|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 2124/2024/HNGĐ-ST Ngày: 28-5-2024 V/v: Ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
– Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thúy Quỳnh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Đăng Vạn;
- Ông Mai Thanh Giàu.
– Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hải Yến – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
– Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Ngọc H – Kiểm sát viên.
Trong ngày 28 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 3051/2023/TLST-HNGĐ ngày 19/12/2023 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 1897/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 08/4/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 2633/2024/QĐST-HNGĐ ngày 03/5/2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Trần Thị Ngọc H1, sinh năm: 1990
Địa chỉ thường trú: số A T, Tổ C, khu phố B, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Chỗ ở hiện nay: Nhà không số (cạnh nhà số A) Đường H, khu phố L, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm: 1982
Địa chỉ: số A M, Tổ B, khu phố B, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện nộp ngày 08/12/2023, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Trần Thị Ngọc H1 trình bày:
Bà và ông Nguyễn Văn Đ có tìm hiểu nhau, tự nguyện tổ chức đám cưới và bắt đầu sống chung từ năm 2006. Hai bên có đăng ký kết hôn ngày 16/02/2009 tại Ủy ban nhân dân phường L, Quận I (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận kết hôn số A1, quyển số 01. Việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện và được hai bên gia đình chấp thuận.
Cuộc sống chung hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, do ông Đ chơi chứng khoán thua lỗ gây nợ nần, bà đã nhiều lần khuyên ngăn nhưng ông Đ không nghe nên thường xuyên xảy ra cãi vã, không tìm được tiếng nói chung, tình cảm lạnh nhạt. Ông bà đã ly thân từ năm 2021. Trong thời gian ly thân, do không có tiếng nói chung nên hai bên không trao đổi chuyện hàn gắn. Nay bà H1 cảm thấy không còn tình cảm vợ chồng, không thể hàn gắn đoàn tụ nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Văn Đ.
Về con chung: Bà H1 xác nhận bà và ông Đ có 02 người con chung tên Nguyễn Trần Quốc A, sinh ngày 17/5/2007 và Nguyễn Trần Minh Đ1, sinh ngày 30/10/2019. Hiện cả 02 con đều đang sống cùng bà H1, do bà H1 trực tiếp nuôi dưỡng. Khi ly hôn, bà H1 yêu cầu được quyền tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cả 02 con; bà H1 không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con. Bà H1 cho biết hiện nay bà đang làm nhân viên phòng vé của Khu du lịch Suối Tiên với mức thu nhập ổn định khoảng 11.000.000 đồng/tháng nên bà có đủ khả năng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà H1 tự khai không có.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ giấy triệu tập cho ông Nguyễn Văn Đ đến Tòa án để trình bày lời khai; tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông Đ đều vắng mặt không có lý do và không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Do đó, Tòa án không ghi nhận được ý kiến của ông Đ và không tiến hành hòa giải được.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn bà Trần Thị Ngọc H1 có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Bị đơn ông Nguyễn Văn Đ vắng mặt không có lý do.
Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn. Giao 02 người con chung cho bà H1 nuôi dưỡng; Ghi nhận việc bà H1 không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung, nợ chung: Không có; Đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ lời khai của đương sự trong hồ sơ, Hội đồng xét xử nhận định:
* Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà H1 yêu cầu ly hôn với ông Đ và ông Đ có nơi cư trú tại thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh nên đây là vụ án tranh chấp về ly hôn và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
* Về thủ tục tố tụng: bà H1 có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt và ông Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 228 và điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà H1 và ông Đ.
* Về nội dung vụ án:
[1] Về quan hệ hôn nhân:
Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số A1, quyển số 01, ngày 16/02/2009 do Ủy ban nhân dân phường L, Quận I nay là thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp, thì quan hệ hôn nhân giữa bà Trần Thị Ngọc H1 và ông Nguyễn Văn Đ là hợp pháp.
Bà H1 xác định từ năm 2020 vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do ông Đ chơi chứng khoán thua lỗ gây nợ nần, bà đã nhiều lần khuyên ngăn nhưng ông Đ đều không thay đổi. Vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã, tình cảm lạnh nhạt. Đến năm 2021, vợ chồng đã sống ly thân và không ai có trách nhiệm với ai trong cuộc sống. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn nên bà yêu cầu được ly hôn với ông Đ
Tòa án đã triệu tập nhiều lần nhưng ông Đ không đến tòa, không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là thể hiện sự bỏ mặc, không mong muốn vợ chồng hàn gắn. Hội đồng xét xử nhận thấy tình cảm vợ chồng giữa bà H1 và ông Đ không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào Điều 19, Điều 51 và khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, bà Trần Thị Ngọc H1 được ly hôn với ông Nguyễn Văn Đ.
[2] Về con chung:
Căn cứ hai giấy khai sinh số A2 ngày 05/6/2007 và số A3 ngày 07/11/2019 cùng của Ủy ban nhân dân phường L, Quận I (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh và lời khai của bà H1 thì đủ cơ sở để xác định bà H1 và ông Đ có 02 người con chung tên Nguyễn Trần Quốc A, sinh ngày 17/5/2007 và Nguyễn Trần Minh Đ1, sinh ngày 30/10/2019.
Xét, bà H1 đang nuôi dưỡng 02 con chung và yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung. Ông Đ dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do và không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn. Đồng thời, tại bản trình bày nguyện vọng ngày 05/01/2024 thì trẻ Nguyễn Trần Quốc A cũng có nguyện vọng được tiếp tục ở với bà H1.
Do đó, để đảm bảo duy trì sự phát triển ổn định về mọi mặt của trẻ, căn cứ vào Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu của nguyên đơn về việc được tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cả 02 con là phù hợp với tình hình thực tế nên có căn cứ chấp nhận.
Bà H1 không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi 02 con, đây là sự tự nguyện của bà H1 nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[3] Về tài sản chung, nợ chung: Bà Hà t khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Về án phí sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 6; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án thì bà H1 phải chịu án phí về hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 228, điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các điều 19, 51, 56, 57, 81, 82, 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ vào Điều 6, điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Ngọc H1 được ly hôn với ông Nguyễn Văn Đ.
2. Về con chung: Giao cho bà Trần Thị Ngọc H1 tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cả 02 người con chung tên Nguyễn Trần Quốc A, sinh ngày 17/5/2007 và Nguyễn Trần Minh Đ1, sinh ngày 30/10/2019. Ông Nguyễn Văn Đ không cấp dưỡng nuôi con.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai được cản trở. Nếu lợi dụng việc thăm nom để gây cản trở hoặc ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người đó.
Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Vì quyền lợi mọi mặt của người con, theo yêu cầu của một bên hoặc cả hai bên Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi mức tiền cấp dưỡng nuôi con hoặc hạn chế quyền thăm nom, chăm sóc của người không trực tiếp nuôi con.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Bà Trần Thị Ngọc H1 tự khai không có.
4. Về án phí: Bà Trần Thị Ngọc H1 phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng mà bà H1 đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng số: B1 ngày 19/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh (Biên lai thu trực tuyến công số: B2 ngày 19/12/2023). Bà Trần Thị Ngọc H1 đã nộp đủ án phí.
5. Giấy chứng nhận kết hôn số A1, quyển số 01, ngày 16/02/2009 do Ủy ban nhân dân phường L, Quận I (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho bà Trần Thị Ngọc H1 và ông Nguyễn Văn Đ không còn giá trị pháp lý.
6. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Thúy Quỳnh |
Bản án số 2124/2024/HNGĐ-ST ngày 28/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn (hôn nhân và gia đình)
- Số bản án: 2124/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn (Hôn nhân và Gia đình)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bà H1 yêu cầu được ly hôn với ông Đ; yêu cầu được nuôi dưỡng 02 con chung,không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con; Tài sản chung và nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà H1
