/2020 do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ – chi nhánh C2 thực hiện và yêu cầu ông P trả bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với thửa đất số 04, tờ bản đồ số 29 xã B, số BK 588962 do UBND huyện C cấp cho bà Lý Xương C ngày 15/3/2013. Bà C sẽ trả lại toàn bộ giá trị tài sản gắn liền trên thửa đất số 04, tờ bản đồ số 29 xã B cho vợ chồng ông P theo giá trị trong Chứng thư Thẩm định giá số 618/TĐG – CT ngày 17/3/2020 do Công ty cổ phần T3 thực hiện.
Về chi phí tố tụng: Đối với số tiền chi phí tố tụng 21.933.000 đồng (đạc đất; xem xét, thẩm định tại chỗ và Thẩm định giá tài sản bà C đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật. Riêng đối với số tiền 3.000.000 đồng chi phí tố tụng bà đã đóng để thực hiện việc đo đạc lại thửa đất tranh chấp, bà C tự nguyện chịu số tiền này không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Theo lời khai trong hồ sơ thể hiện bị đơn ông Lý Xương P trình bày:
Theo biên bản lấy lời khai tại nhà ông Lý Xương P ngày 19/11/2019 thể hiện: ông không đồng ý với tất cả các yêu cầu khởi kiện của bà Lý Xương C. Bởi vì, nguồn gốc diện tích đất 3.493,8m² thuộc thửa đất số 04, tờ bản đồ số 29 xã B là do cha mẹ ông là bà Trương Thị T1 và ông Lý Vĩnh T2 khai phá vào năm 1972 trong tổng diện tích đất khoảng gần 03 hecta và đã chia cho các con gồm: chia cho bà C khoảng 3.493,8m², chia cho ông M1, ông H1 mỗi người khoảng 6.000m², còn lại bao nhiêu đất là do ông và mẹ ông là bà T1 canh tác. Năm 1999 bà C làm ăn kinh tế thất bát, nợ nần nên giao lại cho bà T1 và ông quản lý, sử dụng và kèm theo là bà T1 phải trả một khoản nợ cho bà C gồm (nợ ngoài và nợ Ngân hàng) và bà C để lại một người con cho ông nuôi từ năm lớp 3 đến lớp 7. Quyền sử dụng đất trên bà C đã để lại cho ông quản lý, sử dụng từ năm 1999 cho đến nay. Năm 2012, sau khi cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bà C đã nhận và giao lại cho ông quản lý, sử dụng cho đến nay.
Tại bản tự khai ngày 07/10/2020 ông P trình bày: Năm 2012, sau khi hoàn tất thủ tục cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thì ông là người giữ bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Theo ông được biết thì bà T1 chỉ giao đất cho bà C chứ không ký giấy cho bà C thửa đất này. Vì vậy, sau khi bà C khởi kiện ông đã giao lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho bà Tư giữ.
Đối với Trích lục và đo vẽ hiện trạng thửa đất bản đồ địa chính số: 696/2020 ngày 09/3/2020 thì ông cho rằng bản vẽ này chưa chuẩn xác, ranh bản đồ địa chính chỉ có một đoạn ngắn, chưa có lý giải về những đoạn không được thể hiện trên bản vẽ, ranh đất bà C chỉ là không chính xác với ranh thực tế hơn nữa ông cũng là người có tranh chấp, là người trực tiếp quản lý, sử dụng đất nhưng Tòa án không để ông chỉ ranh đất, bản vẽ không thể hiện ranh đất theo sự chỉ dẫn của ông là không đầy đủ. Tòa án gửi chứng thư Thẩm định giá nhưng không có phụ lục kèm theo là không đầy đủ nên ông không cơ sở để ý kiến về kết quả Chứng thư Thẩm định giá.
* Theo hồ sơ thể hiện bà Trương Thị T1 trình bày:
Tại biên bản lấy lời khai tại nhà ông Lý Xương P ngày 19/11/2019, bà T1 trình bày: bà cho bà Lý Xương C đất là nói miệng, nay bà không cho nữa, bà lấy đất lại vì trước kia bà đã cho rồi. Đề nghị Tòa án bác bỏ toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà C. Nhưng bà không có yêu cầu khởi kiện độc lập trong vụ án này.
*Theo hồ sơ thể hiện ông Sỳ Quốc H trình bày:
Diện tích đất đang tranh chấp là tài riêng của bà C, nguồn gốc đất là do bà T1 cho riêng bà C không liên quan gì đến ông. Sau khi bà T1 cho diện tích đất đang tranh chấp thì vợ chồng ông canh tác trên thửa đất này đến năm 1997 thì được UBND huyện X cũ (nay là huyện C) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên bà Lý Xương C. Năm 2000 vợ chồng ông để lại diện tích đất này cho bà T1 canh tác, khi đó có cả ông P đang sinh sống cùng nhà với bà T1. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bà C cũng giao lại cho ông P giữ, nên giờ ông P phải trả lại đất và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà C là đúng. Trong vụ án này ông không tranh chấp gì.
* Bà Nhỉn Nhì M không có lời khai trong hồ sơ.
* Theo hồ sơ thể hiện ông Lý Xương H1 và ông Lý Xương M1 trình bày:
Các ông không có tranh chấp, khởi kiện độc lập trong vụ án này. Nguồn gốc thửa đất đang tranh chấp giữa bà Lý Xương C và ông Lý Xương P là do bà T1 và ông T2 (cha mẹ ông) tự khai phá vào năm 1973. Năm 1988 bà T1 chia đất cho bà C diện tích đất khoảng hơn 3 sào (hiện nay là thửa đất đang tranh chấp) và các ông cũng được chia mỗi người khoảng 6.000m² đất và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên riêng của từng người. Năm 1999 bà C chuyển về thành phố Hồ Chí Minh sinh sống thì giao lại toàn bộ thửa đất và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bản chính cho bà T1 canh tác. Lúc này, ông P sinh sống cùng với bà T1 nên canh tác trên phần đất đang tranh chấp của bà C. Năm 2012 khi bà C lấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp đổi về thì giao cho ông P cất giữ dùm. Ông M1, ông H1 cho rằng việc ông P không trả lại đất và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà C là không đúng. Bởi vì, bà T1 đã chia đất cho tất cả các con, ai cũng có phần riêng của mình.
* Theo hồ sơ thể hiện bà Trần Thị Thu H2 trình bày:
Bà và ông Lý Xương L (đã chết năm 1991) chung sống với nhau như vợ chồng và có 02 người con chung là Lý Thế D và Lý Thế D1. Ông L là con trai của ông Lý Vĩnh T2 và bà Trương Thị T1. Vào năm 1988 vợ chồng bà được bà T1 chia cho phần diện tích khoảng 4000m² để sinh sống, canh tác làm ăn. Năm 1991, ông L bị tai nạn chết không để lại di chúc, sau khi ông L chết thì cuộc sống của mẹ con bà gặp khó khăn. Năm 1995 bà và cháu D1 về quê tại Long An sinh sống đến nay và giao lại diện tích đất 4000m² đã được chia cho bà T1 tiếp tục canh tác và giao cháu D nhờ bà T1 nuôi dưỡng đến khi trưởng thành học xong cấp 3 thì cháu D lên thành phố Hồ Chí Minh tiếp tục đi học. Xét thấy bà không có quyền lợi và nghĩa vụ gì liên quan đến thửa đất đang tranh chấp giữa bà C và ông P nên đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
* Theo hồ sơ thể hiện, chị Lý Thế D1, Lý Thế D trình bày:
Các chị là con ruột của ông Lý Xương L (đã chết năm 1991) và bà Trần Thị Thu H2, lúc còn nhỏ các chị hoàn toàn không biết, không chứng kiến sự việc và không có quyền lợi, nghĩa vụ gì liên quan đến thửa đất đang tranh chấp giữa bà C và ông P nên đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 01/2024/DSST ngày 18/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện C đã xét xử:
Tuyên xử:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lý Xương C.
- Buộc ông Lý Xương P và bà Nhỉn Nhì M phải giao trả cho bà Lý Xương C diện tích đất 3.493,8m² thuộc thửa đất số 04, tờ bản đồ số 29 xã B, huyện C, tỉnh Đồng Nai được giới hạn bởi các mốc (A, 1, 2, 3, 4, 5, 6, A) theo trích lục và trích đo khu đất bản đồ địa chính số 696/2020 ngày 09/3/2020 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ – chi nhánh C2.
Bà Lý Xương C được toàn quyền quản lý, sở hữu toàn bộ tài sản do ông P, bà M tạo lập được trên phần đất này, bao gồm: 60 cây mít thái; 120 cây nọc tiêu gòng; 01 cây sầu riêng 1; 01 cây sầu riêng 2.
Bà C có trách nhiệm thanh toán cho ông Lý Xương P, bà Nhỉn Nhì M giá trị các tài sản mà ông P, bà M tạo lập được trên đất là 103.400.000đ (một trăm lẻ ba triệu bốn trăm ngàn) đồng.
- Buộc ông Lý Xương P giao trả cho bà Lý Xương C bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với thửa đất số 04, tờ bản đồ số 29 xã B, huyện C, tỉnh Đồng Nai số BK 588962 do UBND huyện C cấp cho bà Lý Xương C ngày 15/3/2013.
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về phần chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 20/02/2024 ông Lý Xương P kháng cáo toàn bộ bản án theo hướng hủy bản án sơ thẩm với các lý do:
- Việc thẩm định giá không chính xác, bỏ sót nhiều tài sản trên đất.
- Bà Trương Thị T1 bị lẫn, không giao tiếp được nhưng Tòa án không yêu cầu Nguyên đơn hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trưng cầu giám định năng lực hành vi dân sự.
- Trong thời gian bà T1 đang làm đơn khiếu nại quyết định giải quyết khiếu nại lên Tòa án tỉnh Đồng Nai thì Tòa án lại đưa vụ án ra xét xử làm mất quyền khởi kiện yêu cầu độc lập của bà T1.
- Tòa án mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải trong khi chưa giải quyết xong khiếu nại và chỉ công khai chứng cứ, hòa giải có 01 lần làm mất đi quyền phản tố của tôi. Bản thân tôi chưa được tiếp cận toàn bộ chứng cứ, đang có khiếu nại chưa được giải quyết nhưng Tòa án vẫn mở phiên tòa là không hợp lý
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa:
Về thủ tục tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử tại phiên tòa, Thẩm phán chủ tọa và Hội đồng xét xử thực hiện đúng quy định của pháp luật. Các đương sự tham gia phiên tòa đảm bảo đúng thủ tục, quyền, nghĩa vụ theo quy định.
Về nội dung kháng cáo: Xét đơn kháng cáo của ông Lý Xương P và các tài liệu chứng cứ đã thu thập được trong quá trình giải quyết vụ án. Nhận thấy:
Ông P cho rằng cấp sơ thẩm khi xem xét thẩm định tại chổ đã bỏ sót tài sản của ông, cụ thể là 15 cây bơ, 7 cây sầu riêng. Xét thấy, tòa án cấp sơ thẩm tiến hành xem xét thẩm định tại chổ, thành phần đầy đủ các thành viên ghi nhận hiện trạng tài sản đúng quy định. Khi có kết quả xem xét tài sản, ông P và vợ ông không ký biên bản. Tòa án sơ thẩm thấy việc đến thời điểm xét xử cần xem xét lại tài sản để có cở sở giải quyết phù hợp nên ngày 09/3/2022 đến nhà ông P để làm việc nhưng ông P không hợp tác. Do vậy, Tòa án dựa trên kết quả xem xét thẩm định tại chổ ngày 19/11/2019 để làm cơ sở giải quyết vụ án là phù hợp, có căn cứ.
Ông P còn cho rằng, khi giải quyết vụ án bà Trương Thị T1 có khiếu nại chưa được giải quyết và khi đưa ra xét xử thì bà T1 tuổi già, bị lẫn nhưng Tòa án không xem xét đến năng lực chịu trách nhiệm dân sự của bà T1 là không đảm bảo quy định pháp luật. Xét thấy ngày 16/5/2023 Chánh án TAND tỉnh Đồng Nai đã có quyết định giải quyết khiếu nại chấp nhận 01 phần đơn khiếu nại của bà Trương Thị T1, hủy một phần quyết định giải quyết khiếu nại của TAND huyện C do thông báo yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện không đầy đủ, không yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện cho bà T1. Tại biên bản lấy lời khai ngày 14/6/2023 Thẩm phán đã giải thích cho đương sự về việc bổ sung những vấn đề còn thiếu trong đơn khởi kiện hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và ông P (là người đại diện theo ủy quyền của bà T1) không đồng ý bổ sung do bà T1 chưa nhận được quyết định giải quyết khiếu nại do Chánh án TAND tỉnh Đồng Nai gửi.
Ông P kháng cáo cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm vi phạm việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải ngày 07/12/2023. Vì khi đó, ông vắng mặt nhưng Tòa án không hoãn để mở lại lần 2 là có vi phạm. Nhận thấy, Tòa án sơ thẩm vẫn tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vắng mặt ông P không ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ của ông P. Sau khi kết thúc phiên họp, Tòa án đã có thông báo kết quả phiên họp cho đương sự. Ngoài các nội dung trên, ông P không có kháng cáo về đường lối giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm nên không đặt ra xem xét ở cấp phúc thẩm.
Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật là "Tranh chấp kiện đòi tài sản là quyền sử dụng đất" là chưa đầy đủ với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Cần sửa lại quan hệ pháp luật là "Kiện đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất và yêu cầu trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng" đất mới phù hợp và đầy đủ.
Do đó, tôi đề nghị Tòa án bác đơn kháng cáo của ông P, sửa bản án sơ thẩm về quan hệ pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa.
[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của ông Lý Xương P làm trong hạn luật định, đóng tạm ứng án phí theo quy định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
Tòa án đã tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa cho các đương sự trong vụ án nhưng ông T có đơn xin vắng mặt; ông P có đơn xin hoãn phiên tòa với lý do hồ sơ có nhiều vi phạm tố tụng nhưng thời gian gấp rút nên ông chưa có điều kiện liệt kê, lý do xin hoãn của ông P là không có căn cứ; các đương sự còn lại vắng mặt không có lý do. Tòa án căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự đưa vụ án ra xét xử vắng mặt đối với các đương sự theo quy định pháp luật.
[2] Về quan hệ pháp luật: Nguyên đơn kiện đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất và đòi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật là "Tranh chấp kiện đòi tài sản là quyền sử dụng đất" là chưa đầy đủ với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Cần sửa lại quan hệ pháp luật là "Kiện đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất và yêu cầu trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng" đất mới phù hợp và đầy đủ.
[3]. Xét nội dung kháng cáo của ông Lý Xương P đề nghị hủy bản án sơ thẩm vì vi phạm thủ tục tố tụng như sau:
3.1. Đối với việc thẩm định giá đã bỏ sót tài sản gồm là 15 cây bơ, 7 cây sầu riêng. Xét thấy, quá trình giải quyết ở cấp sơ thẩm, Tòa án tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ ngày 19/11/2019, thành phần đầy đủ các thành viên ghi nhận hiện trạng tài sản đúng quy định, ông P không hợp tác, tìm cách ngăn cản để Tòa án không vào đất để xem xét tài sản được. Khi có kết quả xem xét tài sản, ông P ký vào biên bản không đồng ý nội dung biên bản nhưng không ghi rõ không đồng ý nội dung gì (bút lục 102). Bà C cho rằng một số cây trồng trên thửa đất đã xem xét, thẩm định giá lần trước không còn và yêu cầu đo đạc lại thửa đất tranh chấp vì bị đơn ông P có ý kiến không đồng ý với kết quả đo vẽ. Tòa án sơ thẩm thận thấy đến thời điểm xét xử cần đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ để xác định lại tài sản để có cở sở giải quyết phù hợp nên ngày 09/3/2022 đến nhà ông P để đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ nhưng ông P không hợp tác (bút lục 229). Do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm phải dựa trên kết quả xem xét thẩm định tại chổ ngày 19/11/2019 để làm cơ sở giải quyết vụ án là phù hợp, có căn cứ.
3.2. Đối với việc ông P cho rằng khi giải quyết vụ án bà Trương Thị T1 có khiếu nại chưa được giải quyết. Xét thấy, trước khi đưa vụ án ra xét xử, ngày 16/5/2023 Chánh án Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai đã có quyết định giải quyết khiếu nại số 18/2023/QĐ.GQKN, theo đó chấp nhận 01 phần đơn khiếu nại của bà Trương Thị T1, hủy một phần quyết định giải quyết khiếu nại của Tòa án nhân dân huyện C do thông báo yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện không đầy đủ, không yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện cho bà T1 (bút lục 321). Sau khi nhận lại đơn khởi kiện của bà T1, Tòa án nhân dân huyện C đã tiến hành làm việc với ông P - là người đại diện theo ủy quyền của bà T1. Tại biên bản lấy lời khai ngày 14/6/2023 thể hiện Tòa án đã giải thích cho ông P về việc bổ sung những vấn đề còn thiếu trong đơn khởi kiện hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và ông P không đồng ý bổ sung. Ông khẳng định chỉ bổ sung khi nào nhận được quyết định giải quyết khiếu nại do Chánh án TAND tỉnh Đồng Nai gửi (BL 330). Do ông P không sửa đổi bổ sung đơn khởi kiện nên Tòa án cấp sơ thẩm đưa ra xét xử vụ án là đúng quy định pháp luật.
3.3. Đối với nội dung ông P cho rằng khi đưa ra xét xử thì bà T1 tuổi già, bị lẫn nhưng Tòa án không xem xét đến năng lực chịu trách nhiệm dân sự của bà T1: Ông P là con của bà T1 và là người đại diện theo ủy quyền của bà T1. Qúa trình giải quyết vụ án nếu ông P cho rằng bà T1 là người mất năng lực hành vi dân sự thì ông phải có nghĩa vụ chứng minh. Mặt khác, trong vụ án này ông P và bà Nhỉn Nhì M (vợ ông P) là người đang quản lý đất và được xác định là bị đơn trong vụ án kiện đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất và đòi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Còn bà T1 được xác định là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. Theo đó, ông P chỉ có quyền kháng cáo về quyền lợi liên quan đến ông và vợ ông. Trong vụ án này, bà T1 không có kháng cáo và bản án của Tòa án sơ thẩm không buộc bà T1 có nghĩa vụ đối với nguyên đơn nên không đặt ra xem xét ở cấp phúc thẩm.
3.4. Đối với nội dung cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm vi phạm việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải ngày 07/12/2023 ông vắng mặt nhưng Tòa án không hoãn để mở lại lần 2 là có vi phạm. Xét thấy, Tòa án sơ thẩm đã tống đạt hợp lệ Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho ông P nhưng ông vắng mặt, tại phiên họp các đương sự có mặt không yêu cầu hoãn phiên họp nên Tòa án vẫn tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Sau khi kết thúc phiên họp, Tòa án đã có thông báo kết quả phiên họp cho đương sự vắng mặt trong đó có ông P là không ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ của ông P. Mặt khác, ông P đã nhận được quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Từ đó, Tòa án cấp sơ thẩm đưa xét xử vắng mặt đối với ông là đúng quy định pháp luật.
Trong vụ án này ông P không có kháng cáo về đường lối giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm nên không đặt ra xem xét ở cấp phúc thẩm.
Từ những phân tích trên, xét thấy không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của ông Lý Xương P, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm về nội dung vụ án, sửa bản án sơ thẩm về phần quan hệ pháp luật.
[4] Về án phí:
4.1 Về án phí sơ thẩm:
Ông Lý Xương P phải nộp 300.000đ (ba trăm ngàn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Bà Lý Xương C phải nộp 5.170.000đ (năm triệu một trăm bảy mươi ngàn) đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 8.750.000₫ (tám triệu bảy trăm năm mươi ngàn) đồng bà C đã nộp, hoàn trả lại cho bà C số tiền tạm ứng án phí còn dư 3.580.000đ (ba triệu năm trăm tám mươi ngàn) đồng theo biên lai thu số 004640 ngày 16/01/2019 và 300.000đ (ba trăm ngàn) đồng theo biên lai thu số 0002065 ngày 16/9/2020 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện C.
4.2 Về án phí phúc thẩm: Do sửa án sơ thẩm nên ông Lý Phương C1 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
[5] Về chi phí tố tụng: Buộc ông Lý Xương P trả lại cho bà Lý Xương C số tiền chi phí tố tụng là 21.933.000đ (hai mươi mốt triệu chín trăm ba mươi ba ngàn) đồng.
Bà Lý Xương C tự nguyện chịu số tiền chi phí tố tụng là 3.000.000đ (ba triệu) đồng. Bà C đã nộp đủ.
[6] Xét quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự:
Không chấp nhận kháng cáo của ông Lý Xương P. Sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm số 01/2024/DSST ngày 18/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Đồng Nai về quan hệ pháp luật.
Căn cứ Điều 166 của Bộ luật dân sự năm 2015
Căn cứ Điều 38, 73, 79 của Luật đất đai năm 1993
Căn cứ Án lệ số 03/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 06 tháng 4 năm 2016
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý, sử dụng án phí lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lý Xương C.
- Buộc ông Lý Xương P và bà Nhỉn Nhì M phải giao trả cho bà Lý Xương C diện tích đất 3.493,8m² thuộc thửa đất số 04, tờ bản đồ số 29 xã B, huyện C, tỉnh Đồng Nai được giới hạn bởi các mốc (A, 1, 2, 3, 4, 5, 6, A) theo trích lục và trích đo khu đất bản đồ địa chính số 696/2020 ngày 09/3/2020 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ – chi nhánh C2.
Bà Lý Xương C được toàn quyền quản lý, sở hữu toàn bộ tài sản do ông P, bà M tạo lập được trên phần đất này, bao gồm: 60 cây mít thái; 120 cây nọc tiêu gòng; 01 cây sầu riêng 1; 01 cây sầu riêng 2.
Bà C có trách nhiệm thanh toán cho ông Lý Xương P, bà Nhỉn Nhì M giá trị các tài sản mà ông P, bà M tạo lập được trên đất là 103.400.000đ (một trăm lẻ ba triệu bốn trăm ngàn) đồng.
- Buộc ông Lý Xương P giao trả cho bà Lý Xương C bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với thửa đất số 04, tờ bản đồ số 29 xã B, huyện C, tỉnh Đồng Nai số BK 588962 do UBND huyện C cấp cho bà Lý Xương C ngày 15/3/2013.
- Về án phí:
Về án phí sơ thẩm: Ông Lý Xương P phải nộp 300.000đ (ba trăm ngàn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Bà Lý Xương C phải nộp 5.170.000₫ (năm triệu một trăm bảy mươi ngàn) đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 8.750.000₫ (tám triệu bảy trăm năm mươi ngàn) đồng bà C đã nộp, hoàn trả lại cho bà C số tiền tạm ứng án phí còn dư 3.580.000đ (ba triệu năm trăm tám mươi ngàn) đồng theo biên lai thu số 004640 ngày 16/01/2019 và 300.000đ (ba trăm ngàn) đồng theo biên lai thu số 0002065 ngày 16/9/2020 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện C.
Về án phí phúc thẩm: Ông Lý Phương C1 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả cho ông số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng tại biên lai thu số 0011960 ngày 29/02/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện C.
- Về chi phí tố tụng: Buộc ông Lý Xương P trả lại cho bà Lý Xương C số tiền chi phí tố tụng là 21.933.000đ (hai mươi mốt triệu chín trăm ba mươi ba ngàn) đồng.
Bà Lý Xương C tự nguyện chịu số tiền chi phí tố tụng là 3.000.000₫ (ba triệu) đồng. Bà C đã nộp đủ.
- Về thi hành án:
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền chậm thanh toán theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (Sửa đổi, bổ sung năm 2014).
6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Quyên |
Bản án số 213/2024/DS-PT ngày 05/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp kiện đòi tài sản là quyền sử dụng đất và yêu cầu trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Số bản án: 213/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp kiện đòi tài sản là quyền sử dụng đất và yêu cầu trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 05/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà C và ông P tranh chấp kiện đòi tài sản là quyền sử dụng đất và yêu cầu trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
