|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI – TỈNH BẾN TRE |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 212/2024/DS-ST Ngày: 12-12-2024 V/v “Tranh chấp QSD đất” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Hạnh.
- Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Công Trung.
2. Bà Võ Thị Hiền.
- Thư ký phiên tòa: Ông Mai Thành Long – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ba Tri - Bến Tre.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri tham gia phiên tòa: Bà Dương Thy Trúc Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 12 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ba Tri xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 145/2021/TLST-DS ngày 07/5/2021 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 234/2024/QĐST - DS ngày 08 tháng 11 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 166/2024/QĐST - DS ngày 25 tháng 11 năm 2024 giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: Ông Trần Minh Đ, sinh năm 1961;
Địa chỉ: khu phố D, thị trấn B, huyện B, tỉnh Bến Tre;
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Tấn Đ1, sinh năm 1973. Địa chỉ: ấp A, xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre (có mặt).
-
Bị đơn: Ông Lê Văn L, sinh năm 1949;
Bà Nguyễn Thị A, sinh năm 1954 (có mặt);
Địa chỉ: khu phố F, thị trấn B, huyện B, tỉnh Bến Tre;
(Ông L ủy quyền cho bà A)
-
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Lê Văn P, sinh năm 1981 (có mặt);
- Chị Phạm Mộng T, sinh năm 1983 (vắng mặt);
- Bà Lê Thị P1, sinh năm 1958 (vắng mặt);
- Bà Mai Thị G, sinh năm 1971 (vắng mặt);
- Anh Lê Tuấn K sinh năm 1997 (vắng mặt);
- Anh Lê Thế K1, sinh năm 2001 (vắng mặt);
Địa chỉ: khu phố F, thị trấn B, huyện B, tỉnh Bến Tre;
Địa chỉ: khu phố F, thị trấn B, huyện B, tỉnh Bến Tre;
Địa chỉ: ấp V, xã V, huyện B, tỉnh Bến Tre.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 28/3/2021, đơn khởi kiện bổ sung ngày 13/3/2024 và trong quá trình tố tụng người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Thửa đất 568 tờ bản đồ số 01 diện tích 449m² tọa lạc thị trấn B do ông Trần Minh Đ đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, liền kề thửa đất này có thửa đất 233 tờ bản đồ số 01 do ông Lê Văn L sử dụng. Nguyên đơn xây hàng rào để sử dụng đất thì bị đơn ngăn cản và sử dụng lấn chiếm phần đất này nên nguyên đơn yêu cầu bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tháo dỡ di dời tài sản trên đất trả phần đất diện tích 341.8m² phần 2, 3 của họa đồ thuộc một phần thửa số 568 tờ bản đồ số 01.
* Theo tờ trình bày ngày 18/5/2024 của bị đơn ông Lê Văn L và trong quá trình tố tụng bị đơn bà Nguyễn Thị A và bà A đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của ông L trình bày:
Đất tranh chấp gia đình bà sử dụng liên tục từ ông ngoại của ông L là ông Nguyễn Văn N tới cha ông L là ông Lê Văn T1, ông T1 chết để lại cho ông Lê Văn L sử dụng đến nay. Theo bà nghe kể lại, ông bà của ông Trần Minh Đ cho ông bà của ông L ở đã lâu đời, trước đây không ai tranh chấp nhưng đến ông Đ thì ông Đ tranh chấp. Năm 2000 ông Đ đòi đất, gia đình bà không đồng ý; sau đó ông T1 thỏa thuận trả lại phần đất trống nhưng ông Đ cũng không sử dụng; ông Đ hứa làm sổ phần đất còn lại cho gia đình bà nhưng ông Đ không làm; ông Đ tự đi làm sổ của ông. Gia đình bà không có ký tứ cận nên không biết ông Đ có sổ đất. Việc ông Đ yêu cầu trả đất thì không đồng ý vì ông Đ làm sổ không cho gia đình bà biết.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Lê Văn P trình bày: Trên đất tranh chấp có chuồng bò của anh xây dựng khoảng năm 2000, chuồng bò xây trên phần đất ruộng, không phải xây trên phần đất của ông Đ. Trường hợp yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận thì anh cũng không đồng ý dỡ chuồng bò.
* Theo đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Phạm Mộng T trình bày: Chuồng bò trên đất tranh chấp do vợ chồng chị cất, anh P thay chị tham gia phiên giải quyết còn chị xin vắng mặt.
* Theo đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị P1 trình bày: Bà là con của ông Lê Văn T1, bà có gia đình riêng tư. Đất của ông T1 do anh là Lê Văn L sử dụng nên ông L biết rõ. Bà không biết rõ về đất này nên không yêu cầu gì, bà xin Tòa án cho bà được vắng mặt.
Tại Tòa:
* Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Nguồn gốc đất tranh chấp là của ông ngoại nguyên đơn là ông Chung Q, ông Q cho ông Lê Văn T1 sử dụng trước 1975 để trông coi đất. Năm 2006 nguyên đơn và ông T1 thoả thuận ông T1 trả lại thửa đất 568, nguyên đơn được những người thừa kế của ông Q đồng ý để nguyên đơn thừa kế đứng tên quyền sử dụng đất. Từ đó, nguyên đơn đăng ký kê khai và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 568 diện tích 449m². Thửa 568 của nguyên đơn là tách từ thửa 234 do ông Lê Văn T1 đứng tên trong sổ mục kê. Từ khi được trả đất, nguyên đơn không có sử dụng mà chỉ trông coi. Năm 2020 nguyên đơn phát hiện gia đình bị đơn xây chuồng bò lấn qua đất nguyên đơn, nguyên đơn có báo chính quyền địa phương đình chỉ việc xây chuồng bò, nhưng không có biên bản thể hiện việc đình chỉ. Theo hoạ đồ hiện trạng thửa đất tranh chấp thì phần 1 diện tích 65.5m² có một phần đất thuộc thửa 568 nhưng nguyên đơn không tranh chấp nên không yêu cầu đo đạc lại, nguyên đơn chỉ tranh chấp phần 2, 3 của họa đồ diện tích 341.8m². Nguyên đơn yêu cầu bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh P, chị T tháo dỡ di dời tài sản trả phần đất diện tích 341.8m² phần 2, 3 của hoạ đồ thuộc một phần thửa 568 tờ bản đồ số 01. Tài sản trên đất yêu cầu giải quyết theo quy định pháp luật.
* Bị đơn bà Nguyễn Thị A trình bày: Đất tranh chấp gia đình của bà sử dụng liên tục từ ông ngoại ông Lê Văn L là ông Nguyễn Văn N để lại cha ông L là ông Lê Văn T1, ông T1 chết để lại ông L sử dụng. Ông bà ông L đến ông L sử dụng đất đã trên 200 năm. Nguồn gốc đất và việc để lại đất từ ông N đến ông T1 và đến ông L thì không có giấy tờ. Đất tranh chấp cũng như đất gia đình bà đang ở không có giấy tờ nên bà không biết phần đất gia đình bà ở là thửa số mấy. Gia đình bà sử dụng đất đã nhiều năm không ai nói gì nhưng đến ông Đ thì ông Đ đòi. Khi ông T1 còn sống, ông Đ đòi đất thì ông T1 hứa trả phần đất trống và ông Đ hứa làm sổ phần đất còn lại cho gia đình bà nhưng ông Đ không thực hiện mà tự đi làm sổ thửa 568. Việc ông Đ làm sổ đất, gia đình bà không biết và không có ký tứ cận. Về chuồng bò, anh P xây trên đất ruộng thửa 233, không nằm trong thửa đất ông Đ đứng tên. Do người giáp ranh với thửa 233 ở xa và bà không có tiền nên bà không yêu cầu đo đạc để xác định ranh thửa 233 với thửa đất ông Đ đứng tên. Ông Đ làm sổ đất cho gia đình bà phần đất còn lại như đã hứa thì gia đình bà đồng ý trả cho ông Đ phần đất trống.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Lê Văn P trình bày: Chuồng bò là của vợ chồng anh xây khoảng năm 2000, năm 2017-2018 thì xây kiên cố như hiện nay và chuồng bò xây trên đất ruộng chứ không phải đất do ông Đ đứng tên. Từ khi vợ chồng anh cất chuồng bò không ai ý kiến gì. Trường hợp buộc phải di dời chuồng bò thì anh yêu cầu bồi thường.
* Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát:
Về thủ tục: Trong quá trình tố tụng, Thẩm phán đã tuân thủ và tiến hành đầy đủ trình tự, thủ tục tố tụng. Hội đồng xét xử tiến hành đúng trình tự thủ tục phiên tòa. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Mai Thị G, anh Lê Thế K1, anh Lê Tuấn K được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt nên việc đưa vụ án ra xét xử vắng mặt là đúng quy định.
Về nội dung: Nguồn gốc đất ông Lê Văn T1 thừa nhận đất của ông bà của nguyên đơn để lại; bị đơn thì cho rằng đất có từ ông N để lại cho ông T1, ông T1 để lại cho ông L nhưng bị đơn không xuất trình chứng cứ chứng minh lời trình bày về nguồn gốc của mình. Theo quy trình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông T1 thừa nhận đất của ông bà nguyên đơn, biên bản thoả thuận ông Đ nhận lại thửa 568. Về thủ tục đăng ký kê khai thửa 568 thì đã niêm yết công khai danh sách không ai khiếu nại nên nguyên đơn đủ điều kiện được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Căn cứ Điều 197, 199, 221 Bộ luật dân sự đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan di dời tài sản trả phần đất diện tích 341.8m² (phần 2, 3 của họa đồ) thuộc một phần thửa 568 tờ bản đồ số 01 tọa lạc thị trấn B cho nguyên đơn. Nguyên đơn có nghĩa vụ trả giá trị tài sản trên đất cho bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo giá Hội đồng định giá đã định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Qua nghiên cứu toàn bộ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và thẩm tra công khai các chứng cứ tại phiên tòa, qua kết quả tranh tụng, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị P1, chị Phạm Mộng T có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Bà Mai Thị G, anh Lê Thế K1, anh Lê Tuấn K vắng mặt không lý do. Do đó, việc đưa vụ án ra xét xử vắng mặt của các đương sự trên là phù hợp với quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về nội dung: Nguyên đơn ông Trần Minh Đ yêu cầu bị đơn ông Lê Văn L, bà Nguyễn Thị A và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Lê Văn P, chị Phạm Mộng T tháo dỡ di dời tài sản trên đất trả phần đất theo đo đạc diện tích 341.8m² (phần 2, 3 của họa đồ) thuộc một phần thửa số 568 tờ bản đồ số 01 tọa lạc thị trấn B, huyện B. Hội đồng xét xử xét thấy:
Nguyên đơn cho rằng đất có nguồn gốc của ông ngoại là Chung Q; bị đơn cho rằng đất có nguồn gốc của ông ngoại của ông Lê Văn L là ông Nguyễn Văn N để lại cho ông Lê Văn T1. Tại biên bản thỏa thuận ngày 01/10/2006 thể hiện ý kiến của ông Lê Văn T1 “Trước đây ông có trông côi giữ và đồng ý trả lại phần đất trống thửa 568 tờ bản đồ số 01. Còn lại phần đất ông và con ông đã xây nhà ở thuộc thửa 234 tờ 1 thì để lại cho ông ở”. Bị đơn cho rằng đất có nguồn gốc ông Nguyễn Văn N nhưng không có chứng cứ chứng minh.
Về quá trình kê khai đất: Thửa đất 568 được tách từ thửa 234 do ông Lê Văn T1 đứng tên trong sổ mục kê, ông Đ kê khai thửa 568 năm 2007 trên cơ sở biên bản thỏa thuận giữa ông T1 và ông Đ vào ngày 01/10/2006. Theo đơn xin thôi nhận đất ngày 28/02/2007 ông Đ được những người thừa kế của ông Chung Q đồng ý để ông Đ thừa kế nên ông Đ kê khai và đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Về họa đồ hiện trạng thửa đất tranh chấp: Bị đơn cho rằng chuồng bò xây trên thửa đất ruộng do ông Lê Văn T1 đứng tên tức là phần 1, 2 của họa đồ thuộc một phần thửa 233 (thửa mới là thửa 34). Theo công văn số 2531 ngày 17/8/2023 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện B trả lời phần số 1 của họa đồ thuộc một phần thửa 568 tờ bản đồ số 01 và một phần thửa 233 tờ bản đồ số 01. Nguyên đơn không tranh chấp diện tích 65.5m² phần 1 của họa đồ nên không yêu cầu đo đạc lại. Công văn 1854 ngày 20/6/2023 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện B trả lời việc lồng ghép không thực hiện được; bị đơn cho rằng phần số 2 của họa đồ thuộc một phần thửa 233 tờ bản đồ số 01 nhưng không có chứng cứ chứng minh.
Về quá trình sử dụng đất và tài sản trên đất: Trước năm 2006 ông Lê Văn T1 là người sử dụng đất, sau khi ông T1 thỏa thuận trả đất cho ông Đ thì ông Đ không sử dụng. Khi ông T1 chết thì con ông T1 là ông Lê Văn L sử dụng đến năm 2020 ông Đ đến sử dụng đất thì phát sinh tranh chấp. Trên đất tranh chấp có một phần chuồng bò của anh Lê Văn P, chị Phạm Mộng T; anh P cho rằng chuồng bò cất khoảng năm 2000 và cất lại kiên cố năm 2017-2018, nguyên đơn cho rằng chuồng bò cất năm 2020 nhưng đôi bên không có chứng cứ chứng minh. Và trên đất có 01 cây xoài, 01 cây dừa và 01 bụi tre đã lâu năm.
Từ phân tích trên, xét thấy phần đất tranh chấp diện tích 341.8m² (phần 2, 3 của họa đồ) thuộc một phần thửa 568 có nguồn gốc của ông bà nguyên đơn. Tại biên bản thỏa thuận ngày 01/10/2006, ông Lê Văn T1 đồng ý trả lại cho ông Trần Minh Đ thửa đất 568; từ đó ông Đ kê khai và đứng tên quyền sử dụng vào ngày 16/7/2007. Bị đơn không có chứng cứ chứng minh nguồn gốc đất của ông Nguyễn Văn N để lại. Bị đơn không có chứng cứ chứng minh phần số 2 của họa đồ thuộc một phần thửa 233 (một phần thửa mới 34) do ông Lê Văn T1 đứng tên. Căn cứ vào Điều 197, 199, 221 Bộ luật dân sự nguyên đơn khởi kiện là có cơ sở nên được chấp nhận. Trên phần đất tranh chấp có cây trồng lâu năm: 01 cây xoài, 01 cây dừa, 01 bụi tre và 01 phần chuồng bò; nguyên đơn ông Đ có nghĩa vụ bồi thường cho bị đơn ông Lê Văn L, bà Nguyễn Thị A giá trị cây xoài 1.320.000 đồng, cây dừa 1.650.000 đồng, bụi tre 286.000 đồng. Và bồi thường cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Lê Văn P, chị Phạm Mộng T một phần giá trị chuồng bò là 4.998.000 đồng.
[3] Xét quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[4] Về chi phí tố tụng (đo đạc, định giá, xem xét thẩm định, thu thập quy trình): 6.834.000 đồng nguyên đơn, bị đơn phải chịu. Bị đơn có nghĩa vụ hoàn lại cho nguyên đơn 3.417.000 đồng (Ba triệu bốn trăm mười bảy ngàn đồng).
[5] Về án phí DS – ST: Nguyên đơn được chấp nhận yêu cầu khởi kiện nên bị đơn phải chịu tiền án phí (không có giá ngạch) là 300.000 đồng nhưng bị đơn thuộc diện người cao tuổi nên được miễn. Án phí (bồi thường tài sản trên đất) có giá ngạch: 8.254.000 đồng x 5% = 412.700 đồng theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 197, 199, 221 Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Minh Đ. Buộc bị đơn ông Lê Văn L, bà Nguyễn Thị A và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Lê Văn P, chị Phạm Mộng T tháo dỡ di dời tài sản trên đất trả phần đất diện tích qua đo đạc là 341.8m² (phần 2, 3 của họa đồ) thuộc một phần thửa số 568 tờ bản đồ số 01 tọa lạc thị trấn B, huyện B (có họa đồ kèm theo).
- Nguyên đơn ông Trần Minh Đ có nghĩa vụ bồi thường cho bị đơn ông Lê Văn L, bà Nguyễn Thị A giá trị cây xoài 1.320.000 đồng, cây dừa 1.650.000 đồng, bụi tre 286.000 đồng. Tổng cộng: 3.256.000 đồng (Ba triệu hai trăm năm mươi sáu ngàn đồng).
- Nguyên đơn ông Trần Minh Đ có nghĩa vụ bồi thường cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Lê Văn P, chị Phạm Mộng T một phần giá trị chuồng bò là 4.998.000 đồng (Bốn triệu chín trăm chín mươi tám ngàn đồng).
- Về chi phí tố tụng (đo đạc, định giá, xem xét thẩm định, thu thập quy trình): 6.834.000 đồng nguyên đơn, bị đơn phải chịu. Bị đơn ông Lê Văn L, bà Nguyễn Thị A có nghĩa vụ hoàn lại cho nguyên đơn ông Trần Minh Đ là 3.417.000 đồng (Ba triệu bốn trăm mười bảy ngàn đồng).
-
Về án phí DS-ST: 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) bị đơn ông Lê Văn L và bà Nguyễn Thị A phải nộp nhưng thuộc diện người cao tuổi nên được miễn án phí theo điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Nguyên đơn ông Trần Minh Đ chịu án phí 412.700 đồng (Bốn trăm mười hai ngàn bảy trăm đồng) và được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 600.000 đồng (Sáu trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tiền số 0007339 ngày 15/4/2021 và biên lai thu tiền số 0001162 ngày 08/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Tri. Ông Trần Minh Đ còn nhận lại 187.300 đồng (Một trăm tám mươi bảy ngàn ba trăm ngàn đồng) tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Tri.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Các đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ để yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xét xử lại.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Trần Thị Hồng Hạnh |
Bản án số 212/2024/DS-ST ngày 12/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI – TỈNH BẾN TRE về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 212/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/12/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI – TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp QSDĐ
