|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU Bản án số: 213/2023/HS-ST Ngày 20-12-2023 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Thành
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trịnh Văn Đăng
Bà Ngô Thị Chiến
- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Hằng – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hồng – Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 229/2023/TLST-HS ngày 04 tháng 12 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 241/2023/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 12 năm 2023 đối với:
- Bị cáo: Lê Phương N, sinh năm 1995 tại Bà Rịa - Vũng Tàu; nơi cư trú: Ấp C, xã T, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 0/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Thanh Đ và bà Thái Thị S;
- Tiền án: 01- Tại bản án số 110/2022/HSST ngày 30/06/2022, Lê Phương N bị Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xử phạt 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 01/06/2023.
- Tiền sự: 01- Tại Quyết định số 67/QĐ ngày 12/07/2021 của Trưởng Công an xã C, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xử phạt đối với Lê Phương N về hành vi “Trộm cắp tài sản” bằng hình thức phạt tiền, số tiền 1.500.000 đồng.
- Nhân thân: 01- Tại bản án số 14/2014/HSST ngày 24/02/2014, Lê Phương N bị Tòa án nhân dân huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xử phạt 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 25/08/2018.
Bị cáo bị bắt ngày 20-9-2023, hiện tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã P “có mặt”.
- Bị hại: Lê Thị N1, sinh: 1993; trú tại thôn T, xã C, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (có yêu cầu giải quyết vắng mặt)
- Người làm chứng:
- Nguyễn Quang H
- Huỳnh Tín
- Nguyễn Thị T
“Tất cả vắng mặt”
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ ngày 16/09/2023, Lê Phương N đi bộ đến nhà chị gái ruột của mình là Lê Thị N1 (sinh năm 1993) tại tổ I, thôn T, xã C, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu để mượn xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Blade, BKS: 72E1-438.11 của chị N1 để đi chơi, chị N1 đồng ý. Sau khi mượn được xe và điều khiển xe rời khỏi nhà chị N1, do cần tiền để mua ma túy sử dụng nên N nảy sinh ý định chiếm đoạt xe mô tô của chị N1 để bán lấy tiền. Sau đó N điều khiển xe chạy về hướng chợ C thuộc xã C, thị xã P để tìm chỗ bán xe. Trên đường đi, Nam gặp bạn là anh Nguyễn Quang H (sinh năm 1988; Nơi đăng ký thường trú: Tổ F, thôn T, xã C, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu) nên nhờ anh H bán giùm xe, N nói với anh H là xe của N bị mất giấy tờ cần tiền nên bán, anh Hòa đồng ý. Anh H gọi điện thoại cho bạn là Huỳnh T1 (sinh năm 1982; Nơi đăng ký thường trú: Khu phố D, Phường D, Quận F, thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: Tổ B, ấp A, xã T, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu) để hỏi bán xe giùm N thì anh T1 đồng ý mua với giá 1.500.000 đồng. Anh H báo giá bán xe lại cho N thì N đồng ý bán. Sau đó, N đưa xe mô tô cho H chạy đến khu vực Cây xăng T2 thuộc xã T, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, giao xe cho T1 và nhận số tiền 1.500.000 đồng. H đưa số tiền 1.500.000 đồng cho N, N sử dụng tiêu xài cá nhân hết. Sau khi T1 mua xe thì sử dụng làm phượng tiện đi lại và không biết xe mô tô trên là do N chiếm đoạt của chị N1. Đến ngày 21/09/2023, T1 biết thông tin anh H đến cơ quan Công an làm việc nên nghi ngờ xe anh H bán cho mình có nguồn gốc không rõ ràng nên Tín điều khiển xe mô tô BKS: 72E1-438.11 đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã P để giao nộp. Tuy nhiên khi gần đến nơi, T1 lo sợ bị Công an bắt giữ nên đưa xe vào quán nước mía của chị Nguyễn Thị T (sinh năm 1987; Nơi đăng ký thường trú: Khu phố V, phường P, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu) cách Công an thị xã P khoảng 500m để gửi xe rồi bỏ đi. Chị T chờ lâu không thấy T1 quay lại nên đã trình báo và giao nộp xe mô tô BKS: 72E1-438.11 cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã P.
Sau khi cho N mượn xe, chị N1 không thấy N đem xe về trả và được biết N đã tự ý bán xe lấy tiền tiêu xài nên ngày 19/09/2023, chị N1 đến Công an xã C, thị xã P trình báo sự việc. Tại cơ quan điều tra, Lê Phương N khai nhận toàn bộ hành vi chiếm đoạt tài sản của chị N1 như đã nêu trên (BL: 40-91).
Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 193/KL ngày 29/09/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự, UBND thị xã P, kết luận: “01 (một) xe mô tô, 02 bánh, nhãn hiệu Honda, loại Blade, màu đen, biển số 72E1-438.11, số khung 3612EY146458; số máy: JA36E0284089. Xe được mua mới năm 2016. Tại thời điểm ngày 16/09/2023 tài sản có giá trị là 18.600.000 đồng (Mười tám triệu sáu trăm ngàn đồng) (BL: 15-17).
Bản Cáo trạng số 219/CT-VKS ngày 24-11-2023 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ truy tố Lê Phương N về tội: “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 1 Điều 175 của Bộ luật hình sự.
* Luận tội của Kiểm sát viên: Giữ nguyên nội dung cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo, đồng thời đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo. Từ đó đề nghị:
Về mức hình phạt:
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 175; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt Lê Phương N từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong.
* Lời khai của bị cáo tại phiên tòa: Bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Bị cáo không có ý kiến bào chữa, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng
Vụ án không thuộc trường hợp tạm đình chỉ hoặc trả hồ sơ để điều tra bổ sung. Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã P, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ, của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh và điều luật áp dụng
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, qua đối chiếu với lời khai tại cơ quan điều tra, của bị hại, của người làm chứng và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nhận thấy phù hợp với nhau, do vậy có đủ căn cứ kết luận:
Khoảng 17 giờ ngày 16/09/2023, tại tổ I, thôn T, xã C, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, sau khi được chị Lê Thị N1 cho mượn 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Blade, BKS: 72E1-438.11, Lê Phương N đã có hành vi chiếm đoạt chiếc xe này để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Trị giá tài sản mà Lê Phương N chiếm đoạt của chị N1 là 18.600.000 đồng.
Hành vi mượn tài sản của người khác rồi đem đi bán lấy tiền tiều xài đã cấu thành tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 1 Điều 175 của Bộ luật hình sự, đúng như truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 01 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản”, chưa được xóa án tích lên lần phạm tội này thuộc trường hợp “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn, hối cải; bị hại làm đơn bãi nại cho bị cáo. Đây là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự;
[4] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những đã xâm phạm trực tiếp đến quyền bất khả xâm phạm về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bản thân bị cáo có nhân thân rất xấu với nhiều lần bị kết án tù về các tội “Cố ý gây thương tích” và “Trộm cắp tài sản” nhưng không lấy đó làm bài học để tu dưỡng bản thân mà ra tù tieepsw tục phạm tội liên quan đến chiếm đoạt tài sản; để có tiền bị cáo đã lấy xe của chị gái mình đém bán lấy tiền tiêu sài để thỏa mãn bản thân. Do đó cần phải có hình phạt nghiêm đối với bị cáo để răn đe và phòng ngừa tội phạm chung.
[5]Về hình phạt bổ sung: Xét các bị cáo không có việc làm, không có thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo khoản 5 Điều 175 Bộ luật hình sự.
[6]Về trách nhiệm dân sự: Chị Lê Thị N1 đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không yêu cầu gì khác. Anh Huỳnh T1 không yêu cầu Hòa và N trả lại số tiền 1.500.000 đồng.
[7] Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Blade, BKS: 72E1-438.11 là tài sản hợp pháp của chị Lê Thị N1 nên ngày 17/11/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã P đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 86/QĐ, trả lại xe cho chị N1 (BL: 96, 97).
[8]Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Tuyên bố: Bị cáo Lê Phương N phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 175; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự;
Xử phạt: Lê Phương N 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 20-9-2023.
-
Án phí: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 23, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án:
Buộc Lê Phương N phải nộp 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc niêm yết công khai.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Minh Thành |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Bản án số 213/2023/HS-ST ngày 20/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 213/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Phương N phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”
