Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN BÌNH THẠNH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 2123/2023/DS -ST

Ngày 24 tháng 10 năm 2023

V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thiện Liên Hương

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Hồ Thị Lang
  2. Ông Nguyễn Duy Hiếu

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Xuân Trường, là Thư ký Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Huyền - Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.

Ngày 24 tháng 10 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai đối với vụ án dân sự thụ lý số 0228/2023/TLST-DS ngày 13 tháng 02 năm 2023 về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 577/2023/QĐXXST-DS ngày 05 tháng 9 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 467/2023/QĐST-DS ngày 27 tháng 9 năm 2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần A

Địa chỉ: 266-268 N, phường V, Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đ - Tổng giám đốc

Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Minh T (Giấy ủy quyền số 1197/2023/UQ-TGĐ lập ngày 26 tháng 4 năm 2023)

Địa chỉ: 80/17 Đ, Phường K, quận H, Thành phố Hồ Chí Minh (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

Bị đơn: Ông Nguyễn B Sinh năm: 1954

Địa chỉ: 1063C X, Phường X, quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, các bản tự khai và các biên bản tại Tòa án, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Nguyễn Minh T trình bày:

Căn cứ trên giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng của ông Nguyễn B ký ngày 28/11/2012, Ngân hàng thương mại cổ phần A (sau đây gọi tắt là Ngân hàng A) đã cấp cho ông B thẻ tín dụng quốc tế Visa Pay Wave Cre Gold An Toàn số thẻ 472075-8754, hạn mức thẻ là 50.000.000 (năm mươi triệu) đồng, lãi suất và phí theo quy định tại Bản các điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của là Ngân hàng A với mục đích tiêu dùng cá nhân, lãi suất trong hạn là 1.916%/tháng, lãi suất quá hạn là 150% x 1.916% tương đương 2.874%/tháng.

Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay, ông B đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 123.171.690 (một trăm hai mươi ba triệu, một trăm bảy mươi mốt ngàn, sáu trăm chín mươi) đồng. Ông B đã thanh toán được 108.394.730 (một trăm lẻ tám triệu, ba trăm chín mươi bốn ngàn, bảy trăm ba mươi) đồng, trong đó tiền gốc là 72.287.089 (bảy mươi hai triệu, hai trăm tám mươi bảy ngàn, không trăm tám mươi chín) đồng; lãi trong hạn là 27.393.521 (hai mươi bảy triệu, ba trăm chín mươi ba ngàn, năm trăm hai mươi mốt đồng; phí trễ hạn là 3.013.211 (ba triệu, không trăm mười ba ngàn, hai trăm mười một) đồng; phí vượt hạn mức là 884.909 (tám trăm tám mươi bốn ngàn, chín trăm lẻ chín) đồng; các loại phí khác là 4.816.000 (bốn triệu, tám trăm mười sáu) đồng.

Do ông B vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng A đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ của ông B chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu là 56.884.601 (năm mươi sáu triệu, tám trăm tám mươi bốn ngàn, sáu trăm lẻ một) đồng sang nợ quá hạn từ ngày 11/5/2015. Lãi suất trong hạn là 1.916%/tháng. Lãi suất quá hạn là 150% x 1.916% tương đương 2.874%/tháng. Đến ngày 02/10/2015, ông B thanh toán 6.000.000 (sáu triệu) đồng nên tổng số tiền nợ gốc còn lại là 50.884.601 (năm mươi triệu, tám trăm tám mươi bốn ngàn, sáu trăm lẻ một) đồng.

Nay, Ngân hàng A yêu cầu ông Nguyễn B thanh toán ngay một lần tổng số tiền còn nợ tính đến ngày 16/8/2023 là 198.928.253 (một trăm chín mươi tám triệu, chín trăm hai mươi tám ngàn, hai trăm năm mươi ba) đồng, trong đó:

  • - Nợ gốc là 50.884.601 (năm mươi triệu, tám trăm tám mươi bốn ngàn, sáu trăm lẻ một) đồng.
  • - Tiền lãi quá hạn tính đến hết ngày 16/8/2023 là 148.043.652 (một trăm bốn mươi tám triệu, không trăm bốn mươi ba ngàn, sáu trăm năm mươi hai) đồng.

Ông B phải thanh toán khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán kể từ ngày 17/8/2023 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc với mức lãi suất theo quy định tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ký ngày 28/11/2012 và Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng thương mại cổ phần A.

Ngân hàng thương mại cổ phần A chỉ yêu cầu cá nhân ông Nguyễn B thanh toán nợ, không yêu cầu đưa thêm bất cứ người nào vào tham gia vụ kiện với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Bị đơn - ông Nguyễn B vắng mặt suốt quá trình tố tụng giải quyết vụ kiện mặc dù Tòa án đã thực hiện thủ tục triệu tập và niêm yết hợp lệ. Ông Bình cũng không gửi văn bản phản hồi đến Tòa.

Tại phiên tòa, nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Tại đơn đề nghị xét xử vắng mặt, nguyên đơn vẫn giữ các nguyên ý kiến và yêu cầu như trên. Bị đơn vắng mặt không lý do mặc dù đã được Tòa triệu tập xét xử hợp lệ và cũng không gửi văn bản ý kiến đến phiên tòa.

Tại phần tranh luận, nguyên đơn và bị đơn vắng mặt không có ý kiến tranh luận.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu:

1. Việc tuân theo pháp luật tố tụng

1.1. Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán

Thông qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm này, thấy rằng Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng Dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Cụ thể:

Thẩm phán xác định đúng quan hệ tranh chấp, đúng thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Thẩm phán đã xác định tư cách tham gia tố tụng của các đương sự đúng quy định tại Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ nên vụ án thuộc trường hợp Viện kiểm sát tham gia phiên tòa theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Việc cấp, tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng cho đương sự và Viện kiểm sát thực hiện theo đúng quy định từ Điều 170 đến Điều 181 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Tòa án tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ đúng theo quy định tại Điều 209, 210, 211 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về án phí: Ngân hàng thương mại cổ phần A đã nộp tạm ứng án phí. Tòa án thụ lý số 228/2023/TLST-DS ngày 13/02/2023 là đúng quy định tại Điều 146 và Điều 195, Điều 196 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Ngày 05/9/2023, Tòa án ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử số 577/2023/QĐXXST-DS. Theo đó, vụ án được xét xử công khai vào lúc 8 giờ 00 phút ngày 27/9/2023. Ngày 05/9/2023, Tòa án gửi Quyết định đưa vụ án ra xét xử kèm hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nghiên cứu. Ngày 27/9/2023, Tòa án ban hành quyết định hoãn phiên tòa số 467/2023/QĐST-DS, ấn định thời gian mở lại phiên tòa vào 8 giờ 00 phút ngày 24/10/2023.

Tuy nhiên, Thẩm phán còn vi phạm thời hạn chuẩn bị xét xử theo quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

1.2. Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa

Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự 2015 về việc xét xử sơ thẩm vụ án.

Thư ký Tòa án đã tuân theo đúng quy định của Điều 51 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

1.3. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng

Đối với nguyên đơn: Từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa hôm nay nguyên đơn đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo đúng quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

Đối với bị đơn: Từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa hôm nay, bị đơn chưa thực hiện các quyền, nghĩa vụ theo đúng quy định tại các Điều 70, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

2. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về án phí, do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ nên bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thâm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, lời trình bày của đương sự tại phiên tòa, phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Y tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Quan hệ tranh chấp trong vụ án là tranh chấp dân sự về Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng. Bị đơn có địa chỉ tại quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 thì vụ kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.

[2] Về thủ tục tố tụng:

Nguyên đơn có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn.

Tòa đã tống đạt xét xử hợp lệ triệu tập bị đơn tham gia phiên tòa sơ thẩm lần 1 mở ngày 27/9/2023 và lần 2 mở ngày 24/10/2023 nhưng bị đơn vẫn vắng mặt không lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vụ án vắng mặt bị đơn.

[3] Về yêu cầu của đương sự:

Căn cứ Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng do bị đơn ký tên chủ thẻ chính ngày 28/11/2012 được phê duyệt ngày 24/12/2012 cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ kiện đã đủ cơ sở xác định bị đơn đã được nguyên đơn cấp thẻ tín dụng quốc tế loại Visa Pay Wave Cre Gold An Toàn số thẻ 472075-8754, hạn mức thẻ là 50.000.000 (năm mươi triệu) đồng, lãi suất và phí theo quy định tại Bản các điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của là Ngân hàng A với mục đích tiêu dùng cá nhân,.

Căn cứ Bản sao kê tài khoản thẻ thì bị đơn đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền đã sử dụng là 123.171.690 (một trăm hai mươi ba triệu, một trăm bảy mươi mốt ngàn, sáu trăm chín mươi) đồng. Bị đơn đã thanh toán được 108.394.730 (một trăm lẻ tám triệu, ba trăm chín mươi bốn ngàn, bảy trăm ba mươi) đồng. Tính đến ngày 24/10/2023, bị đơn còn nợ nguyên đơn do việc sử dụng thẻ tín dụng nêu trên với tổng số tiền là 202.291.796 (hai trăm lẻ hai triệu, hai trăm chín mươi mốt ngàn, bảy trăm chín mươi sáu) đồng, trong đó:

  • - Nợ gốc là 50.884.601 (năm mươi triệu, tám trăm tám mươi bốn ngàn, sáu trăm lẻ một) đồng.
  • - Tiền lãi quá hạn tính đến hết ngày 24/10/2023 là 151.407.195 (một trăm năm mươi mốt triệu, bốn trăm lẻ bảy ngàn, một trăm chín mươi lăm) đồng.

Đến nay, bị đơn vẫn chưa thanh toán đầy đủ số tiền còn nợ đã làm ảnh hưởng đến quyền lợi của nguyên đơn. Do đó, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn thanh toán ngay một lần số tiền gốc và tiền lãi còn nợ là phù hợp với quy định Điều 2, Điều 18, Điều 22, Điều 23 Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng; Điều 471, Điều 474 Bộ luật dân sự 2005; khoản 2 Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; khoản 1 Điều 1 Thông tư số 12/2010/TT-NHNN ngày 14/4/2010 của Ngân hàng Nhà nước hướng dẫn tổ chức tín dụng cho vay bằng đồng Việt Nam đối với khách hàng theo lãi suất thỏa thuận; khoản 2 Điều 11 Quy chế cho vay của Tổ chức tín dụng đối với khách hàng được ban hành theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước được sửa đổi, bổ sung bằng Quyết định số 127/2005/QĐ-NHNN ngày 03-2-2005; Điều 8 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.

Về phía bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia quá trình tố tụng giải quyết vụ án nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do trong suốt quá trình Toà án tiến hành điều tra, thu thập chứng cứ và xét xử. Cho thấy, bị đơn đã tự từ bỏ quyền lợi tố tụng của mình.

Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử thiết nghĩ yêu cầu của nguyên đơn hoàn toàn có cơ sở để chấp nhận toàn bộ, cần buộc bị đơn phải thanh toán số tiền 202.291.796 (hai trăm lẻ hai triệu, hai trăm chín mươi mốt ngàn, bảy trăm chín mươi sáu) đồng cho nguyên đơn ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật; kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, bị đơn còn phải tiếp tục trả lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán với mức lãi suất theo quy định tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng do ông Nguyễn B ký tên chủ thẻ chính ngày 28/11/2012 được phê duyệt ngày 24/12/2012 và Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng thương mại cổ phần A theo như ý kiến phát biểu của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Y tại phiên tòa.

[4] Về án phí:

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, án phí dân sự sơ thẩm là 10.114.590 (mười triệu, một trăm mười bốn ngàn, năm trăm chín mươi) đồng, bị đơn phải chịu do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ.

Nguyên đơn được hoàn lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 4.595.000 (bốn triệu, năm trăm chín mươi lăm ngàn) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0019335 ngày 09/02/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 146, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Điều 471, Điều 474 Bộ luật dân sự 2005;

Căn cứ vào khoản 2 Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;

Căn cứ vào Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014;

Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Buộc ông Nguyễn B thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần A số tiền là 202.291.796 (hai trăm lẻ hai triệu, hai trăm chín mươi mốt ngàn, bảy trăm chín mươi sáu) đồng, trong đó:

  • - Nợ gốc là 50.884.601 (năm mươi triệu, tám trăm tám mươi bốn ngàn, sáu trăm lẻ một) đồng.
  • - Tiền lãi quá hạn tính đến hết ngày 24/10/2023 là 151.407.195 (một trăm năm mươi mốt triệu, bốn trăm lẻ bảy ngàn, một trăm chín mươi lăm) đồng.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, ông Nguyễn B còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc với mức lãi suất theo quy định tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng do ông Nguyễn B ký tên chủ thẻ chính ngày 28/11/2012 được phê duyệt ngày 24/12/2012 và Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng thương mại cổ phần A.

Thi hành ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.

2. Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm là 10.114.590 (mười triệu, một trăm mười bốn ngàn, năm trăm chín mươi) đồng, ông Nguyễn B phải nộp.

Hoàn lại cho Ngân hàng thương mại cổ phần A số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 4.595.000 (bốn triệu, năm trăm chín mươi lăm ngàn) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0019335 ngày 09/02/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Án xử công khai. Nguyên đơn và bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày niêm yết hoặc tống đạt hợp lệ bản án.

4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Nơi nhận:

  • - TAND TP.Hồ Chí Minh;
  • - VKSND quận Y;
  • - Chi Cục THADS quận Y;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu VP; Hồ sơ

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thiện Liên Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 2123/2023/DS -ST ngày 24/10/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 2123/2023/DS -ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/10/2023
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Yêu cầu thanh toán nợ theo hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger