Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 212/2023/DS-PT

Ngày: 26 - 12 - 2023

V/v: Tranh chấp thừa kế

quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Văn Tâm

Các Thẩm phán:

Bà Nguyễn Thị Quang

Ông Trịnh Hoàng Anh

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Lê Thanh Hà – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu: Bà Bùi Thị Doan - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Từ ngày 19 đến ngày 26 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 203/2023/TLPT-DS ngày 04 tháng 10 năm 2023 về việc “tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 18/2023/DS-ST ngày 26 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu bị kháng cáo.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 224/2023/QĐ-PT ngày 14/11/2022, quyết định hoãn phiên tòa số 242/2023/QĐ-PT ngày 04/12/2023, quyết định thay đổi người tiến hành tố tụng, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn:
    1. Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1970; Địa chỉ: tổ A, ấp L, xã L, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (Có mặt).
    2. Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1968; Địa chỉ: tổ A, ấp L, xã L, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (Có mặt)
    3. Bà Nguyễn Thị Thùy T, sinh năm 1975; Địa chỉ: tổ A, ấp L, xã L, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (Có mặt)
    4. Bà Nguyễn Thị Mai T1, sinh năm 1978; Địa chỉ: tổ A, ấp L, xã L, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (Có mặt).

    Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Nguyễn Thị Mai T1: Ông Trần Đức H1, luật sư - Công ty L2. (Có mặt).

  2. Bị đơn: Ông Lương Văn T2, sinh năm 1964 và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1963; Địa chỉ: Tổ A, ấp L, xã L, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (Có mặt).
  1. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Ông Nguyễn Văn H2, sinh năm 1973; Địa chỉ: Tổ A, ấp L, xã L, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (Có mặt).
    2. Ngân hàng N2; Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Văn H3 - chức vụ Giám đốc chi nhánh huyện Đ - Bà Rịa - Vũng Tàu. (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
  2. Người làm chứng:
    1. Bà Cao Thị S, sinh năm 1954; Địa chỉ: tổ A, ấp P, xã P, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (Có mặt).
    2. Bà Đoàn Thị Ngọc Á, sinh năm 1957; Địa chỉ: Khu phố L, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (Có mặt).
    3. Ông Nguyễn Văn H4, sinh năm 1957; Địa chỉ: ấp T, xã L, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (Vắng mặt)
  3. Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị L, ông Nguyễn Văn H, bà Nguyễn Thị Thùy T, bà Nguyễn Thị Mai T1.
  4. Viện Kiểm sát kháng nghị: Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đất Đỏ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện và quá trình tố tụng giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị L trình bày: Ông Nguyễn Văn G, sinh năm 1932 (Chết năm 2004) và bà Nguyễn Thị T3, sinh năm 1935 (Chết năm 1985) có 6 người con chung gồm Nguyễn Thị N, Nguyễn Văn H, Nguyễn Thị L, Nguyễn Văn H2, Nguyễn Thị Thùy T và Nguyễn Thị Mai T1. Sinh thời ông bà có tài sản là quyền sử dụng đất tại xã L. Tài sản này được hình thành sau giải phóng năm 1975, ông G, bà T3 di cư đến vùng kinh tế mới xã L, được Nhà nước giao cho một thửa đất có diện tích khoảng 1,3 ha (nay là thửa đất số 27, 39 bà N đang quản lý sử dụng) tọa lạc tại ấp L để khai hoang, làm nhà ở và sản xuất. Việc giao đất và khai hoang đất không có giấy tờ chứng minh, nhưng có nhiều người biết chứng kiến. Năm 1985 ông G chuyển sang nghề chăn thả vịt nên giao đất lại cho 6 anh chị em cùng quản lý sử dụng. Đến năm 1992 Nhà nước có chủ trương xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, vợ chồng bà N, ông T2 đã lén lút kê khai đăng ký cấp giấy mà anh em không ai hay biết. Sau khi ông G, bà T3 chết, bà N ông T2 đã tách thửa đất số 27 chuyển nhượng cho người khác mà không chia tiền cho các em, Nhà nước có thu hồi đất làm đường hỗ trợ tiền bà N cũng không chia.

Nay, bà L khởi kiện yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật di sản của ông G, bà T3 là quyền sử dụng đất thửa đất số 39 và 27, đối với thửa đất số 27 bà N đã chuyển nhượng yêu cầu chia bằng giá trị thị trường thời điểm giải quyết vụ án và chia số tiền Nhà nước hỗ trợ thu hồi đất, yêu cầu được hưởng suất thừa kế bằng 1/6 khối di sản. Bà L thống nhất với kết quả đo vẽ, định giá đất, từ ngày đo vẽ đất đến nay hiện trạng không có gì thay đổi, bà L không yêu cầu đưa thêm người vào tham gia tố tụng, hay yêu cầu Tòa án thu thập bổ sung chứng cứ.

* Các đồng nguyên đơn là ông Nguyễn Văn H, bà Nguyễn Thị Thùy T, bà Nguyễn Thị Mai T1 trình bày: Thống nhất như lời trình bày của bà L về quan hệ nhân thân và di sản chưa chia, yêu cầu tòa án chia thừa kế di sản của ông G, bà T3 là quyền sử dụng đất thửa đất số 39 và 27, đối với thửa đất số 27 bà N đã chuyển nhượng yêu cầu chia bằng giá trị và chia số tiền nhà Nước hỗ trợ thu hồi đất. Yêu cầu được hưởng mỗi người suất thừa kế bằng 1/6 khối di sản.

* Quá trình tố tụng giải quyết vụ án, bị đơn bà Nguyễn Thị N, ông Lương Văn T2 trình bày: Bà N và ông T2 thống nhất về quan hệ gia đình, ông G với bà T3 thực tế có đến 10 người con, nhưng chết tuyệt tự 4 còn lại 6 người như các nguyên đơn trình bày. Về di sản của ông G và bà T3 như các nguyên đơn trình bày là không đúng vì ông G1 và bà T3 không có khai khẩn đất mà đất là do bà N khai khẩn. Bà N là con gái lớn trong gia đình thấy cuộc sống khó khăn nên mới thoát ly ra ngoài đi làm ăn. Thời gian lâu lắm nên không còn nhớ năm nào, bà N đến xã L tại vị trí đất mà các nguyên đơn tranh chấp hành nghề đốn củi, hầm than và sinh sống tại vị trí đất làm lò than, khu vực này trước đây là rừng hoang, có ít người sinh sống. Năm 1982 bà N kết hôn với ông T2, ông T2 về sống cùng bà N cả hai người cùng góp công sức cải tạo đất làm ăn sinh sống đến nay. Trước đây là thửa đất số 261, 413, 417 nay là thửa đất số 27, 39. Sau khi bà N, ông T2 có cuộc sống ổn định được sự đồng ý của ông T2, bà N mới đưa cha, mẹ cùng các em ruột của bà N về sống chung trên đất. Do đất có nguốc gốc là của vợ chồng bà N không phải của ông G, bà T3 nên năm 1992 ông T2 kê khai đăng ký, thời điểm này ông G vẫn còn sống biết ông T2 đăng ký nhưng không có ý kiến, không tranh chấp gì. Đất có nguồn gốc của vợ chồng bà N tự khai hoang mà có, được Nhà nước công nhận cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, không là di sản của ông G, bà T3. Bà N, ông T2 không chấp nhận toàn bộ yêu cầu của các nguyên đơn và người có quyền lợi liên quan. Hiện trên thửa đất bà N, ông T2 có cho ông H2 và ông H tạm sử dụng 1 phần để ở, khi nào cần thiết bà N, ông T2 sẽ yêu cầu trả lại đất. Bà N, ông T2 thống nhất với kết quả đo vẽ, định giá đất, từ ngày đo vẽ đất đến nay hiện trạng vẫn giữ nguyên không có gì thay đổi.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn H2 trình bày: Ông H2 thống nhất như lời trình bày của các nguyên đơn yêu cầu chia di sản của ông G, bà T3 là quyền sử dụng đất thửa đất số 39 và 27, đối với thửa đất số 27 bà N đã chuyển nhượng yêu cầu chia bằng giá trị và chia số tiền nhà nước hỗ trợ thu hồi đất, yêu cầu được chia 1/6 trong tổng giá trị di sản của ông G, bà T3.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - Ngân hàng N2 trình bày: Ông T2 bà L đang thế chấp quyền sử dụng đất thửa đất số 39 tờ bản đồ số 41 xã L đảm bảo cho khoản vay 120.000.0000 đồng, hiện nay hộ ông T2 đã thanh toán được 80.000.000 đồng còn nợ lại Ngân hàng 40.000.000 đồng, Ngân hàng không có yêu cầu độc lập và xin từ chối tham gia tố tụng.

* Người làm chứng: Các ông, bà Nguyễn Văn H4, Cao Thị S, Đoàn Thị Ngọc Á xác nhận thấy ông G bà T3 là người khai khẩn đất, đất có nguồn gốc của ông G và bà T3, còn việc ông G, bà T3 có cho bà N hay không thì các ông bà không biết.

* Tại bản án dân sự sơ thẩm số 18/2023/DS-ST ngày 26 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Đất Đỏ đã quyết định như sau:

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn bà Nguyễn Thị L, ông Nguyễn Văn H, bà Nguyễn Thị Thùy T, bà Nguyễn Thị Mai T1 và người liên quan có yêu cầu độc lập ông Nguyễn Văn H2 về việc yêu cầu bị đơn ông Lương Văn T2, bà Nguyễn Thị N chia thừa kế đối với quyền sử dụng đất thửa đất số 39 và 27 tờ bản đồ số 41 xã L, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
  1. Đình chỉ yêu cầu chia thừa kế của bà Nguyễn Thị L, ông Nguyễn Văn H, bà Nguyễn Thị Thùy T, bà Nguyễn Thị Mai T1, ông Nguyễn Văn H2 đối với số tiền Nhà nước đã bồi thường hỗ trợ về đất đối với thửa đất 39 (135) tờ bản đồ số 41 xã L cho ông Lương Văn T2, bà Nguyễn Thị N.

Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về chi phí đo vẽ, xem xét, thẩm định tại chỗ, định giá tài sản, án phí và quyền kháng cáo.

* Ngày 06/6/2023 bà Nguyễn Thị L, ông Nguyễn Văn H, bà Nguyễn Thị Thùy T, bà Nguyễn Thị Mai T1 kháng cáo bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết: Sửa án sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chia thửa đất 39 diện tích 3.490,6m2 thành 6 phần đều nhau cho 6 người; chia giá trị thửa đất 27 diện tích 2.759,8m2, bà N phải thanh toán cho cho bà L, ông H, bà T và bà T1 mỗi người bằng 1/6 giá trị theo giá thị trường 2 triệu/1m2 là 919.900.000 đồng.

* Ngày 06/6/2023, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Đất Đỏ kháng cáo bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết: Sửa bản án sơ thẩm về án phí, buộc nguyên đơn và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn H2 phải chịu án phí không có giá ngạch mỗi người 300.000 đồng.

* Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Các đương sự không thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án và không cung cấp tài liệu, chứng cứ mới.

* Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 18/2023/DS-ST ngày 26/5/2023 của Tòa án nhân dân huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu về án phí, cụ thể: Bà Nguyễn Thị L, ông Nguyễn Văn H, bà Nguyễn Thị Thùy T, bà Nguyễn Thị Mai T1 và ông Nguyễn Văn H2 chịu án phí không có giá ngạch.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:

[1] Nguyên đơn bà Nguyễn Thị L, ông Nguyễn Văn H, bà Nguyễn Thị Thùy T, bà Nguyễn Thị Mai T1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập ông Nguyễn Văn H2 yêu cầu chia di sản thừa kế của cha, mẹ là ông Nguyễn Văn G và bà Nguyễn Thị T3 là quyền sử dụng đất diện tích 3.454,8m² thửa số 39, tờ bản đồ số 41, xã L, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, chia giá trị quyền sử dụng đất diện tích 2.760m² thửa số 27, tờ bản đồ số 41, xã L, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu và khoản tiền bồi thường thu hồi đất là 8.382.500 đồng, trong đó bồi thường về đất là 3.061.600 đồng. Đất đã được Ủy ban nhân dân huyện L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông Lương Văn T2 ngày 24/9/1998, tách thửa được Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp lại thửa 39 cho ông T2 theo giấy chứng nhận số AN 435869 ngày 15/01/2009; thửa 27 ông T2 chuyển nhượng cho ông Ngô Viết N1 được Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông N1 ngày 22/7/2008, ông N1 chuyển nhượng lại cho bà Đặng Thiếu D được xác nhận ngày 11/8/2017 tại trang 4 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đối với thửa đất số 39 yêu cầu chia thừa kế bằng hiện vật, còn thửa đất số 27 do bà N, ông T2 đã chuyển nhượng nên yêu cầu chia giá trị theo giá trị trường tại thời điểm giải quyết vụ án; rút yêu cầu chia số tiền bồi thường hỗ trợ thu hồi đất làm đường. Bị đơn cho rằng tài sản tranh chấp là của mình, do mình tạo lập, không phải là di sản thừa kế của ông Nguyễn Văn G và bà Nguyễn Thị T3 nên không đồng ý chia thừa kế theo yêu cầu của nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn H2.

Nhận thấy:

Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Nguyễn Thị N và ông Lương Văn T2 khai về nguồn gốc đất có sự mâu thuẫn nhau, khi thì khai do bà N khai hoang từ trước năm 1982 (BL 73, 139, 176), khi thì khai được bà L1 cho một phần (BL 174, 175); Phía nguyên đơn cho rằng bà L1 chỉ là người được gia đình ông Nguyễn Văn G cho ở nhờ (BL 196 và phiên tòa phúc thẩm) và việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bị đơn là không đúng mà người sử dụng đất và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phải là ông Nguyễn Văn G. Như vậy, cần phải làm rõ có việc bà L1 cho bà N, ông T2 quyền sử dụng đất như trình bày của bị đơn hay không, hay bà L1 là người được ông G, bà T3 cho ở nhờ như trình bày của phía nguyên đơn, bà L1 có liên quan gì trong vụ án này không để giải quyết. Tại phiên tòa phúc thẩm các đương sự xác nhận nghe người khác nói bà L1 đã chết nhưng không có tài liệu chứng minh. Những nội dung này chưa được làm rõ.

Các đương sự xác nhận tại thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Lương Văn T2 thì có ông Nguyễn Văn G và các con của ông G cùng sử dụng đất. Cần làm rõ tại cơ quan quản lý về đất đai việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho T2 có bảo đảm quy định pháp luật hay không, tại sao khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông T2 có ông G và các con của ông G cùng sử dụng đất nhưng lại cấp cho ông T2. Nội dung này chưa được làm rõ.

Tại phiên tòa phúc thẩm các đương sự xác nhận tại thửa đất thửa số 39, tờ bản đồ số 41, xã L, huyện Đ có phần mộ con của bà L1. Cần phải làm rõ phần mộ này là của ai, vị trí, diện tích mộ, những người có liên quan đến phần mộ này có yêu cầu gì trong vụ án hay không để giải quyết. Nội dung này chưa được làm rõ.

Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu chia thừa kế quyền sử dụng đất thửa số 39, quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn yêu cầu chia thừa kế quyền sử dụng đất thửa số 39 và yêu cầu chia giá trị quyền sử dụng thửa đất số 27. Cấp sơ thẩm không thụ lý yêu cầu của nguyên đơn về chia giá trị quyền sử dụng đất thửa số 27 nhưng vẫn giải quyết là không bảo đảm về thủ tục; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Văn H2 yêu cầu chia thừa kế quyền sử dụng đất thửa số 39 và chia giá trị quyền sử dụng đất thửa số 27 nhưng cấp sơ thẩm không xác định giá trị quyền sử dụng đất thửa số 27 để giải quyết là không bảo đảm.

Các đương sự xác nhận nhà của ông Nguyễn Văn H2 xây năm 2012 và nhà của ông Nguyễn Văn H xây năm 2006 đều là nhà tình thương (BL 129, 197 và phiên tòa phúc thẩm). Để giải quyết vụ án, cần làm rõ nhà tình thương do ai làm, thu thập hồ sơ đối với việc làm nhà tình thương để xác định tại thời điểm làm nhà tình thương thì bà N và ông T2 có ý kiến như thế nào đối với việc làm nhà tình thương này. Nội dung này cần được làm rõ.

Để bảo đảm giải quyết toàn diện, triệt để vụ án, cần phải thực hiện, làm rõ những nội dung yêu cầu nêu trên để giải quyết. Những nội dung yêu cầu này không thể thực hiện bổ sung tại phiên tòa phúc thẩm được nên hủy án sơ thẩm để giải quyết sơ thẩm lại vụ án.

[2] Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị L, ông Nguyễn Văn H, bà Nguyễn Thị Thùy T, bà Nguyễn Thị Mai T1 không phải chịu.

Vì các lẽ trên,

Căn cứ khoản 3 Điều 308, Điều 310 của Bộ luật tố tụng dân sự.

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Hủy bản án dân sự sơ thẩm số 18/2023/DS-ST ngày 26 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử vụ án “Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất” giữa nguyên đơn là bà Nguyễn Thị L, ông Nguyễn Văn H, bà Nguyễn Thị Thùy T, bà Nguyễn Thị Mai T1 với bị đơn là ông Lương Văn T2, bà Nguyễn Thị N.
  2. Chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

  3. Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị L, ông Nguyễn Văn H, bà Nguyễn Thị Thùy T, bà Nguyễn Thị Mai T1 không phải chịu. Hoàn trả cho bà Nguyễn Thị L số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0010355 ngày 23/6/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đất Đỏ; Hoàn trả cho ông Nguyễn Văn H số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0010356 ngày 23/6/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đất Đỏ; Hoàn trả cho bà Nguyễn Thị Mai T1 số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0010357 ngày 23/6/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đất Đỏ; Hoàn trả cho bà Nguyễn Thị Thùy T số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0010358 ngày 23/6/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đất Đỏ.
  4. Bản án có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh BR-VT;
  • - TAND H.Đất Đỏ;
  • - Chi cục THADS H.Đất Đỏ;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trương Văn Tâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 212/2023/DS-PT ngày 26/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU về tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 212/2023/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 26/12/2023
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bà L khởi kiện yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật di sản của ông G, bà T là quyền sử dụng đất thửa đất số 39 và 27, đối với thửa đất số 27 bà N đã chuyển nhượng yêu cầu chia bằng giá trị thị trường thời điểm giải quyết vụ án và chia số tiền Nhà nước hỗ trợ thu hồi đất, yêu cầu được hưởng suất thừa kế bằng 1/6 khối di sản.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger